Năng lực tiếp cận công nghệ thông tin và các yếu tố tác động

07/04/2020

 

            Quan niệm và nội hàm về năng lực đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin và chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập, làm nền tảng cho những nghiên cứu sau này. Cho đến hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực tùy theo góc độ tiếp cận. Có quan niệm cho rằng năng lực là một tổ hợp phẩm chất tâm lý cá nhân, là tổng hợp những thuộc tính độc đáo của con người; năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ (Pham Tất Dong, 1989, tr.72; Pham Minh Hạc, 1992, tr. 146; Bernard, 1997  ;  Lê Thị Bừng và Nguyễn Thị Vân Hương, 2003, tr.10)[1]. Hay “năng lực là một tập hợp các kỹ năng, kiến thức, hành vi và thái độ được cá nhân tích lũy và sử dụng để đạt được kết quả theo yêu cầu công việc” (Bernard, 1997)[2];  Như vậy có thể thấy, năng lực ở mỗi người là biểu hiện của một số tố chất như tư tưởng chính trị, tri thức, trí lực, tâm lý, thân thể; hay cụ thể là sự tổ hợp những phẩm chất về thể chất, trí tuệ và tác phong, tinh thần– ý thức trong lao động của từng cá nhân để hoàn thành công việc. Năng lực có được thông qua giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe và được nâng cao trong suốt quá trình sống và làm việc của con người.

            Năng lực tiếp cận công nghệ thông tin là một dạng năng lực chuyên môn. Năng lực chuyên môn/chức năng: các kiến thức, kỹ năng và khả năng chuyên môn gắn với lĩnh vực cụ thể có vai trò thiết yếu trong việc hoàn thành các nhiệm vụ chuyên môn[3]. Theo cách hiểu này, năng lực tiếp cận công nghệ thông tin được hiểu là tập hợp các kiến thức, kĩ năng và khả năng chuyên môn của con người nói chung, gắn với lĩnh vực công nghệ thông tin. Năng lực này bao gồm các yếu tố giúp con người nắm bắt, làm chủ công nghệ thông tin. Nói cách khác, năng lực này bao gồm các yếu tố của một cá nhân dẫn đến mức độ thành thạo sử dụng các phương pháp khoa học, công nghệ, các công cụ kĩ thuật hiện đại nhằm tổ chức, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin. Có năng lực tiếp cận công nghệ thông tin, người đó có thể tự xử lý, giải quyết và làm chủ các vấn đề liên quan đến khai thác và sử dụng công nghệ thông tin trong bối cảnh phát triển mạnh mễ của công nghệ thông tin hiện nay.

            Có nhiều yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển năng lực tiếp cận công nghệ thông tin của một con người nói chung  trong đó các yếu tố tác động lớn đến quá trình này bao gồm: sức khỏe; trình độ cá nhân; tính tích cực chủ động của mỗi người và điều kiện kinh tế của họ.

            Sức khỏe luôn là vấn đề trước tiên khi nói tới năng lực của con người. Có sức khỏe mới có thể thực hiện được các hoạt động từ học tập cho tới lao động nói chung, thực hiện các thao tác và kĩ năng nói riêng. Theo WHO, 1946: “Sức khỏe là trạng thái hoàn toàn khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ đơn giản là không có bệnh”. Các yếu tố chính tác động đến sức khỏe gồm: yếu tố sinh học, yếu tố môi trường, yếu tố dinh dưỡng và lối sống, yếu tố tổ chức y tế[4]

            Trình độ cá nhân phụ thuộc nhiều yếu tố giáo dục nghĩa là trình độ này con người có thể đạt được ở các mức độ khác nhau tùy thuộc vào quá trình đào tạo hay tự đào tạo của mỗi người. Trình độ cá nhân bao gồm kĩ năng sử dụng máy tính và các thiết bị thông tin; kĩ năng sử dụng phần mềm gọi chung là kĩ năng tin học và năng lực thông tin.

            Các kĩ năng tin học cơ bản nói chung bao gồm: Biết cách nối dây các thiết bị máy tính thông dụng như nối màn hình vào CPU, nối bàn phím, chuột vào CPU; nối nguồn; nối một thiết bị bất kỳ vào máy tính mà chỉ cần đọc hướng dẫn kèm theo; biết cách bảo mật các thông tin trên thiết bị máy tính, thiết bị di động, nghĩa là nắm được các nguyên tắc về an toàn thông tin cơ bản; sử dụng thông thạo một chương trình diệt virus nổi tiếng như Avira Free Antivirus, AVG Free Antivirus, Avast Free Antivirus; nắm các nguyên tắc cơ bản về bảo mật các tài khoản online và thông tin cá nhân, tập thói quen sử dụng internet an toàn để tránh bị đánh cắp các thông tin online phục vụ các ý đồ không tốt; biết cách sử dụng email hiệu quả bởi nó hiện là phương tiện liên lạc thông dụng nhất; biết cách sao lưu dữ liệu bằng cách chép dữ liệu vào ổ cứng rời định kỳ hoặc sử dụng các dịch vụ đám mây như Google Drive, Dropbox, OneDrive; biết sử dụng phần mềm word và  excel thành thạo; ngoài phần mềm cơ bản này, cần biết các phần mềm khác như powerpoint, picture manager, access, các phần mềm chuyên môn, các phần mềm lập trình khác tùy theo công việc.

            Theo Hiệp hội các thư viện Đại học và thư viên nghiên cứu Mỹ (ACRL, 1989), năng lực thông tin là sự hiểu biết và một tập hợp các khả năng cho phép các cá nhân có thể “nhận biết thời điểm cần thông tin và có thể định vị, thẩm định và sử dụng thông tin cần thiết một cách hiệu quả”. McKie, trong tài liệu của Cheek và các tác giả khác (1995, tr. 2) đã khẳng định “năng lực thông tin là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin, tìm kiếm, tổ chức, thẩm định và sử dụng thông tin trong việc ra quyết định một cách hiệu quả, cũng như áp dụng những kỹ năng này vào việc tự học suốt đời”[5]. Năng lực thông tin là kỹ năng then chốt, cần thiết trong việc nghiên cứu bất kỳ lĩnh vực nào, là điều kiện tiên quyết cho việc học tập suốt đời, cho phép người học tham gia một cách chủ động. trở thành người có khả năng tự định hướng, tự kiểm soát tốt hơn quá trình học cũng như làm việc của mình[6]. Một người được cho là có đầy đủ năng lực thông tin là người có khả năng  nhận dạng được nhu cầu tin của bản thân; xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần; thẩm định thông tin và nguồn của chúng một cách tích cực và hiệu quả; phân loại, lưu trữ, vận dụng và tái tạo nguồn thông tin được thu thập hay tạo ra; biến nguồn thông tin được lựa chọn thành cơ sở tri thức; sử dụng thông tin vào việc học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn đề, và ra quyết định một cách có hiệu quả; nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa trong việc sử dụng thông tin; truy cập và sử dụng các nguồn thông tin hợp pháp và hợp đạo đức; sử dụng thông tin và tri thức để thực hiện các quyền công dân và trách nhiệm xã hội; trải nghiệm NLTT như một phần của học tập độc lập cũng như tự học suốt đời (Viện Năng lượng thông tin Úc và New Zealand)[7]

            Tính tích cực là “chủ động, hướng hoạt động nhằm tạo ra những thay đổi, phát triển”[8], biểu hiện trong thái độ, hành vi, cử chỉ của con người. Trong việc tiếp cận công nghệ thông tin, tính tích cực thể hiện ở sự chủ động, ý thức, tinh thần, mong muốn, nguyện vọng được học tập, làm việc với thiết bị công nghệ, làm các công việc liên quan đến kĩ thuật, công nghệ, các phần mềm công nghệ thông tin, tìm hiểu các kiến thức liên quan đáp ứng yêu cầu công việc; nghiên cứu, ứng dụng, sáng tạo các phần mềm, thiết bị công nghệ thông tin v.v… 

            Tính tích cực có vai trò quan trọng trong việc tạo, duy trì và nâng cao năng lực nói chung cho con người. Nhờ tính tích cực của cá nhân mà mỗi người có thể tự giáo dục, đào tạo, tự nỗ lực, rèn luyện để hình thành, duy trì, hoàn thiện và phát triển năng lực của mình một cách có ý thức trong hoạt động thực tiễn, phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Thực tế cho thấy, ngay từ việc học, nếu bản thân người học không chủ động, tích cực học tập, mở rộng thêm các kiến thức bằng cách tự học thì chất lượng học không thể cao kể cả khi người đó được học trong môi trường học tốt.

            Điều kiện hoàn cảnh kinh tế của NKT là yếu tố tác động lớn đến năng lực tiếp cận công nghệ thông tin của con người. Những người có nguồn lực mua máy tính có tốc độ nhanh hoặc băng thông rộng tại nhà, bật chế độ chặn các cửa số quảng cáo hay mua các phần mềm diệt virut tránh những vấn đề do virut gây ra. Nhưng đối với những người gặp khó khăn về kinh tế có thể gặp nhiều áp lực cho họ và có thể cản trở họ thoải mái với công nghệ thông tin và truyền thông.

            Có thể nói, trong các yếu tố trên, tính tích cực chủ động và điều kiện kinh tế được coi là các yếu tố then chốt tác động lớn đến năng lực tiếp cận công nghệ thông tin của con người. Khi tính tích cực chủ động được nâng cao, và điều kiện kinh tế cho phép, con người sẽ có cơ hội để nâng cao được trình độ cá nhân thông qua việc giáo dục và tự giáo dục. Có điều kiện kinh tế, con người cũng có cơ hội trong việc nâng cao sức khỏe thông qua việc ăn uống lành mạnh hơn, khám chữa bệnh chủ động, kịp thời và hiệu quả hơn. Do vậy, để nâng cao năng lực tiếp cận công nghệ thông tin nói chung, cần sự quan tâm của các cấp để nâng cao chính tính chủ thể của con người đồng thời, tạo điều kiện nâng cao điều kiện kinh tế của họ.

 

Tài liệu tham khảo

 

1.      Trần Dương. Vai trò của năng lực thông tin đối với sinh viên đại học (Bài viết đăng trong Hội thảo thư viện toàn quốc “Nền tảng CNTT-TT trong hoạt động thông tin thư viện phục vụ đổi mới giáo dục đại học cao đẳng trong thời kỳ hội nhập”) http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/11385/1/Ky%20yeu%20Hoi%20thao%20CDSP%20Hue%203_6_1600018.pdf

 

2.      Nghiêm Xuân Huy.  Phát triển năng lực thông tin cho người dùng tin- một cách tiếp cận để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin phục vụ nghiên cứu giáo dục đào tạo

https://hvtc.edu.vn/tabid/558/catid/143/id/17007/Phat-trien-nang-luc-thong-tin-cho-nguoi-dung-tin--mot-cach-tiep-can-de-toi-uu-hoa-hieu-qua-su-dung-cac-san-pham-va-dich-vu-thong-tin-phuc-vu-nghien-cuu-giao-duc-dao-tao/Default.aspx, đăng ngày Thứ tư, 29/10/2014 - 13:21

3.      Lê Thị Mỹ Linh (2006). Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực theo cách tiếp cận dựa trên năng lực// Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 113, tr.38-41.

4.      Dương Thị Hoài Nhung, Vũ Thị Hương Giang (2017). Mô hình năng lực trong phát triển và quản lý nguồn nhân lực// Tạp chí Khoa học-Đại học Đồng Nai, số 4

5.      Ngô Thị Nụ (2018), Vấn đề phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. ( Luận án Tiến sĩ)

 

Các trang web:

 

1.      http://vnscience.com/nang-luc-thong-tin/

2.      https://baocaototnghiep.net/nghien-cuu-ve-cac-yeu-anh-huong-den-suc-khoe/

 



[1] Dẫn theo: Ngô Thị Nụ (2018), Vấn đề phát triển năng lực cá nhân con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. ( Luận án Tiến sĩ)

[2] Dẫn theo: Lê Thị Mỹ Linh (2006). Xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực theo cách tiếp cận dựa trên năng lực// Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 113, tr.38-41.

[3] Tham khảo: http://tapchikhoahoc.dnpu.edu.vn/UserFiles/Docs/TapChi/2017/so%2004/2.%20Duong%20Thi%20Hoai%20Nhung_11-22.pdf

[4] Tham khảo: https://baocaototnghiep.net/nghien-cuu-ve-cac-yeu-anh-huong-den-suc-khoe/

[6] Tham khảo https://hvtc.edu.vn/tabid/558/catid/143/id/17007/Phat-trien-nang-luc-thong-tin-cho-nguoi-dung-tin--mot-cach-tiep-can-de-toi-uu-hoa-hieu-qua-su-dung-cac-san-pham-va-dich-vu-thong-tin-phuc-vu-nghien-cuu-giao-duc-dao-tao/Default.aspx, đăng ngày Thứ tư, 29/10/2014 - 13:21

[7] Dẫn theo Trần Dương/ Vai trò của năng lực thông tin đối với sinh viên đại học (Bài viết đăng trong Hội thảo thư viện toàn quốc “Nền tảng CNTT-TT trong hoạt động thông tin thư viện phục vụ đổi mới giáo dục đại học cao đẳng trong thời kỳ hội nhập”)

[8] Nguyễn Như Ý (1999). Đại từ điển tiếng Việt. Nxb Văn hóa thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 1627.