image banner
VI | EN
Nghiên cứu địa lý dân cư Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Lượt xem: 21

Trần Thị Tuyết

Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững

1. Mở đầu

Xuất hiện hơn 150 năm và nổi lên như một ngành nghiên cứu độc lập từ những năm đầu của thế kỷ XX, nhưng cho đến nay địa lý dân cư vẫn chưa có sự thống nhất trong diễn đạt về khái niệm và nội dung nghiên cứu. Nhiều quan niệm được đưa ra ở các khía cạnh khác nhau theo ý muốn chủ quan của mỗi trường phái, mỗi cá nhân, nhưng tựu chung đều thống nhất: Địa lý dân cư là khoa học liên ngành, nghiên cứu mối liên hệ giữa con người với không gian lãnh thổ thông qua phân tích không gian của các hiện tượng, đặc trưng và sự thay đổi dân cư trong môi trường địa lý.

Các kết quả nghiên cứu địa lý dân cư gắn liền với những đặc điểm của quan hệ sản xuất - nhân tố liên kết về phương diện lý luận các quy luật chung và các quy luật phát triển xã hội với các quy luật chi phối quá trình dân cư - là công cụ không thể thiếu của khoa học địa lý trong tìm kiếm các giải pháp phát triển lãnh thổ hợp lý và bền vững. Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu địa lý dân cư đã được triển khai, đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước trong từng thời kỳ.

 Bài viết này được hoàn thiện trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan góp phần có cái nhìn xuyên suốt và bước đầu làm rõ bản chất và thực tiễn nghiên cứu địa lý dân cư; đồng thời, làm rõ bối cảnh mới trong xu hướng phát triển của Việt Nam, từ đó, đề xuất một số định hướng nghiên cứu phù hợp đáp ứng yêu cầu triển khai các chính sách phát triển trong kỷ nguyên mới.

2. Nhận thức và kết quả nghiên cứu về địa lý dân cư

Nhận thức về địa lý dân cư

Cũng tương tự như các ngành khoa học khác, đến nay Địa lí dân cư đã có một giai đoạn phát triển khá dài đi cùng với mong muốn của con người về tìm hiểu bản thân mình và những vùng đất xung quanh, điều này được thể hiện qua những cuộc phát kiến địa lý từ giữa thế kỷ XV của Adixo (1487), Vaxco de Gama (1498), C. Columbo (1492), Maghenlan (1951-1955) đã mở ra một thời kỳ mới trong nghiên cứu tìm hiểu sự tồn tại các của vùng đất, lãnh thổ khác nhau trên toàn thế giới với các nguyên tắc khoa học liên ngành là tiền thân của ngành khoa học Địa lý dân cư. Những năm 1960 và 1970, địa lý dân cư có nhiều cơ hội phát triển cả về mặt lý luận và ứng dụng trong thực tiễn. Đặc biệt, những năm 1980 trở thành một chuyên ngành quan trọng của khoa học địa lý trong giải quyết các vấn đề xã hội thông qua các phương pháp định lượng và phân tích không gian.

Đến nay, cùng với tiến trình phát triển của các ngành khoa học nói chung và khoa học địa lý nói riêng, địa lý dân cư ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong giải quyết các vấn đề “nóng” mang tính vùng, quốc gia, khu vực và toàn cầu bằng cách kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành truyền thống và hiện đại, trong đó tập trung chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu địa lý (phân tích không gian, GIS), đã cung cấp cái nhìn mới và sâu sắc hơn trong các tiến trình dân cư theo không gian và thời gian. Đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu, các vấn đề môi trường toàn cầu, các cuộc xung đột và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra ngày càng phức tạp thì nghiên cứu mối quan hệ giữa môi trường địa lý và con người ngày càng được đặt ra cấp thiết trên cơ sở tích hợp các chuyên ngành nghiên cứu khoa học xã hội và khoa học tự nhiên có liên quan.

Kết quả nghiên cứu về địa lý dân cư ở Việt Nam

Địa lý dân cư trong thời gian qua đã phát triển khung lý thuyết, ngày càng được bổ sung và hoàn thiện về mặt phương pháp luận, phương pháp nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn gắn liền với mục đích khai thác sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên – trong đó con người được xem là nguồn tài nguyên lớn nhất của lãnh thổ.

Ở Việt Nam, thuật ngữ “Địa lý dân cư” xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu, chủ yếu theo trường phái của các nước Liên Xô (cũ), theo đó - Địa lý dân cư được xem là chuyên ngành của khoa học địa lý kinh tế xã hội, nghiên cứu những đặc điểm địa lý về sự hình thành và phát triển của dân cư trong các điều kiện kinh tế, xã hội và tự nhiên khác nhau; nghiên cứu mạng lưới khu dân cư và hệ thống định cư; nghiên cứu các quy luật phát triển và động thái của dân cư trong không gian địa lý và thời gian; các quy luật phân bố và hình thành tổ chức lãnh thổ của dân cư trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, với tổng thể các điều kiện kinh tế xã hội, chính trị, lịch sử và văn hóa. Địa lý dân cư cùng với dân số học, xã hội học đóng vai trò tích cực trong việc nghiên cứu di dân, đô thị hóa lãnh thổ; lối sống của các khu vực khác nhau.

Các kết quả nghiên cứu về địa lý dân cư ở Việt Nam trong giai đoạn 2015-2024 chủ yếu tập trung vào các nhóm chủ đề: phân bố cư trú và lao động, quần cư đô thị và nông thôn trong bối cảnh đô thị hóa, ứng phó với biến đổi khí hậu, nghiên cứu về di dân và làm rõ mối quan hệ giữa con người với môi trường và phát triển, cụ thể hóa thực hiện chính sách phát triển của nước ta. Chẳng hạn: Nghiên cứu thực hiện chính sách xã hội, tập trung phát triển nhân lực, việc làm đáp ứng quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững. Đối với phát triển nhân lực đã kiến nghị: (i) Đề xuất Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng nhân lực nông nghiệp đáp ứng yêu cầu tăng trưởng xanh; (ii) Bộ kỹ năng nghề trong lĩnh vực nông nghiệp đáp ứng yêu cầu tăng trưởng xanh; (iii) Xây dựng cơ chế chính sách hỗ trợ, khuyến khích các đơn vị tiêu thụ sản phẩm nông sản từ các phương thức sản xuất xanh; (iv) Định hướng lựa chọn các nghề nông nghiệp phù hợp với thế mạnh, lợi thế khu vực ven biển; (v) Chính sách tạo môi trường thúc đẩy tăng trưởng xanh trong nông nghiệp – cơ sở tạo động lực cải thiện năng lực sản xuất cho người lao động, ưu tiên hình thành vùng sản xuất quy mô lớn, khuyến khích chuyển giao công nghệ phù hợp cho nông dân; (vi) Xây dựng giải pháp phát triển nhân lực phù hợp với xu hướng “nữ hóa” và “già hóa”. Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển việc làm bền vững gắn với chính sách phát triển năng lượng tái tạo với một số kiến nghị cần ưu tiên: (i) Xây dựng và hình thành chuỗi giá trị năng lượng tái tạo; (ii) Tận dụng hiệu quả cơ hội tạo việc làm của ngành năng lượng tái tạo thông qua nâng cao, đáp ứng được yêu cầu kỹ năng làm việc; (iii) Thay đổi phương thức hỗ trợ chuyển đổi nghề cho những người bị ảnh hưởng bởi thu hồi đất để kinh phí sử dụng đúng mục đích, hiệu quả…

Nghiên cứu thực hiện chính sách ứng phó với biến đổi khí hậu trên cơ sở khai thác hiệu quả và đảm bảo tính hài hòa giữa các yếu tố địa lý, văn hóa và xu hướng phát triển của tự nhiên và xã hội. Đề xuất các kiến nghị chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu nhằm đảm bảo sinh kế bền vững dân cư, xem biến đổi khí hậu, hạn hán là nhân tố bình thường, thực hiện đầu tư phát triển “vừa chủ động thích nghi, vừa ứng phó hiệu quả” trên cơ sở tái cơ cấu, chuyển đổi mô hình phát triển, ưu tiên nguồn lực đầu tư phát triển, quản lý lãnh thổ theo hướng “thuận thiên”, tôn trọng quy luật tự nhiên để kiến tạo phát triển. Kiến nghị xây dựng Luật biến đổi khí hậu hoàn thành trước năm 2030 nhằm đảm bảo hành lang pháp lý mạnh mẽ trong công tác thích ứng với biến đổi khí hậu; tạo nền tảng hình thành cơ cấu tổ chức bộ máy và định hướng phát triển khoa học công nghệ, tăng cường năng lực thích ứng; cơ sở tạo khung có tính tổng thể, toàn diện trong các tiếp cận quản lý thống nhất, kết nối, tránh chồng chéo. Kiến nghị khung định hướng không gian phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, gồm 04 tiểu vùng, 01 cực phát triển và các tuyến động lực, tuyến trục liên kết.

3. Bối cảnh mới và yêu cầu đặt ra cho địa lý dân cư trong kỷ nguyên mới

Trong bối cảnh, xã hội ngày càng tiến bộ, cách mạng khoa học kĩ thuật phát triển, khoa học địa lý đã có một bước chuyển mình cơ bản từ địa lý mô tả sang địa lý chính xác và định lượng, có tính tổng hợp cao, chuyên môn hóa hơn, liên ngành hơn và mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc gắn liền với việc hiện thực hóa các giải pháp, chính sách phát triển quốc gia, đảm bảo tính thời đại và xu thế phát triển. Trong đó, địa lý dân cư cũng đang chịu tác động của một số bối cảnh và yêu cầu mới trong định hướng, nhiệm vụ nghiên cứu, như:

(i) Kỷ nguyên số được bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX, thúc đẩy mạnh mẽ bởi Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đến nay trở thành một xu thế tất yếu. Đây được xem là yếu tố tạo nên những tác động sâu sắc tới sự phát triển và vận động của thế giới đương đại gắn liền với sự xuất hiện của những dạng thức mới trong đời sống xã hội. Kỷ nguyên số tạo cho Việt Nam thế và lực mới kết hợp với sức mạnh được tích lũy trong 40 năm đổi mới sẽ mở ra cơ hội mới – cơ hội “đi tắt, đón đầu, phát triển vượt bậc” trong tiến trình phát triển bền vững quốc gia. Để tận dụng được cơ hội này, đòi hỏi phải có những giải pháp phù hợp, tạo ra bước đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước ta vươn mình trong kỷ nguyên mới – kỷ nguyên của tiên tiến, văn minh và hiện đại trên cơ sở sự đóng góp của các ngành khoa học – công nghệ, gồm khoa học địa lý để làm rõ được tính khoa học, tính thực tiễn trong vận dụng bởi kỷ nguyên số không phải là một kết quả có sẵn mà là thành quả của cả một quá trình vận động, chuyển đổi không ngừng theo hướng số hóa, dựa vào kỹ thuật số.

(ii) Sắp xếp đơn vị hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, tạo không gian phát triển mới với quy mô mở rộng hơn, tạo giá trị mới và điều kiện để các địa phương liên kết, hợp tác, phát triển bền vững. Cuộc cách mạng về cải cách tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương từ 3 cấp thành 2 cấp đã mở ra những kỳ vọng mới – mô hình tổ chức phù hợp với xu thế tinh gọn, hiệu năng, hiệu quả và hiệu lực gắn với ứng dụng khoa học – công nghệ; được xem là nền tảng vững chắc đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Việc sắp xếp tinh gọn các đơn vị hành chính cấp tỉnh và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền 2 cấp là cần thiết, theo xu thế tất yếu, giải quyết được “điểm nghẽn” cản trở việc tổ chức quy hoạch vùng, phát triển hạ tầng kết nối liên tỉnh và tối ưu hóa chuỗi giá trị theo không gian kinh tế. Để phát huy được tính ưu việt của tiến trình này đòi hỏi phải có những giải pháp nâng cao năng lực, nguồn lực phát triển lãnh thổ và tổ chức lại không gian hợp lý, hiệu quả hơn gắn với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

(iii) Phát triển đất nước hướng đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh”, trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh với ưu tiên là xây dựng Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2025 (Tổng Bí thư Tô Lâm, 2024). Điều này thể hiện khát vọng của nhân dân, sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Để thực hiện mục tiêu này, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành đồng bộ chính sách phát triển để tạo động lực, nguồn lực thúc đẩy đất nước phát triển, cải thiện mức sống dân cư gắn với củng cố quốc phòng, an ninh. Các chính sách đã đảm bảo được các mục tiêu phát triển kinh tế gắn với tính công bằng trong xã hội; ưu đãi đối với địa bàn, đối tượng khó khăn nhằm đảm bảo sự phân phối bình đẳng, “an dân”, “dưỡng dân” với các giải pháp đột phá gia tăng nguồn nội lực theo tính đặc thù của không gian lãnh thổ, chú trọng cải thiện mức sống dân cư, giảm chênh lệch giữa các vùng - một trong những cơ sở để quy tụ tính đoàn kết, đồng thuận của dân cư trong bảo vệ, phát triển đất nước.

Các mục tiêu phát triển đất nước gắn với xu thế thời đại về kỷ nguyên số và triển khai mô hình tổ chức quản trị địa phương mới đã mở ra con đường mới cho sự phát triển; đòi hỏi sự thay đổi tư duy và định hướng phát triển phù hợp. Đây là cơ hội và trách nhiệm của các ngành khoa học cần luận giải và tìm kiếm giải pháp, đóng góp cho tiến trình phát triển đất nước. Đối với khoa học địa lý nói chung và địa lý dân cư nói riêng, kỷ nguyên số, tái cấu trúc không gian phát triển của các địa phương cũng đang tác động không nhỏ đến phương pháp nghiên cứu với sự ra đời của khoa học công nghệ mới, công nghệ đột phá, dữ liệu lớn đòi hỏi địa lý phải có tầm nhìn, chiến lược “xứng tầm” để cùng các ngành khoa học đưa đất nước vươn mình.

4. Định hướng nghiên cứu địa lý dân cư trong kỷ nguyên mới

Định hướng nghiên cứu địa lý dân cư trong thời gian tới cần đảm bảo luận giải được các vấn đề lý luận, vận dụng hiệu quả các lý thuyết khoa học địa lý nói chung và địa lý dân cư nói riêng trong giải quyết các vấn đề lãnh thổ, phù hợp với bối cảnh và yêu cầu mới đặt ra trong chiến lược phát triển quốc gia. Trong đó, lấy giao điểm giữa quá trình dân cư với các vấn đề xã hội và môi trường, đặc biệt đặt con người trong bối cảnh đơn vị hành chính mới, chiến lược phát triển đột phá theo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và toàn cầu hóa. Các định hướng chiến lược trọng tâm:

(i) Phát huy lợi thế tiếp cận liên ngành trong thực hiện các mục tiêu chính sách phát triển

Chính trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính theo hướng mở rộng không gian phát triển của chính quyền địa phương và áp lực từ các vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi địa lý dân cư phải nhìn nhận và tiếp tục vận dụng các ưu thế có tính liên ngành của khoa học địa lý, tích hợp các tri thức của thời đại để phân tích tổng hợp lãnh thổ và các vấn đề có tính chuyên ngành về dân cư theo lãnh thổ, theo ngành. Đây vừa là lợi thế, vừa là cơ hội của địa lý dân cư trong tìm kiếm giải pháp hiệu quả thực hiện chiến lược, chính sách phát triển quốc gia về tổ chức qui hoạch, phân bố lực lượng sản xuất, định cư phù hợp với đối tượng nghiên cứu chính là các tổ chức không gian xã hội của lãnh thổ và mối quan hệ giữa con người và môi trường.

Có thể thấy rằng, so với các cách tiếp cận khoa học khác, tiếp cận liên ngành trong nghiên cứu địa lý dân cư có những ưu thế nổi bật:

- Tính tổng hợp và quan hệ tương tác giữa các hợp phần địa lý trong bối cảnh và yêu cầu mới của quốc gia và thế giới đòi hỏi khối kiến thức của nhà chuyên môn phải vừa rộng và vừa sâu, khi thực hiện phải có nhiều chuyên gia ở các lĩnh vực có liên quan cùng tham gia.

- Các kết quả nghiên cứu được thể hiện khá rõ và dễ hiểu trên bản đồ tạo cho người đọc không khó khăn và dễ nhận biết các đặc điểm và tính đặc thù phân bố của các đối tượng.

- Những ưu thế của tiếp cận địa lý liên ngành nói trên càng tăng thêm khả năng ứng dụng các khoa học địa lí trong nghiên cứu dân cư phát huy thế mạnh phân tích không gian nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội hiện đại với sự trợ giúp của khoa học công nghệ, dữ liệu lớn và các biện pháp phân tích đa chiều.

 (ii) Khai thác hiệu quả nguồn lực dân cư trong bối cảnh tái cấu trúc không gian

Bối cảnh và yêu cầu mới trong kỷ nguyên vươn mình đòi hỏi có giải pháp, công cụ quản lý, sử dụng lãnh thổ mới, với trọng tâm là đầu tư và khai thác hiệu quả nguồn lực dân cư, từ đó, tìm phương thức kết hợp, đảm bảo tính tối ưu của phát triển không gian mới dựa trên các tính toán về điều tiết dân cư hợp lí.

Đối với mỗi lãnh thổ, để thực hiện được mục tiêu phát triển bền vững, trước hết, cần tiến hành nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn các nguồn lực phát triển của lãnh thổ một cách cụ thể và chi tiết, từ đó xây dựng cơ cấu vốn hợp lí cho phát triển, một trong những phương pháp tiếp cận có hiệu quả cao đã được chứng minh trên thực tiễn quy hoạch, định hướng phát triển không gian thông qua việc nghiên cứu các tổng hợp thể tự nhiên, kinh tế, xã hội bao gồm các hợp phần tự nhiên và nhân văn với các cấp phân vị khác nhau theo không gian và thời gian.

Trong bối cảnh tái cấu trúc không gian kinh tế – xã hội, nguồn lực dân cư trở thành yếu tố then chốt quyết định sự thành công của quá trình phát triển. Việc tổ chức lại không gian sản xuất, phân bố đô thị – nông thôn và hình thành các vùng động lực phát triển đặt ra yêu cầu mới về khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, lao động. Tiếp cận địa lý dân cư cho phép phân tích mối quan hệ giữa dân cư và không gian, từ đó nhận diện được các xu hướng dịch chuyển, phân bố, cũng như khả năng thích ứng của cộng đồng với sự thay đổi cấu trúc lãnh thổ.

Địa lý dân cư giúp làm rõ cấu trúc dân cư thông qua các nghiên cứu so sánh và phân tích ở nhiều lĩnh vực khác nhau, từ đó cung cấp khung lí thuyết và thực tiễn cho các nhà quản lí và quy hoạch sử dụng hợp lí các nguồn lực lãnh thổ. Cấu trúc dân cư – lao động, sự vận động của quần cư đô thị và nông thôn trong bối cảnh tái cấu trúc không gian đang đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhằm làm rõ cơ sở lí thuyết từ những kết quả nghiên cứu thực nghiệm, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm sử dụng hợp lí dân cư, chú trọng các chủ đề: di dân, phân bố cư trú, quần cư đô thị - nông thôn, nguồn lao động và mối quan hệ giữa phát triển với môi trường.

 (iii) Tận dụng hiệu quả các thành tựu của Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và chuyển đổi số

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, nghiên cứu địa lý dân cư cần được tiếp cận theo hướng tích hợp công nghệ số và khoa học dữ liệu. Các thành tựu về trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), hệ thống thông tin địa lý (GIS) và viễn thám (RS) mở ra khả năng mới trong thu thập, xử lý và phân tích thông tin dân cư, giúp nâng cao tính chính xác và kịp thời của các dự báo về phân bố dân cư, di cư, lao động và đô thị hóa cũng như tái cấu trúc không gian. Đây là cơ sở quan trọng để các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách đưa ra quyết định phù hợp với xu thế phát triển số.

Song song với nghiên cứu, đào tạo về địa lý dân cư cũng cần được đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại. Việc tích hợp các học phần về khoa học dữ liệu, GIS, AI và phân tích dân cư bằng công nghệ số vào chương trình giảng dạy sẽ giúp sinh viên và học viên có năng lực nghiên cứu, phân tích và dự báo theo chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, đào tạo liên ngành kết hợp giữa địa lý, dân số học, công nghệ thông tin và quản trị số sẽ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng thích ứng với những thay đổi trong xã hội số và nền kinh tế tri thức.

Kết quả kỳ vọng của định hướng này là xây dựng một nền tảng nghiên cứu – đào tạo địa lý dân cư hiện đại, gắn liền với chuyển đổi số quốc gia. Điều này không chỉ góp phần nâng cao năng lực khoa học, mà còn hỗ trợ trực tiếp công tác quy hoạch phát triển vùng, đô thị, nông thôn; quản lý dân cư và an sinh xã hội; đồng thời bảo đảm công bằng trong tiếp cận không gian số giữa các khu vực. Như vậy, địa lý dân cư trong bối cảnh chuyển đổi số không chỉ có ý nghĩa học thuật mà còn mang tính thực tiễn sâu sắc, phục vụ phát triển bền vững đến năm 2030 và tầm nhìn xa hơn đến 2045.

5. Kết luận và kiến nghị

Địa lý dân cư là chuyên ngành của khoa học địa lý – quan tâm đến sự khác biệt vùng lãnh thổ của các hiện tượng dân cư. Nó không chỉ nghiên cứu địa lý như là một hiện tượng mà còn nghiên cứu như là một đặc trưng vùng và nhân tố khác biệt vùng.

Địa lý dân cư liên quan đến phân tích khía cạnh không gian – thời gian của các biến số dân cư ở những quy mô lãnh thổ khác nhau. Trước bối cảnh và yêu cầu mới của xã hội ngày nay, đòi hỏi địa lý dân cư cần hoàn thiện hệ thống lý thuyết, giải thích mô hình và các quá trình không gian và mối liên hệ của chúng trên bề mặt trái đất góp phần đề xuất các định hướng phân bố và điều chỉnh dân cư hợp lý, trong đó kiến nghị tập trung vào các đột phá chiến lược:

Đột phá mạnh mẽ về tư duy, nhận thức trong nghiên cứu, khơi thông và phát huy các nguồn lực cho phát triển ngành; đẩy mạnh tính tự chủ trong nghiên cứu; thúc đẩy đột phá về khoa học, công nghệ trên cơ sở đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo triển khai các định hướng và nhiệm vụ nghiên cứu trọng tâm.

Đẩy mạnh triển khai nghiên cứu ứng dụng nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đang đặt ra ở tầm vi mô và vĩ mô theo không gian lãnh thổ và hoạt động phát triển của nền kinh tế. Chủ động phát huy thế mạnh ở các lĩnh vực chuyên ngành sâu của địa lý dân cư, nghiên cứu để tạo cơ sở khoa học, định hướng giải pháp phát triển, phục vụ hoạch định chính sách phát triển lãnh thổ, phát triển ngành ở các quy mô khác nhau.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu triển khai các chiến lược, nhiệm vụ của địa lý dân cư trong bối cảnh và yêu cầu mới đang đặt ra. Xây dựng được đội ngũ nghiên cứu có đủ năng lực, tư duy đổi mới và khả năng tự học tập, góp phần tăng tính chủ động ứng biến với các vấn đề phát sinh, làm chủ và phát triển tri thức hiện thực hóa các chiến lược của kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bộ lao động, Thương binh và Xã hội (1988). Kỷ yếu Hội nghị Khoa học về di dân, H.
  2. Tổng Bí thư Tô Lâm (2024). Một số nội dung cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc; những định hướng chiến lược đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/ky-nguyen-moi-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc-ky-nguyen-phat-trien-giau-manh-duoi-su-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-cong-san-xay-dung-thanh-cong-nuoc-vie (truy cập ngày 02/9/2025)
  3. Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (1998-2025). Đề tài nghiên cứu khoa học các cấp về địa lý dân cư, lưu trữ tại thư viện.

 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com