image banner
VI | EN
Đa dạng hóa các loại hình sinh kế góp phần giảm nghèo bền vững ở Sơn Động
Lượt xem: 6

Nguyễn Thị Hòa

Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững

 

1. Mở đầu

Huyện Sơn Động, trước đây thuộc tỉnh Bắc Giang và từ ngày 1/7/2025 đã thành các xã thuộc tỉnh Bắc Ninh. Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về sinh thái và văn hóa, nhưng cũng là một trong những huyện nghèo nhất vùng trung du và miền núi Bắc Bộ. Địa hình phức tạp, khí hậu phân hóa mạnh, cơ sở hạ tầng yếu kém và dân cư chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số (Dao, Tày, Nùng, Sán Dìu...) khiến đời sống người dân còn nhiều khó khăn. Kinh tế huyện vẫn chủ yếu dựa vào nông – lâm nghiệp quy mô nhỏ, năng suất thấp, thiếu tính ổn định và dễ bị tổn thương trước biến động thị trường cũng như thiên tai.

Trong những năm gần đây, nhờ các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng dân tộc thiểu số, Sơn Động đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo vẫn cao hơn mức trung bình của tỉnh. Đặc biệt, quá trình giảm nghèo chưa thực sự bền vững khi nhiều hộ dễ tái nghèo do sinh kế đơn điệu và thiếu liên kết thị trường.

Trong bối cảnh đó, đa dạng hóa sinh kế gắn với yếu tố văn hóa bản địa được xem là hướng đi khả thi, vừa giúp người dân mở rộng cơ hội thu nhập, vừa phát huy giá trị văn hóa truyền thống, bảo tồn bản sắc dân tộc, đồng thời tạo ra sản phẩm du lịch đặc trưng. Việc lồng ghép văn hóa vào sinh kế không chỉ là chiến lược phát triển kinh tế mà còn là cách tiếp cận nhân văn, phù hợp với tinh thần “giảm nghèo gắn với phát huy nội lực cộng đồng” mà Chính phủ Việt Nam đang hướng tới.

2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng khung sinh kế bền vững DFID (1999), coi sinh kế là tổng hòa của năm loại vốn – con người, tự nhiên, vật chất, tài chính và xã hội – được sử dụng để đạt mục tiêu sống và phát triển. Tuy nhiên, trong điều kiện vùng miền núi có nhiều dân tộc thiểu số như Sơn Động, nghiên cứu này bổ sung thêm vốn văn hóa (cultural capital) như một cấu phần quan trọng của hệ sinh kế. Vốn văn hóa bao gồm tri thức dân gian, phong tục, tập quán, nghề truyền thống, lễ hội và mối liên hệ tinh thần giữa con người với thiên nhiên. Đây là yếu tố vừa định hướng hành vi sản xuất, vừa tạo nên bản sắc riêng cho sản phẩm địa phương, góp phần tăng giá trị và sức cạnh tranh của sinh kế.

Về phương pháp, nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng. Nhóm tác giả tiến hành khảo sát 100 hộ dân tại các xã đại diện cho vùng cao và vùng thấp, đồng thời phỏng vấn sâu 10 cán bộ địa phương và hộ dân tiêu biểu. Các tài liệu thứ cấp từ báo cáo phát triển kinh tế – xã hội, chương trình giảm nghèo và thống kê dân cư được sử dụng để đối chiếu và phân tích. Dữ liệu được xử lý theo hướng tổng hợp – so sánh – khái quát hóa, nhằm làm rõ mối quan hệ giữa đa dạng hóa sinh kế, yếu tố văn hóa và mục tiêu giảm nghèo bền vững.

3. Thực trạng nghèo và sinh kế tại huyện Sơn Động

Điều kiện tự nhiên của Sơn Động đặc trưng bởi địa hình đồi núi cao, bị chia cắt mạnh, độ dốc lớn, khí hậu cận nhiệt đới ẩm phân hóa rõ rệt theo mùa và độ cao. Những đặc điểm này ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, nhất là các mô hình phụ thuộc thời tiết. Kinh tế huyện vẫn chủ yếu dựa vào nông – lâm nghiệp, trong khi công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển chậm, quy mô nhỏ lẻ, hiệu quả thấp.

Người dân chủ yếu canh tác các cây trồng truyền thống như lúa, ngô, rau màu, kết hợp chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm và khai thác lâm sản tự nhiên. Một số cây ăn quả như cam, bưởi, nhãn, chuối đã được phát triển tại các vùng đồi dốc, nhưng năng suất và đầu ra chưa ổn định. Lâm nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu sinh kế: năm 2024, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 885,5 tỷ đồng, bằng 105,3% so với năm 2023. Tuy vậy, sản xuất rừng trồng còn ngắn hạn, giá trị gia tăng thấp, chịu nhiều rủi ro thị trường.

Theo báo cáo rà soát hộ nghèo, cận nghèo năm 2024 của UBND huyện Sơn Động, toàn huyện có 2.176 hộ nghèo (10,26%) và 1.952 hộ cận nghèo (9,20%). Hộ nghèo, cận nghèo là người dân tộc thiểu số có 2.467 hộ, chiếm tỷ lệ 59,76% so với tổng số hộ nghèo, cận nghèo. Hộ nghèo, cận nghèo không có khả năng lao động là 262 hộ, chiếm tỷ lệ 6,34% trên tổng số. Các nguyên nhân chính của nghèo gồm: thiếu đất sản xuất (825 hộ), không có vốn sản xuất kinh doanh (1.649 hộ); không có lao động (487 hộ); thiếu công cụ/phương tiện sản xuất (680 hộ); thiếu kiến thức về sản xuất (543 hộ); thiếu kỹ năng lao động sản xuất (1.398 hộ); gia đình có người ốm đau, bệnh nặng, tai nạn (496 hộ) và nguyên nhân khác (77 hộ). Mặc dù tỷ lệ hộ nghèo giảm trung bình 4–5%/năm, song công tác giảm nghèo vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là tình trạng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ, năng lực lập kế hoạch và triển khai dự án còn yếu ở cấp cơ sở.

Sinh kế của đa số hộ dân vẫn đơn điệu, dễ tổn thương và thiếu tính bền vững. Các sinh kế phụ như thu hái sản vật rừng, làm thuê thời vụ, buôn bán nhỏ chỉ mang tính tạm thời. Hoạt động phi nông nghiệp như thương mại, du lịch, dịch vụ mới xuất hiện cục bộ tại các xã có giao thông thuận lợi, chưa tạo được tác động lan tỏa rộng.

4. Đa dạng hóa sinh kế trong giảm nghèo bền vững

Trong bối cảnh đặc thù của Sơn Động, đa dạng hóa sinh kế được coi là chiến lược trọng tâm nhằm giúp hộ dân giảm phụ thuộc vào nông – lâm nghiệp truyền thống, đồng thời mở rộng cơ hội tạo thu nhập và giảm rủi ro. Việc đa dạng hóa bao gồm phát triển đồng thời nhiều hoạt động sản xuất – dịch vụ phù hợp với lợi thế địa phương, chẳng hạn như kết hợp trồng trọt – chăn nuôi – trồng rừng – du lịch cộng đồng – sản xuất thủ công – hay tham gia hợp tác xã.

Năm 2024, toàn huyện triển khai 19 dự án đa dạng hóa sinh kế với tổng vốn hơn 10 tỷ đồng, đạt 89,36% kế hoạch giải ngân. Các mô hình chủ yếu tập trung vào nuôi bò, nuôi ong, trồng dược liệu, trồng cây ăn quả, sản phẩm OCOP và du lịch sinh thái. Trong đó, mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng (ba kích, đẳng sâm, hà thủ ô) tại Tuấn Đạo, An Lạc và Tây Yên Tử; nuôi ong lấy mật tại Dương Hưu, Phúc Sơn; và du lịch cộng đồng tại Tuấn Mậu, Tây Yên Tử được đánh giá có tiềm năng phát triển mạnh nếu được hỗ trợ đầu ra và kỹ thuật. Tuy nhiên, quy mô các mô hình còn nhỏ, thiếu tính liên kết chuỗi, năng lực quản lý sản xuất – tiêu thụ còn hạn chế, và khó tiếp cận nguồn vốn đầu tư mở rộng.

Việc đa dạng hóa sinh kế không chỉ giúp người dân tăng thu nhập mà còn góp phần bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường sinh thái. Mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng, nuôi ong, trồng rừng gỗ lớn hay du lịch cộng đồng đều có khả năng tạo ra giá trị kép: kinh tế – xã hội – môi trường, qua đó hỗ trợ mục tiêu giảm nghèo bền vững và phát triển vùng miền núi. Các mô hình này thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế – sinh thái – văn hóa, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên thực tế cho thấy quy mô của các mô hình còn nhỏ, thiếu tính liên kết và chưa có chiến lược phát triển thương hiệu bài bản. Nhiều mô hình vẫn phụ thuộc vào hỗ trợ ban đầu của Nhà nước, thiếu khả năng tự duy trì lâu dài.

5. Các yếu tố tác động đến sinh kế theo khung DFID mở rộng

Phân tích các loại vốn sinh kế theo khung DFID mở rộng cho thấy:

Vốn con người: Phần lớn lao động ở Sơn Động chưa qua đào tạo chuyên sâu, còn gắn bó với sản xuất nông nghiệp và những nghề thủ công truyền thống của cha ông để lại. Dù tỷ lệ lao động có kỹ năng nghề mới chỉ đạt khoảng 30%, song người dân nơi đây lại sở hữu một kho tàng kinh nghiệm quý báu trong trồng rừng, thu hái dược liệu và chế biến sản phẩm thảo mộc. Những tri thức tích lũy qua nhiều thế hệ ấy không chỉ giúp họ thích ứng với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt mà còn là nền tảng vững chắc để phát triển các mô hình sinh kế dựa trên tri thức bản địa.

Vốn tự nhiên: Sơn Động được thiên nhiên ưu đãi với diện tích rừng rộng lớn, những dòng suối trong, thác cao và cảnh quan hùng vĩ. Đây là điều kiện thuận lợi để hình thành các mô hình sinh kế nông – lâm kết hợp, cũng như phát triển du lịch sinh thái cộng đồng, đặc biệt ở vùng Tây Yên Tử. Tuy nhiên, bên cạnh lợi thế đó, việc khai thác rừng chưa hợp lý, tình trạng suy giảm diện tích rừng tự nhiên và hạn chế trong quy hoạch đất đai vẫn đặt ra nhiều thách thức cho quá trình phát triển bền vững.

Vốn vật chất: Cơ sở hạ tầng của huyện những năm gần đây đã có bước cải thiện, song vẫn còn nhiều bất cập. Nhiều tuyến đường giao thông liên xã đã được nâng cấp, nhưng chưa tạo thành mạng lưới kết nối liên hoàn, khiến việc vận chuyển hàng hóa, nông sản còn khó khăn. Các công trình thủy lợi, kho bảo quản và cơ sở chế biến chưa được đầu tư đồng bộ, làm hạn chế khả năng tiêu thụ và nâng giá trị sản phẩm nông – lâm nghiệp địa phương.

Vốn tài chính: Tiếp cận nguồn vốn là trở ngại thường trực đối với nhiều hộ gia đình. Do thiếu tài sản thế chấp và thủ tục vay phức tạp, không ít hộ nghèo và cận nghèo khó có điều kiện đầu tư mở rộng sản xuất. Hạn mức cho vay còn thấp, trong khi nhu cầu vốn để phát triển sinh kế đa dạng lại lớn, khiến việc chuyển đổi mô hình sản xuất hoặc thử nghiệm các hướng đi mới gặp nhiều trở ngại.

Vốn xã hội: Người dân Sơn Động có đời sống cộng đồng bền chặt, tinh thần tương trợ cao và duy trì nhiều hình thức sinh hoạt tập thể truyền thống. Các tổ chức như hội phụ nữ, hội nông dân, đoàn thanh niên hoạt động sôi nổi, góp phần gắn kết các nhóm dân cư. Tuy nhiên, mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị chưa thực sự hình thành rõ nét; hợp tác xã và tổ hợp tác còn hoạt động rời rạc, thiếu nguồn lực và kỹ năng quản lý. Việc củng cố mạng lưới xã hội này là yếu tố quan trọng để nâng cao sức mạnh cộng đồng trong phát triển sinh kế.

Vốn văn hóa: Đây là nguồn lực đặc trưng và giàu tiềm năng nhất của Sơn Động. Trải qua bao thế hệ, các cộng đồng Dao, Tày, Nùng đã tạo dựng và gìn giữ một kho tàng tri thức bản địa phong phú – từ cách trồng và sử dụng dược liệu, nghề nuôi ong, làm rượu thảo mộc, đến những phong tục, lễ hội, bài hát và trang phục phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Những giá trị văn hóa này không chỉ nuôi dưỡng bản sắc mà còn ẩn chứa tiềm năng kinh tế to lớn. Việc khai thác hợp lý “vốn văn hóa” – chẳng hạn thông qua du lịch cộng đồng, sản xuất sản phẩm OCOP hay gìn giữ nghề thủ công truyền thống – có thể trở thành động lực mới cho phát triển sinh kế bền vững, giúp người dân vừa “làm giàu” từ di sản, vừa bảo tồn những giá trị gốc của quê hương.

6. Các giải pháp đa dạng hóa sinh kế

Để phát triển sinh kế bền vững và giảm nghèo hiệu quả, cần thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp sau:

(1) Phát triển nguồn nhân lực gắn với văn hóa bản địa: Tăng cường đào tạo nghề gắn với tri thức truyền thống, chẳng hạn như kỹ thuật trồng và chế biến dược liệu, chế tác sản phẩm thủ công, làm du lịch cộng đồng, hướng dẫn viên bản địa. Chú trọng vai trò của phụ nữ và thanh niên dân tộc thiểu số – lực lượng cầu nối giữa truyền thống và đổi mới.

(2) Nhân rộng mô hình sinh kế dựa vào giá trị văn hóa: Khuyến khích phát triển sản phẩm đặc trưng mang yếu tố văn hóa như rượu thảo mộc Dao, mật ong rừng, dược liệu dưới tán rừng, đồ thủ công mỹ nghệ. Kết hợp du lịch trải nghiệm văn hóa với tiêu thụ sản phẩm địa phương.

(3) Tăng cường liên kết sản xuất – tiêu thụ theo chuỗi giá trị: Thúc đẩy hợp tác xã và tổ hợp tác hoạt động gắn với OCOP, hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm gắn địa danh Sơn Động, quảng bá trên các nền tảng số, hội chợ và tuyến du lịch Tây Yên Tử.

(4) Đẩy mạnh du lịch cộng đồng – du lịch văn hóa: Phát triển các điểm du lịch sinh thái gắn với làng văn hóa dân tộc; bảo tồn nghề truyền thống, ẩm thực, lễ hội; khuyến khích người dân làm homestay, dịch vụ hướng dẫn, biểu diễn nghệ thuật dân gian.

(5) Nâng cao khả năng tiếp cận vốn và chính sách hỗ trợ: Đơn giản hóa thủ tục vay vốn, nâng hạn mức cho hộ nghèo, ưu tiên các mô hình gắn với bảo tồn văn hóa – sinh thái.

(6) Nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy giá trị văn hóa: Tuyên truyền để người dân hiểu rằng bảo tồn văn hóa chính là cách giữ gìn sinh kế; khơi dậy niềm tự hào bản sắc, tinh thần tự lực và ý thức phát triển dựa trên nguồn lực nội sinh.

Kết luận và khuyến nghị

Giảm nghèo bền vững ở Sơn Động không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là bài toán văn hóa – xã hội. Đa dạng hóa sinh kế cần được nhìn nhận như quá trình vừa khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên, vừa phát huy tri thức văn hóa bản địa. Khi “vốn văn hóa” được coi là một phần của “vốn sinh kế”, các mô hình phát triển sẽ có tính bền vững cao hơn, đồng thời tạo ra sự gắn kết cộng đồng, tăng niềm tự hào dân tộc và bảo tồn bản sắc địa phương.

Thực tiễn Sơn Động cho thấy, việc kết hợp giữa trồng dược liệu, phát triển sản phẩm OCOP và du lịch văn hóa cộng đồng không chỉ mang lại thu nhập mà còn góp phần gìn giữ tri thức truyền thống. Đó là hướng đi khả thi để các vùng miền núi nói chung và Sơn Động nói riêng đạt được mục tiêu “thoát nghèo bền vững” trên nền tảng văn hóa – sinh thái đặc trưng của chính địa phương mình.

 

Tài liệu tham khảo

1. Chambers, R. & Conway, G. (1992), Sustainable Rural Livelihoods: Practical Concepts for the 21st Century, IDS Discussion Paper 296, Institute of Development Studies, Brighton, UK.

2. DFID (1999), Sustainable Livelihoods Guidance Sheets, Department for International Development, London.

3. Ellis, F. (2000), Rural Livelihoods and Diversity in Developing Countries, Oxford University Press, Oxford.

4. Đinh Thị Hà Giang (2017), Nghiên cứu đề xuất giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại Vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ Khoa học bền vững, Đại học Quốc gia Hà Nội.

5. Nguyễn Đăng Hiệp Phố (2016), “Tiếp cận lý thuyết khung sinh kế bền vững DFID trong nghiên cứu sinh kế của người Mạ ở Vườn quốc gia Cát Tiên”, Tạp chí Khoa học – Đại học Đồng Nai, Số 2/2016, tr. 101–112.

6. Nguyễn Thị Thu Hương (2021), Nghiên cứu sinh kế bền vững của hộ nông dân nuôi trồng thủy sản vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế, Luận án Tiến sĩ Kinh tế nông nghiệp, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế.

7. Phạm Mỹ Duyên (2020), Sinh kế giảm nghèo bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

8. UBND huyện Sơn Động (2024), Báo cáo kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ có mức sống trung bình huyện Sơn Động năm 2024, Số 220/BC-UBND ngày 10/12/2024.

9. UBND huyện Sơn Động (2024), Báo cáo kết quả ước thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững năm 2024, Số 538/BC-UBND ngày 16/12/2024.

10. UBND tỉnh Bắc Giang (2024), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật Lâm nghiệp năm 2017 và đề xuất định hướng sửa đổi, bổ sung Luật Lâm nghiệp, Số 23/BC-UBND ngày 30/4/2024.

 

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com