image banner
VI | EN
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt: một số vướng mắc trong quá trình thực hiện
Lượt xem: 27

 

Trong những năm gần đây, công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt và chất thải nhựa đã trở thành một trong những thách thức lớn đối với mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam. Nhằm củng cố cơ sở khoa học và thực tiễn phục vụ việc hoàn thiện chính sách, nâng cao hiệu quả quản lý các loại chất thải này, đặc biệt trong bối cảnh Cục Môi trường đang triển khai sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, cơ quan này đã phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức hội thảo lấy ý kiến về những khó khăn, vướng mắc, đồng thời định hướng sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt và chất thải nhựa.

 

Chiều ngày 31/3, Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) đã tổ chức hội thảo theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến nhằm thu thập ý kiến về các bất cập trong công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải nhựa, cũng như đề xuất nội dung sửa đổi, hoàn thiện Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.

 

Phát biểu tại hội thảo, ông Hồ Kiên Trung – Phó Cục trưởng Cục Môi trường – cho biết việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 tại các địa phương vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Hoạt động phân loại chất thải rắn và chất thải nhựa hiện chủ yếu mới dừng ở mức thí điểm, chưa được triển khai một cách thực chất và đồng bộ, dẫn đến hiệu quả chưa cao.

 

 

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là một trong những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến môi trường, sức khỏe cộng đồng và phát triển kinh tế tuần hoàn. Mặc dù Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 (sau đây viết tắt là Luật BVMT) đã tạo khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, song thực tiễn triển khai cho thấy: (i) Chính sách chưa đi vào cuộc sống trên diện rộng; (ii) Hạ tầng kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu phân loại; (iii) Cơ chế tài chính chưa tạo động lực thị trường; (iv) Tỷ lệ chôn lấp còn cao, chưa phù hợp định hướng phát triển bền vững.

 

Vì vậy việc sửa đổi là cấp thiết, nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn nêu trên và thúc đẩy thực hiện kinh tế tuần hoàn tại Việt Nam. Quan điểm sửa đổi, bổ sung như sau: (1) Tiếp tục chuyển từ quản lý CTRSH sang quản lý tài nguyên; (2) Chính quyền địa phương là cơ quan tổ chức thực hiện; (3) Giảm sự phụ thuộc vào ngân sách nhà nước; (4) Phù hợp điều kiện thực tiễn và có lộ trình thực hiện.

 

Vì vậy, dự thảo sửa đổi luật lần này là cơ hội giúp chính sách quản lý, phân loại hoàn thiện hơn thông qua nhận diện vướng mắc để chỉnh sửa, góp ý, cụ thể sẽ sửa đổi một số nội dung như sau: Nội dung quản lý CTRSH trong Luật BVMT được quy định tại Điều 72 và từ Điều 75 đến Điều 80. Theo đó, nội dung Điều 72 quy định về yêu cầu quản lý chất thải nói chung trong đó có quản lý chất thải rắn sinh hoạt (điểm d và điểm đ Khoản 1 Điều 72); Điều 75 quy định về phân loại, lưu giữ, chuyển giao CTRSH; Điều 76 quy định điểm tập kết, trạm trung chuyển CTRSH; Điều 77 quy định về thu gom, vận chuyển CTRSH; Điều 78 quy định về xử lý CTRSH; Điều 79 quy định về chi phí thu gom, vận chuyển, xử lý CTRSH và Điều 80 quy định về xử lý ô nhiễm, cải tạo môi trường bãi chôn lấp CTRSH.

 

Trong phiên hội thảo xin ý kiến có hai bài trình bày do PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đề xuất sửa đổi các quy định về quản lý CTRSH tại Luật Bảo vệ  môi trường năm 2020.

 

Bà Hạnh cho hay, Hiện nay, nhiều địa phương cho rằng nguyên tắc phân loại chất thải tại khoản 1 Điều 75 chưa thực sự hợp lý. Vừa phân theo tính chất của chất thải (có khả năng tái sử dụng, tái chế), vừa phân theo loại hình cụ thể (chất thải thực phẩm, chất thải rắn sinh hoạt khác, chất thải nguy hại, chất thải cồng kềnh).

 

Vì vậy, nhiều địa phương kiến nghị Luật nên phân thành 2 nhóm chất thải: nhóm có khả năng tái sử dụng, tái chế và nhóm còn lại khác. Như vậy sẽ tạo điều kiện linh hoạt cho địa phương áp dụng theo lộ trình. Bà cũng chỉ ra điểm nghẽn khi các địa phương đến thời điểm này chưa có địa phương nào thực hiện phân loại CTRSH trên toàn tỉnh. Chất thải thực phẩm chiếm từ 40% đến 60% tổng khối lượng CTRSH. Nhiều địa phương hiện không có hạ tầng riêng cho thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải thực phẩm. Có 13/34 tỉnh không có hạ tầng cho xử lý riêng Chất thải thực phẩm. Từ đó, bà Hạnh kiến nghị phân loại chất thải rắn tại nguồn thành 2 loại là chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải rắn sinh hoạt khác. Bên cạnh đó, cần phân quyền cho địa phương chủ động phân loại chất thải rắn sinh hoạt, Trung ương thực hiện chức năng giám sát.

 

          Trong đó có các đại biểu cũng có những quan điểm đồng tình như, bà Nguyễn Thị Hoài Linh, hoạt động trong tổ chức phi chính phủ về lĩnh vực môi trường, cho rằng nên giao cho chính quyền địa phương chủ trì việc phân loại chất thải rắn tại nguồn, bởi các tỉnh có đặc thù khác nhau, cơ sở hạ tầng khác nhau, thậm chí mục đích sau phân loại cũng khác nhau. Đề xuất cơ chế giám sát từ trung ương đến địa phương, giám sát cộng đồng (hỗ trợ hệ thống online và chính phủ điện tử). Đồng thời cần có cơ chế khuyến khích sản xuất phân compost nhưng không bán được cho người tiêu dùng (người nông dân) và hạ tầng cần được đồng bộ thì người dân mới dễ thực hiện. Ngoài ra, cũng cần có hướng dẫn cho các đơn vị tái chế (như sổ tay hướng dẫn doanh nghiệp tái chế CTRSH).

 

Bên cạnh đó, nhấn mạnh việc đồng bộ giữa đầu vào, đầu ra trong phân loại, xử lý chất thải rắn là rất quan trọng, bà Linh dẫn chứng thực tế có đơn vị làm phân compost nhưng tiêu thụ không tốt nên đành ngừng… rồi kiến nghị nên có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đơn vị tái chế, phân loại rác. Ngoài ra, theo bà Linh, nên tạo niềm tin cho người dân rằng việc phân loại rất quan trọng chứ không phải "tốn công, vô ích".

 

          Bà Ms. Hoa. Greenhub cũng đưa ra vai trò của Ủy ban nhân dân tỉnh, tỉnh cần chủ động hơn trong quản lý chất thải rắn; cần có lộ trình triển khai, cơ sở hạ tầng triển khai việc tái chế, tái sử dụng hiệu quả, phân loại rác tại nguồn.

 

                                               

Bà Hà, Đại học KHTN ĐQQGHN đưa ra các ý kiến như: (i) Làm rõ khái niệm sản phẩm tái chế: cần phân biệt giữa sản phẩm sử dụng nguyên liệu tái chếsản phẩm có thể tái chế, để luật quy định rõ ràng, dễ áp dụng;(ii) Phân loại chất thải: nên giữ ba nhóm theo lộ trình. Tuy nhiên hiện nay khó khăn vì thiếu cơ sở hạ tầng để tái sử dụng hiệu quả chất thải hữu cơ. Nếu có quy định bắt buộc và xử phạt thì việc phân loại sẽ khả thi;(iii) Cơ chế hỗ trợ tài chính: đề nghị miễn thuế, hỗ trợ vay vốn hoặc chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào cơ sở tái sử dụng chất thải hữu cơ (sản xuất phân bón, sản phẩm khác).(iv) Thu gom rác thải: kiến nghị thống nhất màu sắc xe và thùng rác trên toàn quốc để dễ nhận diện, còn kích thước thì do Bộ Tài chính và Kinh tế quy định;(v) Nguyên tắc linh hoạt: trong tư vấn kỹ thuật cần có cơ chế linh hoạt để phù hợp với từng lĩnh vực, giúp việc triển khai thuận lợi hơn.

 

          Tóm lại: Ms. Hà nhấn mạnh sự rõ ràng trong khái niệm, giữ ba nhóm phân loại theo lộ trình, cần cơ chế tài chính hỗ trợ tái chế hữu cơ, và thống nhất hệ thống thu gom rác thải.

 

            Tại hôi thảo cũng đề xuất thu phí rác thải theo khối lượng, ông Nguyễn Hồng Nguyên, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP HCM, chung nhận xét quy định phân loại chất thải rắn thành 3 khiến các địa phương gặp khó khăn nhất định. Theo ông, việc tái chế chất thải hữu cơ từ thực phẩm rất cần được thu gom tái chế. Tuy nhiên, tái chế cần phải đáp ứng công nghệ mới làm phân bón, thức ăn chăn nuôi và không phải nơi nào cũng đủ điều kiện thực hiện.

 

Ông Nguyên cũng kiến nghị sớm có hướng dẫn, thống nhất quy chuẩn để thu giá dịch vụ theo thể tích, khối lượng. Đồng thời, sớm hướng dẫn giải quyết vướng mắc liên quan đến giá, thuế, xuất hóa đơn trong chuỗi thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt. 

 

Theo những ý kiến đóng góp, Phó Cục trưởng Cục Môi trường Hồ Kiên Trung cho biết sắp tới Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ sửa đổi Điều 72 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Theo đó, xem sản phẩm tái chế là hàng hóa được lưu thông trên thị trường. Đối với chất thải chưa phải là sản phẩm tái chế thì cố gắng tái chế, tái sử dụng nếu đáp ứng điều kiện về nguyên liệu, nhiên liệu cho hoạt động sản xuất khác...

 

Nguồn bài viết: Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com