Bảo vệ đa dạng văn hóa dân tộc Chứt vì mục tiêu phát triển con người

16/03/2020

BẢO VỆ ĐA DẠNG VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC CHỨT

VÌ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI 1

TRỊNH THỊ KIM NGỌC*

 

Đặt vấn đề

Dân tộc Chứt là dân tộc xếp thứ mười ba trong số 16 dân tộc có dân số ít nhất và cũng là dân tộc bước ra khỏi cuộc sống du canh du cư muộn nhất so với các dân tộc khác ở nước ta. Do một thời gian dài sống biệt lập giữa núi rừng, dân tộc này còn bảo lưu được nhiều nét văn hóa của người Việt thời kỳ hoang dã. Đặc biệt, mặc dù chưa có chữ viết, nhưng trong ngôn ngữ của người Chứt vẫn còn bảo lưu nhiều yếu tố của tiếng Việt cổ, thời kỳ chưa phân tách tiếng Việt và tiếng Mường. Với đặc trưng văn hóa ngôn ngữ nêu trên, các nhà khoa học gọi cộng đồng người Chứt là “những bảo tàng sống” để nghiên cứu lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ của người Việt bản địa. Từ tiếp cận của khoa học phát triển, tác giả bài viết coi những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Chứt chính là các giá trị quý báu của dân tộc ta, góp phần tạo nên bức tranh đa sắc màu của văn hóa các dân tộc Việt Nam. Và việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng người Chứt, dù còn sót lại không nhiều, cũng thể hiện rõ sự tôn trọng và bảo vệ đa dạng văn hóa tộc người ở nước ta. Chủ trương và việc làm đó còn là một cách thể hiện sinh động nhất nỗ lực đảm bảo quyền văn hóa vì mục tiêu phát triển con người (PTCN) của Đảng ta đối với dân tộc Chứt nói riêng trong sự phát triển chung của các dân tộc thiểu số (DTTS) nước ta.

1. Đa dạng văn hóa - điều kiện cần thiết cho phát triển 

1.1.   Văn hóa và đa dạng văn hóa nhìn từ tiếp cận phát triển

1.1.1. Văn hóa đồng nghĩa với sự phát triển

Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa và có lịch sử. Ban đầu, khởi nguồn từ tiếng La-tinh “cultus” và trong nhiều ngôn ngữ, khái niệm văn hóa đều chỉ “sự gieo trồng”. Theo nghĩa đen, “gieo trồng” cũng chính là sự ươm mầm, vun đắp và chăm sóc để “cây trồng” sớm ra hoa kết quả. Văn hóa không tách rời sự sống con người và xã hội loài người, nên theo nghĩa bóng, đó chính là sự chăm lo, bồi dưỡng giáo dục, để làm giàu hơn cho tâm hồn và trí tuệ con người. Nhờ đó, trải qua hàng triệu năm, nhân loại đã tiến hóa vượt bậc từ người khôn (Homo sapiens), đến người đứng thẳng (Homo erectus), để trở thành con người hiện đại có trí tuệ và tâm hồn hiện nay. Từ ý nghĩa từ nguyên học, chúng ta có thể xem văn hóa đồng nghĩa với sự hoàn thiện và phát triển không ngừng của con người và xã hội loài người.

Được coi là người đại diện cho học thuyết tiến hóa văn hóa, E.B. Tylor (1832 - 1917) đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong việc xây dựng khái niệm khoa học đầu tiên về văn hóa, khi ông coi văn hóa như là một di sản của lịch sử và xã hội loài người: “Văn hóa hay văn minh, theo nghĩa rộng về tộc người học, nói chung, bao gồm có tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, một số năng lực và thói quen khác được con người tích lũy với tư cách là thành viên xã hội”2. Định nghĩa trên của E.B. Tylor về văn hóa đã từng được coi là một “Bách khoa thư về văn hóa” bởi nó đã đề cập tới hầu hết các lĩnh vực sáng tạo của con người.

Văn hóa luôn gắn liền với con người và cộng đồng của họ, gần 100 năm trước, nhà Nhân chủng học Mỹ - F. Boas cũng đã có một định nghĩa tổng quát về văn hóa, làm cơ sở cho những nhận định của chúng tôi sau này: “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân, cấu thành nên một nhóm người, vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau”.

Không phủ nhận những khái niệm văn hóa của nhiều thế hệ học giả tiền bối, từ quan điểm giá trị, Federic Mayor - cựu Tổng Giám đốc UNESCO, đã đưa ra trong Tuyên ngôn của tổ chức mình về một khái niệm văn hóa như một quá trình tự hoàn thiện không ngừng, tạo nên một hệ thống các giá trị giúp các dân tộc khẳng định bản sắc riêng: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại…; qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng của mình"3.

Như vậy, có thể coi văn hóa như một tập hợp những “trầm tích” được đúc kết và tích lũy bởi sự sáng tạo không ngừng của con người trong hoạt động cộng đồng của họ, nhờ đó con người ngày càng tích lũy cho mình những năng lực cao hơn như suy nghĩ, hành động để thích nghi tốt hơn và phát triển. Cùng với nghĩa từ nguyên học đã luận giải ở trên, bản thân văn hóa vừa thể hiện sự phát triển của con người, vừa được tạo nên bởi con người nhằm phục vụ cho sự phát triển của chính con người. Đến lượt mình, con người luôn là chủ thể mang văn hóa, vừa là chủ thể đúc kết, tạo dựng, bảo tồn và phát triển văn hóa, vừa trở thành mục tiêu của phát triển con người và văn hóa ở mức ngày càng hoàn thiện hơn. 

1.1.2. Đa dạng văn hóa - điều kiện cần thiết để phát triển

Cho dù đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, từ nhiều quan điểm khác nhau, các học giả vẫn luôn thống nhất với nhau trong quan điểm coi đa dạng văn hóa là một “đặc trưng của xã hội loài người”. Chúng ta khó có thể hình dung thế giới này sẽ trở nên đơn điệu và buồn tẻ biết chừng nào khi tất cả chúng ta đều giống nhau trong cộng đồng nhân loại? Hơn nữa, trong giai đoạn hội nhập hiện nay, cục diện thế giới sẽ gặp phải bi kịch như thế nào khi loài người giống nhau, nhưng lại không thể hiểu biết lẫn nhau, hoặc chí ít là không có thiện chí hiểu biết lẫn nhau? Thậm chí có các cộng đồng còn xung đột lẫn nhau bởi chính những nét giống nhau đó…

Nhưng thế giới thật kỳ diệu bởi ở đó có các dân tộc với tư cách là các cộng đồng văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng. Thật dễ hiểu khi các cộng đồng sống trong các khu vực địa lý và môi trường tự nhiên khác nhau thì họ có nguồn gốc, lịch sử phát triển và sinh kế,…cũng khác nhau. Điều đó đã dẫn tới nhận thức về văn hóa và cách thức thực hành văn hóa của họ cũng khác nhau. Chính những yếu tố trên đã tạo nên những đặc trưng riêng về tiếng nói, chữ viết, thiết chế xã hội, tư tưởng, đạo đức, lễ nghi, tín ngưỡng, tôn giáo,… Những điều đó cũng đồng thời tạo nên sự đa dạng, phong phú của văn hóa dân tộc trong bức tranh văn hóa nhân loại.

Chính vì vậy, UNESCO đã nêu bật vai trò của đa dạng văn hóa như một điều kiện cần thiết cho sự phát triển của con người và các cộng đồng trong thế giới ngày nay: “Văn hóa có nhiều hình thức, thay đổi theo thời gian và không gian. Sự đa dạng này thể hiện trong sự độc đáo và sự đa nguyên của các bản sắc đặc trưng cho các nhóm và các xã hội cấu thành nhân loại. Đa dạng văn hóa là khởi nguồn cho mọi giao lưu, đổi mới và sáng tạo, đa dạng văn hóa cũng cần cho nhân loại như đa dạng sinh học cho thiên nhiên. Vì thế, đa dạng văn hóa chính là di sản chung của nhân loại, cần được công nhận và khẳng định vì lợi ích của các thế hệ hôm nay và mai sau”4. Đa dạng văn hóa, do đó, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc khẳng định sự tồn tại và phát triển của một cộng đồng với những năng lực vốn có của họ. Như vậy, có thể khẳng định rằng tính đa dạng của văn hóa luôn được coi là điều kiện cần thiết cho phát triển nói chung và PTCN nói riêng. Trong trường hợp đang nghiên cứu, sự đa dạng văn hóa của dân tộc Chứt lại càng có ý nghĩa khoa học và lịch sử to lớn.

 1.2. Đa dạng văn hóa và quyền con người

1.2.1. Đa dạng văn hóa gắn liền với các nội hàm về quyền văn hóa

Theo quan điểm của UNESCO, đa dạng văn hóa luôn gắn liền với các nội hàm cơ bản của quyền con người; việc tôn trọng và bảo vệ đa dạng văn hóa là một biểu hiện sống động nhất của việc thực thi quyền con người. Đây là vấn đề mang tính toàn cầu, là hai mặt không thể tách rời và luôn phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình phát triển của một cộng đồng quốc gia, cũng như một cộng đồng với tư cách là một tộc người. Trong đó, quyền văn hóa được xem là một trong những quyền cơ bản, là một bộ phận của quyền con người, có ý nghĩa đối với cả cá nhân và cộng đồng.

Theo chúng tôi, do khái niệm quyền con người thường mang nghĩa rộng, thể hiện ở nhiều lĩnh vực quyền, nên việc định hình một khái niệm về quyền văn hóa sẽ mang ý nghĩa thao tác rõ rệt hơn, đồng thời cũng thiết thực hơn khi xem xét các vấn đề cụ thể trong lĩnh vực văn hóa. Đồng tình với ý kiến của nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Hoài Sơn (Viện Văn hóa Nghệ thuật, Bộ Văn hóa)5, chúng tôi cũng đưa ra định nghĩa về Quyền văn hóa như sau: Quyền văn hóa trước hết là quyền được hưởng thụ văn hóa với tư cách là các thành tựu sáng tạo của con người. Quyền văn hóa cũng chính là quyền được thể hiện và thực hành văn hóa của các cá nhân và cộng đồng theo cách riêng của mình, có nghĩa là họ có quyền được thể hiện khả năng sáng tạo của bản thân với tư cách là chủ thể của văn hóa và chủ thể phát triển. Trên cơ sở đó, con người khẳng định bản sắc văn hóa của mình và cộng đồng mình, như một nét riêng trong bức tranh đa dạng văn hóa của nhân loại. Với ý nghĩa nhân văn trên, quyền văn hóa hiện nay đang được các chính phủ ở các quốc gia, các tổ chức quốc tế và giới học giả đặc biệt quan tâm nhằm khuyến khích bảo vệ sự đa dạng văn hóa của các dân tộc như những giá trị đích thực của cộng đồng họ và cũng như một nguồn vốn văn hóa của toàn nhân loại.

Về nội dung này, Điều 4 Tuyên ngôn toàn cầu về Đa dạng văn hóa (2001), UNESCO cũng đã khẳng định: “Bảo vệ đa dạng văn hóa là một yêu cầu đạo đức, không tách rời khỏi việc tôn trọng nhân phẩm con người. Nó bao gồm việc cam kết tôn trọng các quyền con người và các quyền tự do cơ bản khác, đặc biệt là các quyền của những người thuộc các DTTS và các quyền của những cư dân bản địa. Không ai có thể lấy sự đa dạng văn hóa để xâm phạm các quyền con người - Điều này đã được luật pháp quốc tế bảo đảm…”6. Khi chúng ta tôn trọng sự khác biệt văn hóa, cũng chính là sự thể hiện tinh thần ủng hộ cho sự phát triển đa dạng, bình đẳng về văn hóa... của các cộng đồng. Để trong xã hội hiện đại, sẽ không còn một sự kỳ thị rằng “nền văn hóa” này tiến bộ hơn, còn nền văn hóa kia thì lại bị coi là lạc hậu, hoang dã,... Ngược lại, việc thực thi hiệu quả các quyền con người cũng chính là những điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại và phát huy các tác dụng của đa dạng văn hóa trong phát triển.

Sự nảy nở và thăng hoa của đa dạng văn hóa các cộng đồng đòi hỏi phải được dựa trên cơ sở thực hiện đầy đủ các quyền văn hóa của người dân như đã được quy định tại Điều 27 Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người và các Điều 13, 15 Công ước quốc tế về các Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Nhờ đó, các cộng đồng được thể hiện, được sáng tạo và truyền bá văn hóa cộng đồng bằng ngôn ngữ mẹ đẻ; có quyền được hưởng một nền giáo dục có chất lượng trên cơ sở tôn trọng bản sắc văn hóa; đồng thời có thể tự do tham gia vào đời sống văn hóa theo nguyện vọng và sự lựa chọn ưu tiên của từng cá nhân trong sự tôn trọng các quyền tự do cơ bản của con người.

Để thực hiện được điều đó, Điều 2, Công ước UNESCO (2001) về Đa dạng văn hóa đã khẳng định: “Sự đa dạng văn hóa chỉ có thể được bảo vệ và thúc đẩy nếu quyền con người và những sự tự do cơ bản được đảm bảo, ví dụ tự do biểu đạt, tự do thông tin và giao tiếp, cũng như khả năng của mỗi cá nhân tự chọn những cách biểu đạt văn hóa phù hợp theo cách riêng của mình”7

Ở đây, chúng ta thấy rất rõ sự gặp gỡ giữa quan điểm của hai tổ chức quốc tế lớn nhất và có uy tín nhất hiện nay là UNESCO và UNDP trong việc bảo vệ và tôn trọng đa dạng văn hóa với phát triển con người, được thể hiện ở chỗ: Chính quá trình vận động tạo nên sự đa dạng văn hóa đã không ngừng nâng cao năng lực phát triển cho chủ thể của nó là con người và cộng đồng của họ, góp phần mở rộng phạm vi lựa chọn cho tất cả mọi người. Với chức năng đó, văn hóa với sự đa dạng của mình trở thành một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển - một sự phát triển không chỉ được hiểu theo nghĩa tăng trưởng kinh tế, mà còn là phương tiện để con người có thể vươn tới một cuộc sống mãn nguyện về trí tuệ, tình cảm, đạo đức với một cuộc sống thực sự có chất lượng cao, xứng đáng với con người.

Như vậy, chúng ta thấy văn hóa truyền thống của mỗi tộc người được hình thành và phát triển một cách thích ứng trong bối cảnh lịch sử xã hội, kinh tế, chính trị và điều kiện tự nhiên đặc thù mà con người tồn tại. Bởi thế, tính đặc trưng riêng biệt của mỗi nền văn hóa tộc người, cũng như một thế giới đa sắc màu về văn hóa chính là điều tuyệt vời nhất của nhân loại. Đến lượt mình, chính văn hóa đã tạo nên những cơ chế thích ứng cho sự sinh tồn của con người và của cả nhân loại. Và một khi quyền văn hóa của cộng đồng được thực thi hiệu quả, nó sẽ là một trong những trụ cột quan trọng, một động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển bền vững về văn hóa - xã hội và phát triển con người.

1.2.2. Tôn trọng đa dạng văn hóa là biểu hiện nỗ lực đảm bảo quyền con người

Với mong muốn nhân loại đoàn kết chặt chẽ trên cơ sở thừa nhận sự đa dạng văn hóa của các tộc người, phát triển giao lưu liên văn hóa nhằm thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau trên cơ sở tôn trọng các giá trị chung của văn hóa nhân loại, “của đạo lý toàn cầu”, của tình người, của lòng bao dung độ lượng, của tinh thần hòa bình, hợp tác,… UNESCO đã kêu gọi thái độ tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng văn hóa tộc người như những di sản quý báu của nhân loại, và coi “... sự phổ biến rộng rãi văn hóa và giáo dục nhân văn vì sự công bằng, tự do và hòa bình là điều không thể thiếu đối với phẩm giá con người và là một nghĩa vụ thiêng liêng mà mọi quốc gia phải thực hiện với tinh thần hỗ trợ và quan tâm lẫn nhau”.

Theo đó, UNESCO cũng đã kêu gọi nhân loại hãy coi văn hóa và đa dạng văn hóa là động lực quan trọng nhằm củng cố nền tảng tinh thần của xã hội toàn cầu, tạo động lực cho phát triển và thúc đẩy phát triển con người, do đó cần “dùng chính văn hóa làm phương tiện chống lại sự lộn xộn của hệ thống toàn cầu, làm lá chắn bảo vệ và là nơi ẩn náu của các nền văn hóa dân tộc”. Từ tiếp cận văn hóa tộc người, UNESCO đã thừa nhận sự đa dạng văn hóa cũng có nghĩa là thừa nhận sự khác biệt về văn hóa của các tộc người dù đông hay ít về dân số, đồng thời cũng cần coi trọng một cách bình đẳng về văn hóa của dân tộc thiểu số cũng như đa số.

Trên đây là những cơ sở lý luận để tác giả nghiên cứu này dựa vào đó xem xét sự bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt ở Việt Nam với những cơ hội và thách thức trong giai đoạn hội nhập hiện nay.

2. Văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt và nhiệm vụ bảo tồn, phát triển 

Dân tộc Chứt có 5 nhóm địa phương: Sách, Mày, Rục, A Rem, Mã Liềng. Theo công bố của Tổng cục Thống kê (TCTK) năm 2009, dân số Chứt có 6.022 người. Cho tới nay, người Chứt vẫn là dân tộc ít người nhất trong nhóm các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (gồm Kinh, Mường, Thổ, Chứt)8. Đồng thời, người Chứt cũng nằm trong nhóm 16 dân tộc có dân số dưới 10.000 người, tức nằm trong nhóm các dân tộc ít người nhất ở nước ta9.

Trong hơn 50 năm qua, kể từ khi từ giã lối sống hoang dã nơi rừng sâu Bắc Trường Sơn, được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Chính phủ và cả cộng đồng, dân tộc Chứt đã có bước tiến đáng kể trong công cuộc giảm nghèo, vươn lên làm chủ cuộc sống. Tuy nhiên, do có một thời gian dài sống biệt lập giữa núi rừng với những điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nhiều giá trị văn hóa truyền thống của họ đã bị mai một. Hiện nay, người Chứt cũng đang gặp không ít thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển cùng các cộng đồng dân tộc khác ở nước ta. Chính vì vậy, nhiệm vụ bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt luôn được đặt ra một cách đặc biệt cấp thiết.

2.1. Một số đặc trưng văn hóa của dân tộc Chứt góp phần tạo nên sự đa dạng văn hóa tộc người ở Việt Nam và những thách thức trong việc bảo tồn

Là một dân tộc trong các DTTS thuộc nhóm Việt - Mường, dân tộc Chứt mang nhiều đặc điểm văn hóa chung của người Thổ, người Mường, cũng như văn hóa cổ xưa của người Việt cổ, như: tục nhuộm răng đen, ăn trầu, búi tóc, nam giới đóng khố, nữ dùng yếm che thân,... Về năng lực, người Chứt có tài đi bộ, tài leo cây, tài săn bắn, khả năng chịu đựng và thích nghi cao trong những điều kiện sống khắc nghiệt,... Từ cứ liệu ngôn ngữ, nhiều học giả đưa ra giả thuyết rằng các dân tộc trong nhóm Việt - Mường có cùng một tổ tiên xa xưa là người Lạc Việt10.

Các dân tộc trong nhóm Việt - Mường cùng có chung một cách thức canh tác nương rẫy “phát, đốt, cốt, trỉa”, nên họ cũng có chung một món “cơm pồi”,… cùng một số làn điệu dân ca, diễn xướng, cốt truyện dân gian: Nạn hồng thủy, Núi đá lấp biển,... Tuy nhiên, trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tập trung hơn vào một số đặc trưng văn hóa của người Chứt, thể hiện sự đa dạng văn hóa ngay trong nhóm dân tộc mang ngôn ngữ Việt - Mường và trong bức tranh chung về văn hóa các dân tộc Việt Nam.  

Theo UNESCO, đa dạng văn hóa thể hiện trước hết qua các cách biểu đạt văn hóa (cultural expressions) khác nhau của các cộng đồng, như: ngôn ngữ (tiếng nói), lối sống, sinh kế, cách chữa bệnh và chăm sóc gia đình, các hình thức giải trí, văn học dân gian và các làn điệu dân ca,... Ở người Chứt, chúng ta có thể nhìn thấy sự đa dạng văn hóa trong các cách biểu đạt và thực hành văn hóa sau đây:

   a) Về ngôn ngữ

 Ngôn ngữ của người Chứt chưa có chữ viết nhưng nó có ý nghĩa khoa học to lớn. Bởi trong ngữ âm tiếng Rục và nhóm Sách, Mày,... vẫn còn bảo lưu nhiều yếu tố ngữ nghĩa và các nguyên âm đôi của tiếng Việt cổ, cho phép các nhà ngôn ngữ tiếp tục nghiên cứu về lịch sử tiếng Việt. Khi nghiên cứu ngôn ngữ này, các nhà khoa học đã phải ghi lại hình ảnh âm thanh bằng phiên âm của chữ quốc ngữ. Mỗi nhóm địa phương của dân tộc Chứt đều có tiếng nói riêng, họ giao tiếp với nhau bằng ngôn ngữ riêng đó. Khi giao tiếp với các nhóm địa phương khác trong dân tộc Chứt, họ có thể nói bằng tiếng mẹ đẻ xen lẫn tiếng Kinh, với sự gần gũi về ngôn ngữ, họ vẫn hiểu nhau. Trong cuộc sống lao động, người Chứt cũng thường xuyên giao tiếp với các dân tộc khác bằng tiếng Kinh pha tiếng mẹ đẻ của họ. Chính vì vậy, có thể nhận định, tiếng nói riêng của đồng bào Chứt hiện nay không còn thuần chất, nó đã có sự pha trộn với tiếng Kinh hoặc các ngôn ngữ của dân tộc khác cùng sống trong vùng.

  b) Về nhà ở

 Nhà sàn là loại nhà đặc trưng nhất gắn liền với đời sống người A Rem, người Mày và người Mã Liềng, còn ngôi nhà đất lại gắn liền với đời sống của người Sách và người Rục trong cộng đồng dân tộc Chứt. Nhà của họ được dựng một cách khá đơn giản từ các sản phẩm của rừng: gỗ, tre, nứa, tranh, mây,… Ðồ đạc sử dụng trong nhà cũng rất khiêm tốn, bởi người Chứt chưa có thói quen sử dụng bàn ghế, giường, tủ, cùng nhiều đồ dùng đắt tiền khác. Nhưng giờ đây, thay cho các ngôi nhà sàn gỗ hay nhà đất truyền thống của người Chứt là những ngôi nhà gạch cấp 4 của các dự án giảm nghèo 135 và 168 của Chính phủ hỗ trợ. Các ngôi nhà này rộng chừng 20m2, xây theo một thiết kế chung nhất cho cả cộng đồng. Bên cạnh đó, cộng đồng người Chứt còn dựng các nhà tạm, như những chòi (chại) tại bìa rẫy để bảo vệ hoa màu trong những lúc chuẩn bị thu hoạch hoặc làm chỗ nghỉ ngơi trong thời gian làm nương rẫy.

Các dân tộc cư trú trên dãy Trường Sơn - Tây Nguyên thường coi phụ nữ sinh nở là một việc ô uế, có ảnh hưởng đến cuộc sống chung của cộng đồng. Do vậy, khi phụ nữ dân tộc Chứt đến giai đoạn sinh nở sẽ được người thân dựng cho một cái lều nhỏ ngoài rừng hoặc trong vườn để sinh và ở cữ. Sau sinh chừng 10 - 15 ngày, sản phụ mới được bế con về nhà ở vào khu vực dành riêng cho mình. Chính do tập quán này, nhà hộ sinh tại các trạm y tế xã không được sử dụng hiệu quả.

 c) Hôn nhân và gia đình

Theo truyền thống, dân tộc Chứt có hình thức hôn nhân một vợ một chồng và sống chung thủy với nhau. Cộng đồng người Chứt chấp nhận cả việc trai gái được tự do tìm hiểu và có thể ăn nằm với nhau trước hôn nhân gọi là tục “ngủ bụi”. Mặc dù được tự do lựa chọn trong hôn nhân, nhung do trong cộng đồng vẫn còn nhiều hủ tục như: mê tín dị đoan, tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống,… nên sự phát triển thể chất, cũng như chất lượng dân số của người Chứt cũng đang là một thách thức trong phát triển.

Gia đình người Chứt theo chế độ phụ hệ. Người đàn ông là chủ gia đình, có quyền quyết định mọi việc lớn và cũng là người chủ trì trong các nghi lễ gia đình vào các dịp lễ tết, dựng nhà mới, cưới xin, ma chay,... Ông được quyền đi lại tự do trong ngôi nhà của mình, trong khi các thành viên khác của gia đình, nhất là con dâu, con rể, phải tuân thủ nhiều điều kiêng kỵ. Gia đình của người Chứt chủ yếu là gia đình nhỏ, gồm hai thế hệ bố mẹ và con cái, bởi có xu hướng con trai sau khi lấy vợ thường tách ra ở riêng. Mỗi gia đình người Chứt thường là một đơn vị kinh tế độc lập, có sở hữu riêng về tài sản như nương rẫy, công cụ sản xuất,… Các thành viên gia đình cùng nhau lao động và cùng hưởng những thành quả lao động của mình. Tuy nhiên, hiện nay, khi một thành viên nào đó trong gia đình người Chứt lập nghiệp mà vẫn sống chung, họ có xu hướng chi tiêu độc lập, nhưng vẫn hỗ trợ gia đình nếu có điều kiện về tài chính.

 d) Về dòng họ và thờ cúng tổ tiên

Dòng họ của người Chứt có tên gọi khác nhau giữa các nhóm tộc, nhưng đều thể hiện là những gia đình có cùng “chung một ma”. Mỗi dòng họ thường gồm các gia đình của các anh, em trai có quan hệ huyết thống với tối đa là 4 - 5 thế hệ. Người đứng đầu dòng họ có quyền quyết định những việc quan trọng của dòng họ mình như: cúng lễ tổ tiên, giám sát việc thực hiện các quy định họ tộc và xử lý các mâu thuẫn nảy sinh,... Quan hệ giữa các thành viên trong dòng họ là tương thân, tương ái, luôn giúp đỡ lẫn nhau trong sinh hoạt và sản xuất.

Trong thờ cúng tổ tiên, người Chứt thờ ma nhà và ma dòng họ. Ma nhà là ông bà hoặc bố mẹ - những người đã khuất và những người chết trẻ từ 16 tuổi trở lên - được thờ ở tất cả các gia đình. Còn ma dòng họ được hiểu là những người đã khuất từ bốn đời trở lên, thường được thờ ở gia đình ông trưởng họ.

  e) Về trang phục và trang sức

 Người Chứt không biết trồng bông dệt vải nên không có trang phục riêng của dân tộc mình. Trước đây, trang phục truyền thống của người Chứt rất đơn giản, chủ yếu là áo, khố làm bằng vỏ cây sui, cây sàng, cây si,… theo cách vỏ cây được đập nát, ngâm nước cho mủn, vò cho kỹ để chỉ còn lại sợi, phơi khô, dàn đều, dùng mây rừng chẻ nhỏ kết lại thành tấm và nối thành áo và khố. Phụ nữ Mày và Mã Liềng còn mặc váy đan bằng lá cọ, nam giới Mã Liềng đóng khố bằng lá dứa đập dập. Ngày nay, người Chứt có xu hướng mặc theo người Kinh hoặc phụ nữ thường dùng trang phục của phụ nữ Khùa, Ma Coong,… là các dân tộc cùng chung sống trên địa bàn.

 Người Chứt gần như không chú trọng sử dụng đồ trang sức quý, có giá trị về mặt kinh tế. Phụ nữ người Sách thường mang trang sức chủ yếu được làm bằng bạc, đồng,… vòng đeo cổ, cổ tay, tai và cổ chân,... Đa số phụ nữ người Rục không sử dụng trang sức như vòng cườm, mã não, mà chỉ phổ biến là vòng vỏ ốc. Đặc biệt, phụ nữ Mã Liềng thường dùng trang sức cầu kỳ hơn, gồm: hoa tai bằng đồng hay bạc có hình hoa mai, chuỗi hạt cườm,… Và một trong những tiêu chí thẩm mỹ của phụ nữ Mã Liềng là có hàm răng đen. Đàn ông người Rục, người Mã Liềng thường sử dụng các sản phẩm từ săn bắn như nanh, vuốt của lợn rừng, hổ, gấu,… để đeo như lá bùa hộ mệnh. Ngày nay, trang sức của người Chứt càng ít dần và họ thường chỉ đeo trong các dịp lễ hội.

f) Về kho tàng chuyện kể dân gian

Đồng bào Chứt, đặc biệt là các nhóm người Sách, Mày, Mã Liềng - là các cộng đồng còn lưu giữ được khá nhiều chuyện kể dân gian, có nội dung phong phú với những biến thể khác nhau về cốt chuyện. Chỉ riêng ở người Rục, thể loại này còn khá nghèo nàn.

Chuyện cổ là một loại hình chiếm ưu thế trong sinh hoạt kể chuyện của người Chứt mặc dù thường có nội dung đơn giản, dễ hiểu nhưng đã tạo nên được những giá trị văn hóa tinh thần mang bản sắc riêng. Một số chuyện kể có nội dung cốt chuyện tương đồng giữa các tộc người xoay quanh các chủ đề về thế giới, nguồn gốc con người,... về các vị thần linh đầy quyền uy với khát vọng chinh phục thiên nhiên, về một cuộc sống ấm no, đầy đủ,... Ngoài những nội dung trên còn một số câu chuyện khác đề cập đến tình yêu lứa đôi, hạnh phúc con người. Những câu chuyện cổ của người Chứt mang đầy khát vọng của họ trong việc chinh phục tự nhiên và cũng hàm chứa tính giáo dục truyền thống sâu sắc cho thế hệ trẻ..., có thể sẽ mất dần cùng với sự ra đi mãi mãi của những người già cả trong cộng đồng, khi không được ghi chép và lưu truyền lại một cách có trách nhiệm. 

  g) Về các loại hình diễn xướng và nhạc cụ dân gian

 Bên cạnh chuyện cổ, loại hình diễn xướng duy nhất của người Chứt là dân ca. Ở đây ta bắt gặp những làn điệu phổ biến giữa các nhóm cận cư như bài dân ca nổi tiếng Con trâu đi cày, hay Chiều về trên đỉnh núi. Nhạc cụ dân gian của người Chứt rất giản đơn, bao gồm các nhạc cụ bằng sừng trâu, tre nứa như tù và, trơ bon và đàn pia (kèn môi). Tù và được làm bằng sừng trâu hoặc từ nguyên liệu nứa rừng, được sử dụng phổ biến như tín hiệu kêu gọi cộng đồng đi làm rẫy hoặc hội hè, hay cho việc thực hiện một cuộc đi săn lớn,... Đàn trơ bon là loại đàn ống nứa, có một dây, phát ra âm thanh tuy giản đơn và hạn chế, nhưng lại rất đặc trưng cho âm thanh của núi rừng. Ðàn môi pia được làm bằng gốc cây phèo và cây nài, cùng với sáo, đàn môi là nhạc cụ được dùng phổ biến trong sinh hoạt hàng ngày và các dịp lễ hội. Ngoài ra, trong quá trình khảo sát, chúng tôi còn được các già làng Mày nhắc đến một số nhạc cụ khác như phèng la (thanh la) dùng trong ma chay và hai ống pía của thầy cúng dùng để gọi hồn khi chữa bệnh. Ngày nay, do sự phổ biến và tiện lợi của âm nhạc đại chúng hiện đại, ngay cả trong các lễ hội, nhiều loại nhạc cụ của người Chứt không thấy được sử dụng nữa và những người biết sử dụng các loại nhạc cụ truyền thống trong cộng đồng cũng ít dần.

Trên đây là một số nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng người Chứt - là tất cả những gì tạo nên năng lực, sức sống và bản sắc riêng của cộng đồng dân tộc này trong quá khứ và hiện tại. Với những đặc trưng văn hóa nêu trên, người Chứt đã trở nên đặc biệt hấp dẫn đối với các nhà khoa học Việt Nam và quốc tế. Qua đó kích thích sự tìm tòi, giao lưu, học hỏi lẫn nhau, tạo nên sự đoàn kết cộng đồng. Chính đa dạng văn hóa của người Chứt có thể còn tạo ra thu nhập nuôi sống cộng đồng, nếu như các cấp chính quyền địa phương biết cách phát huy các năng lực của cộng đồng người đã từng gắn bó với núi rừng như người Chứt, như: bảo vệ đa dạng sinh học, chăm sóc cây, trồng rừng, hay tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái,… 

2.2. Một số tập quán, tâm lý và thói quen cố hữu tạo nên những thách thức trong hội nhập và phát triển của người Chứt

Bên cạnh những giá trị văn hóa của người Chứt, với tâm lý và những thói quen cố hữu, ảnh hưởng của tập quán sống du canh, du cư trước đây, người Chứt cũng đang gặp không ít trở ngại trong quá trình hội nhập và phát triển.      

Thứ nhất là tâm lý ỉ lại và dựa vào rừng, vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Người Chứt nhiều đời gắn bó với núi rừng, sống dựa vào núi rừng, họ coi núi rừng là các vị thần sinh thành, nuôi dưỡng và che chở cho họ. Vì vậy, họ có thói quen thích săn bắn, hái lượm trong rừng hơn là sản xuất ra lương thực, thực phẩm. Lối sống đó đồng thời cũng tạo nên tâm lý chung của cộng đồng là “Đói không lo, no không mừng”, đói thì vào rừng hái quả, khó cũng vào rừng nương ngủ trong những vòm hang. Bên cạnh đó, tâm lý ỉ lại, trông chờ vào sự quan tâm, hỗ trợ vật chất,... của Chính phủ và chính quyền ở các địa phương vẫn còn khá rõ trong cuộc sống của họ.

Thứ hai, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, một số thanh niên người Chứt đang hướng tới một cách sống khác lạ, chưa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội thực tế mà họ đang sống. Trước đây người Chứt sống biệt lập thành từng nhóm nhỏ trong rừng sâu. Sau khi được Nhà nước đưa về định cư thành làng bản, dân tộc này không dễ thích nghi với lối sống và phương thức sản xuất mới. Khi cơ sở hạ tầng được đầu tư (đặc biệt đường xá và các phương tiện thông tin đại chúng), đã mở ra sự kết nối mới của xã hội người Chứt với thế giới bên ngoài. Một mặt, bản sắc văn hóa của người Chứt cũng được thể hiện, giao lưu với các cộng đồng khác,... Mặt khác, sự giao lưu thiếu định hướng cũng dẫn đến sự mai một về bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng này. Biểu hiện rõ nét nhất ở một số người Chứt trẻ tuổi đã tiếp thu cái mới thiếu chọn lọc, họ thích phô diễn bản thân qua cách ăn mặc khác lạ, sắm đồ dùng đắt tiền, tụ tập, chơi bời,… không chú trọng đầu tư cho học tập, sản xuất, trong khi cuộc sống vật chất của họ còn nhiều khó khăn.11

Hơn thế, một số người trẻ tuổi trong cộng đồng đã “đoạn tuyệt” với ngôn ngữ mẹ đẻ đặc biệt có ý nghĩa khoa học mà cộng đồng người Chứt đang có để chuyển sang nói tiếng Việt hoặc tiếng của các cộng đồng cận cư,… Trước đây, các nhà khoa học đã coi người Chứt là “bảo tàng sống” về ngôn ngữ, lịch sử và văn hóa của người Việt cổ, bởi họ chính là đại diện của cộng đồng Tiền Việt - Mường cổ xưa. Nhưng ngày nay, văn hóa và tiếng nói của họ đang nhanh chóng bị mai một, trong khi chưa có những giải pháp hữu hiệu để bảo tồn và phát huy những giá trị tích cực. Như vậy, nguy cơ mất đi nhiều giá trị văn hóa độc đáo cũng như ngôn ngữ của đồng bào Chứt là một hiện thực nhãn tiền nếu Đảng và Nhà nước không có những chính sách kịp thời để bảo tồn và phát triển.

Thứ ba, tập quán uống rượu và hút thuốc lá của cộng đồng. Ở người Chứt, hầu hết người dân không kể thành phần, giới tính, tuổi tác (nam, nữ, già, trẻ,… thậm chí trẻ em mới 9, 10 tuổi) đều có thói quen uống rượu và hút thuốc lá. Đàn ông Chứt có thể đổi bất cứ thứ gì họ có trong nhà để lấy rượu, họ thường uống rượu đến say xỉn và không muốn làm việc. Nạn nghiện rượu là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói cao, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào rất khó khăn. Trẻ em không đủ dinh dưỡng cũng chỉ vì bố mẹ nghiện rượu, hiện tượng còi xương ở trẻ em ở một số nhóm địa phương như A Rem, Rục, Mày,... vẫn còn khá cao12. Báo cáo của địa phương cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi khi nhận định, người Chứt là dân tộc có tỉ lệ đói nghèo cao nhất so với các DTTS cư trú trong vùng, với tỉ lệ đói nghèo năm 2014 vẫn cao trên 60%. Bên cạnh đó, nạn “hút thuốc rê” cũng đang đầu độc chính bản thân họ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tuổi thọ của người Chứt không cao - tuổi thọ trung bình chỉ đạt mức dưới 60 tuổi.  

Thứ tư, người Chứt thiếu kiên nhẫn với cuộc sống định cư và lẩn tránh việc biểu đạt chính kiến. Ngoài nạn nghiện rượu và thuốc lá, thói quen thích sống hoang dã cũng thường trực ở người Chứt. Dù đã trở về cuộc sống định cư tới nửa thế kỷ, nhưng trước mỗi khó khăn, nhiều nhóm địa phương của dân tộc Chứt lại bỏ vào rừng. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy đã có nhiều cuộc định cư… rồi tái định cư người Chứt trong hơn 50 năm qua. Thói quen này dẫn đến tính thiếu kiên nhẫn bám trụ, vượt khó trong cuộc sống định canh, định cư thành làng bản của người Chứt.

Người Chứt thường nhút nhát, không thích nơi đông người, cùng với sự khiêm tốn về dân trí, họ không thích biểu đạt ý kiến. Đây là một trở ngại không nhỏ trong việc đưa người Chứt vươn lên làm chủ cuộc sống, cũng như là một khó khăn trong việc hoạch định chính sách phát triển theo ý kiến của người dân và phù hợp với sinh kế của cộng đồng.

3. Một số kiến nghị về giải pháp bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống nhằm đảm bảo quyền văn hóa vì mục tiêu phát triển con người

 Cách tiếp cận hiện đại về quyền đối với văn hóa của một cộng đồng được thể hiện sinh động nhất ở một số hoạt động chính sau đây: 1) Thừa nhận tầm quan trọng và sức sống của các đặc trưng văn hóa của cộng đồng; 2) Thúc đẩy tính độc đáo và sự đa dạng của những bản sắc riêng của một nền văn hóa cộng đồng; 3) Đặt chiến lược phát triển văn hóa trong các chính sách phát triển ở cả cấp quốc gia và quốc tế; 4) Tạo một môi trường tôn trọng, bình đẳng và khuyến khích các chủ thể văn hóa tự do biểu đạt, tự do hưởng thụ các sản phẩm văn hóa của cộng đồng; 5) Tạo cơ hội để tương tác và phát huy tính sáng tạo trong việc biểu đạt văn hóa của cộng đồng. Trên cơ sở đó, các quyền văn hóa được thực thi hiển nhiên sẽ là sự tôn trọng và bảo vệ đa dạng văn hóa, đồng thời gia tăng các lợi ích của đa dạng văn hóa đối với phát triển.

Từ tiếp cận hiện đại và thực tế nghiên cứu nêu trên, trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp bảo tồn và phát triển văn hóa cộng đồng, bảo vệ sự đa dạng văn hóa của người Chứt, các tác giả trong nghiên cứu này kiến nghị:

Thứ nhất, xây dựng những chương trình hành động, những chính sách đồng bộ nhằm phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn các nhóm địa phương trong dân tộc Chứt sinh sống với phương châm: đồng bào là chủ thể văn hóa và chủ thể của sự nghiệp phát triển của chính họ. Nhằm tạo điều kiện để đồng bào tham gia các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội dựa trên tập quán văn hóa truyền thống của cộng đồng, như: bảo vệ sinh thái và đa dạng sinh học, trồng rừng và bảo vệ rừng tại khu sinh thái, và tham gia hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.

Thứ hai, mở rộng cơ hội để đồng bào có thể thực hành các hoạt động văn hóa và tham gia giới thiệu văn hóa với đồng bào các DTTS khác (giao lưu giữa các huyện, thành phố; giao lưu khu vực, giao lưu toàn quốc,...), thậm chí có thể trình diễn nghệ thuật cho các khách du lịch đến thăm Phong Nha - Kẻ Bàng… để đồng bào có thể giới thiệu với bạn bè về những nét đẹp độc đáo trong văn hóa của dân tộc mình.

Thứ ba, cần mở rộng và tăng cường các chương trình phát thanh bằng ngôn ngữ của người Chứt để tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào; đồng thời, thông qua chương trình phát thanh để giới thiệu cái hay cái đẹp nhằm bảo tồn ngôn ngữ và phát huy những giá trị văn hóa độc đáo của dân tộc Chứt.

Thứ tư, để tôn trọng và đề cao quyền văn hóa của cộng đồng người Chứt, Nhà nước cũng cần bổ sung những chính sách ưu tiên nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của cộng đồng này, đặc biệt cần có những giải thưởng nhằm khuyến khích người dân đưa ra những đề xuất liên quan đến việc bảo vệ văn hóa truyền thống của họ.

Thứ năm, ưu tiên đầu tư kinh phí cho công tác nghiên cứu, sưu tầm, bảo tồn văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt, trong đó cần có chính sách đặc biệt đối với các dân tộc, các nhóm địa phương đang đứng trước nguy cơ bị mai một bản sắc truyền thống như ở người Chứt.

Thứ sáu, ưu tiên đầu tư và triển khai hiệu quả hơn các công trình khoa học theo hướng liên ngành nhằm xây dựng khung lý thuyết bảo tồn đa dạng văn hóa và thực thi quyền con người. Cùng với đó là đưa ra các giải pháp nghiên cứu, bảo tồn văn hóa và tiếng nói dân tộc Chứt, kịp thời ngăn chặn sự mai một bản sắc văn hóa truyền thống của cộng đồng khi còn chưa quá muộn.

Kết luận

Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Chứt được coi là một nhiệm vụ mang ý nghĩa đặc biệt to lớn. Chính thông qua các âm thanh ngôn ngữ và lối sống hoang dã của các nhóm địa phương thuộc dân tộc này, các nhà khảo cổ học, dân tộc học và ngôn ngữ học đã đưa ra các giả thuyết quan trọng về các giai đoạn phát triển, sự phân bố dân cư của người Việt bản địa, cũng như xác định được lịch sử phát triển của tiếng Việt xa xưa. Bảo tồn văn hóa truyền thống của người Chứt với những giá trị và bản sắc độc đáo như: ngôn ngữ tiền Việt - Mường, đàn trơ bon, những điệu dân ca Cà-lềnh cà tưng, hôn nhân một vợ một chồng chung thủy,… cũng chính là sự thể hiện sinh động tinh thần tôn trọng đa dạng văn hóa và quyền văn hóa của cộng đồng dân tộc Chứt. Đây cũng chính là điều kiện quan trọng nhằm mở rộng cơ hội và nâng cao năng lực cho người Chứt phát triển và hội nhập trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.  

Tài liệu tham khảo

1.        Đào Duy Anh (1955), Cổ sử Việt Nam, Nxb. Xây dựng, Hà Nội.

2.        Mạc Đường (1964), Các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ: Sự phân bố cư dân và các đặc trưng văn hóa, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3.        Nguyễn Văn Mạnh (1983), “Vài suy nghĩ về cộng đồng Tiền Việt - Mường ở Bình Trị Thiên”, Tạp chí Dân tộc học, Số 3, Tr. 46.

4.         Nguyễn Văn Mạnh (1996), Người Chứt ở Việt Nam, Nxb. Thuận Hóa, Huế, Tr. 47 - 48.

5.        Nguyễn Văn Mạnh (2012), Sự đan xen văn hóa của các dân tộc thiểu số trên địa bàn Quảng Bình hiện nay, Trang thông tin điện tử của Sở Khoa học công nghệ Quảng Bình, http:// skhcn.quangbinh.gov.vn/3cms/upload/khcn/File/BCKH410/48.doc.

6.        Trịnh Thị Kim Ngọc (2012), “Tiếp cận phát triển con người theo tiêu chí sắc tộc của UNDP - Một sáng kiến thành công cần vận dụng tại Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, Số 6 (63). 

7.        Bùi Hoài Sơn (2014), “Bàn về khái niệm quyền văn hóa”, Theo trang tin điện tử của Hội Di sản văn hóa Việt Nam,

http://hoidisan.vn/index.php?option=com_content&view= article&id=143: ban-ve-khai-niem-quyen-van-hoa&catid=50:dien-dan&Itemid=41.

8.        Hà Văn Tấn (1976), “Nguồn gốc văn hóa Phùng Nguyên và vấn đề Tiền Việt - Mường (một giả thiết công tác mới)”, Hội nghị khoa học Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp, Hà Nội.

9.        Hà Văn Tấn, Phạm Đức Dương (1978), “Về ngôn ngữ Tiền Việt - Mường”, Tạp chí Dân tộc học, Số 1, Tr. 64.

10.    Đỗ Thịnh cùng cộng sự (2001), “Dân số và phát triển của dân tộc Chứt ở Quảng Bình”, Đề tài cấp Bộ 1999 - 2001, Viện Nghiên cứu Con người.

11.    Võ Xuân Trang (1998), Người Rục ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.

12.    Nguyễn Hữu Thông và các cộng sự (2007), Hoa trên đá núi, Nxb. Thống kê, Hà Nội.

13.    Vương Hoàng Tuyên (1963), Các dân tộc nguồn gốc Nam Á ở miền Bắc Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.

14.    Tylor E.B. (1871), “Văn hóa nguyên thủy”,  Huyền Giang dịch, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, 2001.

15.    UNESCO (2001), Tuyên bố toàn cầu của UNESCO về Đa dạng văn hóa.

16.    UNESCO (2003), Công ước về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể.

 

 



 

* PGS.TSKH.; Viện Nghiờn cứu Con người, Viện Hàn lõm Khoa học Xó hội Việt Nam.

1 Bài viết trong khuụn khổ Đề tài “Nghiờn cứu cơ hội và năng lực tiếp cận mục tiờu phỏt triển con người của dõn tộc Chứt ở miền Trung Việt Nam”, do Quỹ Nafosted tài trợ, Mó số IV1.3-2012.15.

2 Xem Văn hóa nguyên thủy” - “Primitive Culture” (2001), Huyền Giang dịch, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội, Tr. 13.

3 UNESCO (2001), Tuyên ngôn UNESCO về Đa dạng văn hóa.

4 UNESCO, (2001), Sđd.

5 Bùi Hoài Sơn, “Bàn về khái niệm Quyền văn hóa”, Theo trang tin điện tử của Hội Di sản văn hóa Việt Nam, http://hoidisan.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=143:ban-ve-khai-niem-quyen-van-hoa&catid=50:dien-dan&Itemid=41.

6 UNESCO (2001), Tuyên ngôn toàn cầu về Đa dạng văn hóa, Điều 4.

7 UNESCO (2001), “Tuyên ngôn toàn cầu về Đa dạng văn hóa”, Điều 2.

8 Theo Tổng cục Thống kê (2009) Dân số các DTTS trong nhóm ngôn ngữ Việt Mường như sau: Kinh có 73.594.341 người, Mường có 1.268.963 người, Thổ có 74.458 người, và dân tộc Chứt là ít nhất với dân số 6.022 người. Còn theo nghiên cứu của chúng tôi trong đề tài “Cơ hội và năng lực tiếp cận các mục tiêu PTCN của dân tộc Chứt ở miền Trung Việt Nam”, năm 2014, dân số người Chứt là gần 7000 người với mức tăng dân số khá ổn định. 

9 Theo Tổng cục Thống kê (2009), nước ta có 16 DTTS có dân số dưới 10.000 người theo thứ tự từ ít nhất là: 1) Ơ Đu: 376 người; 2) Brâu: 397 người; 3) Rơ Măm: 436 người; 4) Pu Péo: 687 người; 5) Si La: 709 người; 6) Ngái: 1.035 người; 7) Cống: 2.029 người; 8) Bố Y: 2.273 người; 9) Cơ Lao: 2.636 người; 10) Mảng: 3.700 người; 11) Lô Lô: 4.541 người; 12) Lự: 5.601 người; 13) Chứt: 6.022 người; 14) Pà Thẻn: 6.881 người; 15) La Ha: 8.177 người; 16) La Hủ: 9.651 người.   

10 Đào Duy Anh, Cổ sử Việt Nam, 1955; Lịch sử Việt Nam, quyển thượng, 1958; và một số công trình khác.

11 Thông tin từ các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu do PGS. TSKH. Trịnh Thị Kim Ngọc và TS. Đỗ Thịnh thực hiện tại bản 39, xã Tân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình vào tháng 3 năm 2014; và tại bản Mò o ồ ồ, xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình vào tháng 9 năm 2014.

12 Theo nghiên cứu của chúng tôi, trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi và nhẹ cân ở mức trên 60%, đặc biệt là người Mày và người A Rem là hai nhóm có tỉ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao nhất.

 

Trịnh Thị Kim Ngọc