image banner
VI | EN
Mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO (UCCN): Một số vấn đề đặt ra đối với Việt Nam
Lượt xem: 10

 

TS. Lê Hồng Ngọc

Phòng Địa lý kinh tế và Phát triển bền vững

 

 

Bài viết này cung cấp bức tranh tổng quan về Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO Creative Cities Network - UCCN) - một trong những sáng kiến toàn cầu thuộc Nền tảng các Thành phố của UNESCO và giới thiệu các Thành phố Sáng tạo của Việt Nam được UNESCO công nhận thuộc UCCN. Qua đó, bài viết chỉ ra một số vấn đề UCCN đặt ra đối với Việt Nam.

 

 

Đặt vấn đề

 

Trong bối cảnh các mô hình đô thị mới lần lượt ra đời có sức lan tỏa và ảnh hưởng nhất định - thậm chí trở thành cuộc đua trong khu vực và toàn cầu, các thành phố sáng tạo nổi lên như một xu hướng hướng đến việc tạo dựng một môi trường thúc đẩy sự sáng tạo với mật độ cao trong không gian đô thị, đề cao giá trị của mạng lưới kết nối và hợp tác, phù hợp với nguồn lực và khát vọng của từng thành phố, đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội (Trương Văn Quảng, 2025). Các thành phố sáng tạo ngày càng đóng vai trò trung tâm trong các chương trình phát triển đô thị tại nhiều khu vực trên thế giới, với sự đa dạng về cách thức các đô thị tận dụng các ngành công nghiệp văn hóa để thúc đẩy tăng trưởng và gắn kết xã hội (Kubištová & Stoffelen, 2026). Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp văn hóa cũng nổi lên như một chất xúc tác mạnh mẽ cho sự phát triển của các đô thị, thúc đẩy các quan tâm học thuật về cách thức tận dụng mối quan hệ giữa các thành phố và tầng lớp sáng tạo (Liu & các cộng sự, 2024). Tuy nhiên, các thành phố sáng tạo có mức độ đổi mới và tăng trưởng cao nhưng cũng tiềm ẩn những xung đột phát sinh giữa thương hiệu và chính sách của khu vực đô thị, trong đó các lợi ích kinh tế thường được ưu tiên và chỉ những giá trị bổ sung hoặc ít nhất không mâu thuẫn với sự sáng tạo được chú trọng (Alsayel & các cộng sự, 2022). Chưa kể đến, xu hướng lan tỏa xuyên biên giới này cũng tạo ra những quan ngại học thuật về sự đồng bộ giữa các chính sách đô thị và tính khả thi về dài hạn (Tran, 2025).

 

Mặc dù còn nhiều tranh luận, ngày càng có nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang khẳng định tầm quan trọng của mô hình thành phố sáng tạo và các ngành công nghiệp văn hóa như một động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, song song với củng cố tài nguyên và góp phần vào sự phát triển bền vững của văn hóa đô thị (Pourzakarya, 2022). Trong số các sáng kiến, Mạng lưới Thành phố Sáng tạo của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO Creative Cities Network - UCCN) là một trong những mạng lưới đổi mới quốc tế đầu tiên về trao đổi và hợp tác giữa các thành phố nhằm tận dụng văn hóa và sự sáng tạo trong quá trình phát triển đô thị bền vững (UNESCO, 2024). Sau đợt công nhận vào năm 2025, UCCN phát triển trở thành một mạng lưới toàn cầu hoàn chỉnh với 408 thành phố tại hơn 100 quốc gia trải rộng khắp các khu vực trên toàn thế giới (UNESCO, 2026). Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng và đủ điều kiện để có các thành phố tham gia vào UCCN (Trương Văn Quảng, 2025). Quá trình chuyển đổi chính sách quản trị văn hóa của Việt Nam cũng đã và đang diễn ra trong bối cảnh lan tỏa toàn cầu của các thành phố sáng tạo (Tran, 2025). Đến nay, Việt Nam đã có 04 Thành phố Sáng tạo được UNESCO công nhận thuộc UCCN: Hà Nội, Hội An, Đà Lạt và Thành phố Hồ Chí Minh.

 

1. Mạng lưới các Thành phố Sáng tạo của UNESCO (UCCN)

 

Được thành lập vào năm 2004, UCCN tập trung vào việc phát huy văn hóa và sự sáng tạo, thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia thành viên của UNESCO và công nhận chính quyền của các thành phố là nhân tố chủ chốt cho sự phát triển bền vững (UNESCO, 2024). UCCN hướng đến các mục tiêu: Tăng cường hợp tác quốc tế giữa các thành phố đã nhận thức được tính sáng tạo là yếu tố chiến lược cho sự phát triển bền vững; khuyến khích và nâng cao các sáng kiến do các thành phố dẫn dắt nhằm đưa tính sáng tạo trở thành một thành phần thiết yếu của phát triển đô thị, đặc biệt thông qua các quan hệ đối tác có sự tham gia của khu vực công và tư; tăng cường việc sản xuất, phân phối và phổ biến các hoạt động và sản phẩm văn hóa; phát triển các trung tâm sáng tạo và đổi mới, mở rộng cơ hội cho các chuyên gia và nhà sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa; cải thiện khả năng tiếp cận và tham gia vào đời sống văn hóa và sự hưởng thụ sản phẩm văn hóa, đặc biệt của các nhóm và cá nhân yếu thế hoặc dễ bị tổn thương trong xã hội; tích hợp đầy đủ văn hóa và sáng tạo vào các chiến lược và kế hoạch phát triển địa phương.

 

Với sự hỗ trợ của UNESCO, UCCN cam kết phát triển và phổ biến các chính sách và thực tiễn thành công, tăng cường sự đóng góp của các cộng đồng địa phương vào  phát triển bền vững toàn cầu thông qua văn hóa và sự sáng tạo, tăng cường hợp tác quốc gia và quốc tế hướng đến những tiến bộ hữu hình về gắn kết xã hội, thúc đẩy văn hóa, phát triển kinh tế, cải thiện vị thế vì lợi ích của các thành phố. UCCN hoạt động ở cả cấp độ thành phố và cấp độ quốc tế thông qua các lĩnh vực: Chia sẻ kiến thức, thực hành tốt nhất và kinh nghiệm; thí điểm các dự án, quan hệ đối tác và sáng kiến liên kết khu vực công - tư; thúc đẩy các chương trình và mạng lưới trao đổi chuyên môn; nghiên cứu, khảo sát và đánh giá kinh nghiệm; khuyến khích các chính sách và biện pháp phát triển đô thị bền vững; phổ biến các hoạt động truyền thông và nâng cao nhận thức (UNESCO, 2020). UCCN bao trùm 08 lĩnh vực sáng tạo: Kiến trúc, thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật dân gian, thiết kế, điện ảnh, ẩm thực, văn học, nghệ thuật truyền thông và âm nhạc (UNESCO, 2026). Mặc dù mỗi thành phố được UNESCO chỉ định là Thành phố sáng tạo trong một lĩnh vực cụ thể, UCCN cũng thúc đẩy các cách tiếp cận liên ngành và đa lĩnh vực đối với văn hóa và sự sáng tạo.

 

Thông qua quá trình sàng lọc kỹ thuật nội bộ của Ban Thư ký UNESCO và đánh giá ngoài của các chuyên gia độc lập và các thành phố thành viên của UCCN, một thành phố có thể được UNESCO chỉ định là Thành phố sáng tạo dựa trên các thế mạnh và giá trị gia tăng trong lĩnh vực văn hóa và sáng tạo, nội dung và tác động, phạm vi tiếp cận và lan tỏa của các kế hoạch hành động được đề xuất (UNESCO, 2026). Thành phố đó phải chứng minh được tiềm năng đóng góp của mình vào tầm nhìn và mục tiêu tổng thể của UCCN, các cam kết đối với nhiệm vụ ưu tiên của UNESCO về thúc đẩy hợp tác, đoàn kết, đối thoại ở mọi cấp độ và thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 về Phát triển Bền vững (gọi tắt là Chương trình Nghị sự 2030). Các tiêu chí đánh giá cũng là những cam kết của thành phố ứng cử, bao trùm các vấn đề chính: (1) Động lực đăng ký, các cơ hội phát triển chính và những thách thức cần giải quyết, tầm nhìn phát triển toàn cầu; (2) Quy trình đăng ký có sự tham gia trực tiếp của chính quyền địa phương, của các bên liên quan; (3) lợi thế so sánh về chiến lược phát triển hoặc hành động sáng kiến nhằm tăng cường vai trò của văn hóa và sáng tạo trong phát triển kinh tế - xã hội; và (4) đóng góp vào việc đạt được mục tiêu của UCCN. Sự trao tặng danh hiệu này là sự công nhận về chất lượng, tính phù hợp và tính khả thi của chiến lược và kế hoạch hành động được đề xuất trong hồ sơ đăng ký, tập trung vào một lĩnh vực sáng tạo nhưng cũng được khuyến khích liên kết cộng hưởng với các lĩnh vực sáng tạo khác (UNESCO, 2026).

 

 

Số lượng các Thành phố Sáng tạo được UNESCO công nhận thuộc UCCN

Nguồn: Tổng hợp từ UNESCO (2026)

 

Sau hơn hai thập kỷ, UCCN đã và đang cho thấy vai trò như một nền tảng thí nghiệm cho các ý tưởng có giá trị, giúp các thành phố đóng góp vào sứ mệnh của UNESCO và Chương trình Nghị sự 2030 - đặc biệt là Mục tiêu Phát triển Bền vững số 11 “Các thành phố và cộng đồng bền vững”. Ở cấp độ địa phương, UCCN là một nền tảng năng động cho chính quyền của các địa phương và các bên liên quan hợp tác và thực hiện các dự án văn hóa và sáng tạo, tạo thuận lợi cho sự đổi mới thể chế và phối hợp liên ngành, xúc tác cho sự phát triển đô thị toàn diện và bền vững. Ở cấp độ quốc gia, UCCN thúc đẩy các cơ chế phối hợp địa phương - quốc gia - khu vực, khuyến khích các chính phủ xây dựng các chiến lược quốc gia tập trung vào khu vực đô thị và tối đa hóa tiềm năng của tư cách thành viên, truyền cảm hứng và mang lại kết quả cụ thể. Ở cấp độ quốc tế, UCCN tăng cường tầm ảnh hưởng toàn cầu của các thành phố thành viên, tạo thuận lợi cho sự hợp tác quốc tế, góp phần vào các sáng kiến song phương và đa phương trong các lĩnh vực sáng tạo, tăng cường sự hiện diện về mặt địa lý ở các khu vực chưa được đại diện đầy đủ.

 

Nhìn chung, UCCN đã và đang tạo ra những cầu nối cho phép các thành phố dễ dàng thích ứng và áp dụng các sáng kiến đổi mới sáng tạo, qua đó tạo ra một khuôn khổ thúc đẩy phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo. Tuy nhiên, UCCN cũng gặp phải không ít thách thức: Sự tăng cường hợp tác đa phương giữa các thành phố thành viên ở mọi cấp độ làm gia tăng tính bền vững thông qua văn hóa nhưng đòi hỏi trình độ nhân lực và cơ sở hạ tầng cao hơn; việc mở rộng cơ hội xây dựng năng lực giúp thu hút các nguồn lực chất lượng cao nhưng yêu cầu đào tạo tương xứng; việc lồng ghép tối ưu hóa hoạt động của thành phố sáng tạo cần sự hiệp lực về mặt chính trị và hành chính, sự tham gia của thị trường, sự liên kết của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo, vai trò của truyền thông... (UNESCO, 2026). Do đó, triển vọng của UCCN có sự phụ thuộc rất lớn vào mức độ tương tác hiệu quả và mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa các thành phố thành viên trong bối cảnh và quy mô UCCN ngày càng mở rộng.

 

2. Các Thành phố Sáng tạo của Việt Nam được UNESCO công nhận thuộc UCCN

 

Kể từ khi trở thành thành viên chính thức của UNESCO vào năm 1975, Việt Nam đã và đang đảm nhận nhiều vai trò quan trọng trong các cơ chế và sáng kiến của UNESCO. Tính đến hết năm 2025, Việt Nam có 04 Thành phố Sáng tạo được UNESCO công nhận thuộc UCCN, lần lượt là:

 

Hà Nội - Thành phố Sáng tạo Thiết kế (năm 2019) sở hữu một nền văn hóa đa tầng với cốt lõi là sự sáng tạo và mô hình phát triển đô thị mới dựa trên sự tôn vinh các di sản văn hóa và sự phát triển của công nghệ (UNESCO, 2026). Theo đó, Hà Nội hướng đến sự phát triển bền vững dựa trên thiết kế thấu cảm và đổi mới vì lợi ích xã hội; hỗ trợ mạng lưới các không gian sáng tạo nuôi dưỡng tài năng sáng tạo trong tương lai trong lĩnh vực thiết kế và công nghệ; tạo ra một chương trình sự kiện sáng tạo đầy tham vọng nhằm thúc đẩy và bảo vệ di sản văn hóa Hà Nội; tham gia vào các dự án và chiến lược trong khuôn khổ UCCN nhằm thúc đẩy tư duy thiết kế sáng tạo và phát triển đô thị bền vững; trao đổi kiến thức với các Thành phố Thiết kế Sáng tạo và thúc đẩy thiết kế và đổi mới sáng tạo trên khắp Đông Nam Á; phát triển một khuôn khổ giáo dục sáng tạo để đào tạo ra những sinh viên tốt nghiệp có kỹ năng cho nền kinh tế mới.

 

Hà Nội - Thành phố Sáng tạo Thiết kế của UCCN (năm 2019)

Nguồn: https://hanoicreativecity.com/

 

Hội An - Thành phố Sáng tạo Thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật dân gian (năm 2023) xác định việc bảo tồn các kỹ thuật nghệ thuật truyền thống của nghề thủ công và nghệ thuật dân gian địa phương là mục tiêu trọng điểm (UNESCO, 2026). Theo đó, Hội An hướng đến việc tận dụng công nghệ mới và mạng xã hội để quảng bá và nâng cao các sáng kiến văn hóa địa phương; cử đại biểu hàng năm và hai năm một lần tham gia các diễn đàn quốc tế và các dự án hợp tác liên quan đến bảo tồn di sản, phát triển văn hóa và thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật dân gian; thiết lập quan hệ đối tác phát triển văn hóa và liên ngành với các thành phố thành viên và không phải thành viên của Mạng lưới ở cấp quốc gia.

 

Hội An - Thành phố Sáng tạo Thủ công mỹ nghệ và nghệ thuật dân gian của UCCN (năm 2023)

Nguồn: https://hoiancreativecity.com

 

Đà Lạt - Thành phố Sáng tạo Âm nhạc (năm 2023) tích cực phát triển ngành công nghiệp âm nhạc bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư tài trợ cơ sở hạ tầng cần thiết và tổ chức các sự kiện quy mô lớn (UNESCO, 2026). Theo đó, Đà Lạt hướng đến việc hành động để bảo tồn và phát huy di sản và truyền thống âm nhạc của tất cả cư dân, đặc biệt là các dân tộc thiểu số tham gia vào dự án Không gian Cồng chiêng Lang Biang; khai thác âm nhạc và, nói chung hơn là văn hóa và sự sáng tạo, cho sự phát triển bền vững và thiết lập sức mạnh tổng hợp; tăng cường hợp tác giữa các đối tác quốc tế và địa phương, đặc biệt là với các thành phố thành viên khác, bằng cách tổ chức diễn đàn đối tác hai năm một lần.

 

Đà Lạt - Thành phố Sáng tạo Âm nhạc của UCCN (năm 2023)

Nguồn: https://dalatcreativecity.com/

 

Mới đây nhất, Thành phố Hồ Chí Minh - Thành phố Sáng tạo Điện ảnh (năm 2025) được UNESCO công nhận thuộc UCCN - là trung tâm sản xuất và phân phối phim lớn nhất cả nước, là nơi tổ chức nhiều không gian sáng tạo đa dạng cùng với các liên hoan phim và các tác phẩm điện ảnh được công nhận cả trong nước và quốc tế (UNESCO, 2026). Theo đó, Thành phố Hồ Chí Minh hướng đến việc tăng cường các chính sách và không gian hỗ trợ các nghệ sĩ sáng tạo, mở rộng cơ hội tham gia văn hóa trong cộng đồng, tăng cường chia sẻ kiến thức và hợp tác với các thành phố đối tác trên toàn thế giới.

 

Thành phố Hồ Chí Minh - Thành phố Sáng tạo Điện ảnh của UCCN (năm 2025)

Nguồn: https://hochiminhcityfilm.com/

 

3. Một số vấn đề UCCN đặt ra cho Việt Nam

 

Khi quá trình đô thị hóa tiếp tục diễn ra trên toàn thế giới, việc đánh giá tình trạng phát triển và tính bền vững của các thành phố là rất quan trọng (Stern & Kissinger, 2025). Khu vực đô thị là nơi nuôi dưỡng chính cho sự phát triển của các chiến lược, chính sách và sáng kiến mới nhằm đưa văn hóa và sự sáng tạo trở thành động lực thúc đẩy phát triển bền vững và giải quyết các thách thức đương đại của toàn cầu - đây là vai trò đã được ghi nhận trong Chương trình Nghị sự 2030 (UNESCO, 2026). Văn hóa và sự sáng tạo được công nhận là yếu tố then chốt trong quá trình quy hoạch phát triển đô thị - đây là điều mà UCCN khẳng định và hướng tới (Arcos-Pumarola & các cộng sự, 2023).

 

Một mặt, các thành phố là trung tâm của các quá trình phát triển dựa trên tiềm năng của văn hóa và sự sáng tạo, động lực thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới; mặt khác, văn hóa và sự sáng tạo đóng vai trò quan trọng trong phát triển đô thị bền vững thông qua những đóng góp vào việc đa dạng hóa nền kinh tế và cấu trúc xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống và trải nghiệm của người dân, thúc đẩy sự tham gia và tái tạo không gian công cộng... (UNESCO, 2020). Tuy nhiên, với tầm quan trọng ngày càng lớn của các ngành công nghiệp văn hóa và sự sáng tạo dưới áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt giữa các thành phố trong việc thu hút các nguồn lực phát triển như đầu tư và lao động, các thành phố phải tự định vị và xây dựng thương hiệu như những điểm đến sáng tạo (Gathen & các cộng sự, 2020). Ví dụ, tư cách thành viên UCCN cũng không tự động đảm bảo hiệu quả của các hoạt động hợp tác giữa các thành phố sáng tạo và cũng đòi hỏi các chiến lược tổng hợp xây dựng thương hiệu mạnh mẽ hơn (Rosi, 2014).

 

UCCN mở đường cho việc nuôi dưỡng và chứng minh vai trò thiết yếu của văn hóa và sự sáng tạo trong phát triển đô thị bền vững, đặt văn hóa và sự sáng tạo làm trọng tâm của quá trình phát triển đô thị, tạo dựng một nền tảng toàn cầu cho sự trao đổi và hợp tác nhằm khám phá các hướng đi mới cho sự phát triển bền vững của các đô thị (UNESCO, 2020). Thực nghiệm cho thấy việc tham gia UCCN và xây dựng thương hiệu Thành phố sáng tạo đem đến nhiều lợi ích - đáng chú ý là sự trao đổi kiến thức, thực hành tốt nhất và kinh nghiệm thực tiễn - qua đó tạo dựng bản sắc thương hiệu riêng biệt, tăng cường sự hiện diện truyền thông và nâng cao niềm tự hào của các cộng đồng (Gathen & các cộng sự, 2020). Việc khai thác tư cách thành viên UCCN thường được thực hiện như một công cụ xây dựng thương hiệu trong khuôn khổ các chiến lược truyền thông địa phương để thu hút các nguồn lực và/hoặc hợp tác hiệu quả trong mạng lưới để xây dựng bản sắc mạnh mẽ hơn, hướng đến việc củng cố hình ảnh và thương hiệu của các thành phố dựa trên những hành động chung hiệu quả và được công nhận (Rosi, 2014). Vì vậy, cần phải nghiên cứu sâu rộng hơn các sáng kiến, phương pháp và mô hình khác nhau được thực hiện bởi các thành viên của UCCN để xác định được các thực hành tốt nhất và bài học kinh nghiệm (Arcos-Pumarola & các cộng sự, 2023).

 

Tại Việt Nam, việc xây dựng thương hiệu đô thị trở thành một phần của chiến lược phát triển và quy hoạch thành phố (Trần Thanh Quang, 2013). Tuy nhiên, quá trình phát triển và hiện đại hóa các thành phố đã và đang làm biến mất nhiều di sản, đòi hỏi công tác quản lý và bảo tồn các di sản trong quá trình phát triển và biến đổi đô thị phải gìn giữ được các giá trị văn hóa - lịch sử của di sản cũng như khai thác những giá trị này trở thành lợi ích kinh tế - xã hội cho địa phương và quốc gia (Nguyễn Thị Diệu Hương, 2021). Đồng thời, tư duy hướng tới đô thị di sản trong quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa mạnh mẽ tại một số thành phố lớn như Hà Nội, Huế hay Thành phố Hồ Chí Minh cần có sự chuyển dịch để phù hợp với bối cảnh phát triển không ngừng thay đổi (Ngô Minh Hùng, 2017). Việc tham gia các mạng lưới kết nối toàn cầu không chỉ góp phần huy động nguồn lực phát triển mà còn tạo điều kiện chia sẻ và tiếp thu tri thức, từ đó nâng cao khả năng sáng tạo và đổi mới cho các địa phương trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

 

Đối với Việt Nam, UCCN có ý nghĩa và nhiều gợi mở quan trọng: Danh hiệu Thành phố Sáng tạo giúp các đô thị khẳng định sự công nhận và tôn vinh các giá trị di sản văn hóa của cộng đồng quốc tế, chia sẻ tri thức và cơ hội phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo; qua đó tạo ra một môi trường thuận lợi cho đổi mới và sáng tạo, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong sự kết hợp với các giá trị sáng tạo hiện đại, nâng cao ý thức và hành động của cộng đồng về tầm quan trọng của di sản văn hóa đối với phát triển, tìm kiếm các giải pháp đổi mới sáng tạo cho các vấn đề phát triển đô thị, nâng cao hình ảnh và thương hiệu của thành phố trên bản đồ thế giới, thu hút khách du lịch và nhà đầu tư quốc tế, củng cố nền tảng giáo dục và đào tạo liên quan đến nghệ thuật và sáng tạo, tạo ra nhiều cơ hội việc làm trong các ngành công nghiệp văn hóa và các lĩnh vực liên quan, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và môi trường sống phong phú hơn... từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững hơn. Bên cạnh những cơ hội để quảng bá văn hóa, tiếp nhận hỗ trợ tài chính và kỹ thuật, khuyến khích đầu tư và du lịch, phát triển cộng đồng sáng tạo... việc được công nhận cũng tạo ra các thách thức đối với các đô thị của Việt Nam trong việc cạnh tranh với các thành phố khác nhằm thu hút sự chú ý và đầu tư, áp lực lên cơ sở hạ tầng và tài nguyên của thành phố, cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo tồn các giá trị văn hóa, đầu tư thời gian và ngân sách cho các chương trình và dự án phát triển phù hợp...

 

Với bề dày lịch sử và di sản văn hóa phong phú, các thành phố của Việt Nam cần tập trung vào việc bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống như kiến trúc, âm nhạc, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn... Việc công nhận sẽ tạo thêm động lực và nguồn lực để phát triển các chương trình bảo tồn di sản văn hóa. Trước tiên, các đô thị tại Việt Nam cần xác định và đánh giá cơ sở mặt lý luận và thực tiễn về Thành phố Sáng tạo và UCCN, trong đó đặc biệt chú trọng đến công tác đánh giá tiềm năng đáp ứng các tiêu chí để trở thành một Thành phố Sáng tạo thuộc UCCN và dự báo, ước tính giá trị, lợi ích và chi phí khi được công nhận. Xuất phát từ việc tìm hiểu các tiêu chí và quy trình, tiêu chuẩn của UNESCO, các địa phương cần nghiên cứu các thành phố đã được công nhận để đánh giá và học hỏi kinh nghiệm từ các mô hình thành công - đặc biệt là Hà Nội, Hội An, Đà Lạt và Thành phố Hồ Chí Minh để tận dụng những lợi thế trong nước, tổ chức các cuộc khảo sát đối với lĩnh vực văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo để đánh giá các nguồn lực và tiềm năng hiện có, tham vấn các bên liên quan...

 

Trên cơ sở đó, các đô thị của Việt Nam cần xác định lĩnh vực chủ chốt hướng đến việc được công nhận Thành phố Sáng tạo thuộc UCCN. Lĩnh vực văn hóa sáng tạo này phải là lĩnh vực mà địa phương có lợi thế cạnh tranh và có mức độ đáp ứng cao nhất các tiêu chí đối với lĩnh vực tương ứng. Từ đó, các địa phương cần xây dựng chiến lược, lộ trình và kế hoạch hành động cụ thể từng lĩnh vực sáng tạo được lựa chọn để phát triển toàn diện lĩnh vực này đặt trong mối quan hệ với các lĩnh vực văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo còn lại, bao gồm các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn để đáp ứng các tiêu chí của UNESCO. Những kết quả đánh giá là cơ sở quan trọng trong quá trình đệ trình hồ sơ để nghị UNESCO công nhận Thành phố Sáng tạo thuộc UCCN. Các tài liệu và chứng minh trong hồ sơ cần tuân thủ quy trình, đầy đủ và chính xác - đây cũng là một vấn đề quan trọng mà các địa phương cần kết hợp với các thành phố đã được công nhận để học hỏi kinh nghiệm và cung cấp hỗ trợ kỹ thuật phù hợp để nâng cao khả năng được công nhận. Quá trình này cũng đòi hỏi có sự tham gia của nhiều bên liên quan từ các Bộ, ngành và cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương các cấp, các nhà khoa học, các nhà giáo dục, cộng đồng nghệ sĩ và các nhà sáng tạo văn hóa, người dân địa phương... cũng như các chuyên gia quốc tế trong các lĩnh vực liên quan để đảm bảo tỷ lệ thành công cao hơn. Đồng thời, các địa phương cũng cần thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong việc ứng dụng các giá trị văn hóa truyền thống vào đời sống hiện đại, bao gồm việc phát triển các sản phẩm văn hóa độc đáo và tạo ra các sản phẩm văn hóa hiện đại dựa trên di sản văn hóa truyền thống. Việc trở thành Thành phố Sáng tạo cũng đưa đến cho các địa phương cơ hội kết nối với các thành phố khác trong UCCN, giúp chia sẻ kinh nghiệm và những mô hình thành công trong việc thu hút các nguồn lực và hợp tác quốc tế.

 

Ngoài ra, các thành phố cũng cần tăng cường giáo dục cộng đồng về giá trị của di sản văn hóa truyền thống và tác động của sáng tạo đối với sự phát triển bền vững, không chỉ giúp cộng đồng hiểu và trân trọng di sản mà còn khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động sáng tạo. Các thành phố cần thiết kế các chương trình giáo dục và đào tạo tại các trường nghệ thuật, văn hóa và sáng tạo nhằm nâng cao kỹ năng cho người lao động trong lĩnh vực sáng tạo như văn học, nghệ thuật thiết kế và di sản song song với kết nối với các cơ sở giáo dục - đào tạo và tổ chức nghệ thuật quốc tế để trao đổi kinh nghiệm và kiến thức nhằm tạo điều kiện cho các nghệ sĩ và nhà sáng tạo có thể nhận được tài trợ, học bổng hoặc hỗ trợ trong việc học hỏi và nhận được hướng dẫn trong quá trình phát triển nghề nghiệp, khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa và sáng tạo. Các thành phố cũng cần tổ chức các hoạt động truyền thông, giáo dục công cộng nhằm tăng cường nhận thức của cộng đồng về văn hóa, di sản văn hóa và tầm quan trọng của sáng tạo nhằm thúc đẩy sự tham gia của người dân vào các hoạt động văn hóa và sáng tạo, giúp xây dựng lòng tự hào về di sản và văn hóa của địa phương.

 

Đáng chú ý, sự cam kết của chính quyền địa phương đối với việc tham gia UCCN là vô cùng quan trọng và có nhiều tác động đến phát triển đô thị không chỉ tạo ra những thuận lợi trong việc gia nhập mạng lưới mà còn đóng vai trò quyết định trong việc hiện thực hóa các lợi ích mà mạng lưới này mang lại. Các thành phố của Việt Nam cũng cần chú trọng các quỹ hỗ trợ cho các dự án văn hóa và sáng tạo từ sự hợp tác giữa chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng. Đồng thời, các địa phương cũng cần có sự linh hoạt trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ từ tổ chức quốc tế và các dự án hợp tác để phát triển các hoạt động văn hóa. Đặc biệt, các thành phố cần thiết lập hệ thống đánh giá để theo dõi và đo lường hiệu quả của các hoạt động văn hóa, căn cứ vào đó điều chỉnh ngân sách và chính sách phù hợp.

 

Kết luận

 

Nhìn chung, việc tham gia vào một hoặc các mạng lưới toàn cầu có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của một đô thị thông qua sự hợp tác và chia sẻ các nguồn lực một cách hiệu quả, qua đó thúc đẩy quá trình tăng trưởng bền vững của địa phương. UCCN là một kênh thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường sự sáng tạo và làm giàu cho các cộng đồng di sản, qua đó khuyến khích sự phát triển bền vững của các thành phố. Trong thực tế, rất nhiều thành phố trên khắp thế giới đã và đang tận dụng UCCN để chuyển đổi các tài sản văn hóa và sáng tạo độc đáo của họ trở thành nguồn lực đổi mới và phát triển bền vững trên quy mô toàn cầu. Do vậy, việc học hỏi kinh nghiệm từ những thành phố này có giá trị thực tiễn không nhỏ và là điều cần thiết. Các thành phố của Việt Nam là minh chứng cho di sản văn hóa độc đáo vốn có của quốc gia, chứa đựng nhiều giá trị vô giá và tiềm năng phát triển. Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển của các đô thị này đang đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức giữa bảo tồn các giá trị di sản văn hóa và khai thác các nguồn lực để tăng trưởng kinh tế - xã hội. Để đảm bảo tương lai bền vững của đô thị, việc tìm kiếm và áp dụng các giải pháp sáng tạo nhằm cân bằng và hài hòa mối quan hệ này là điều cấp thiết đối với các thành phố trong bối cảnh mới. Việt Nam hoàn toàn có thể cân nhắc nhưng cần thận trọng đối với việc tham gia UCCN như một cơ hội chuyển đổi, tăng trưởng, đồng thời cũng là một thách thức đổi mới, sáng tạo đối với khu vực đô thị tại Việt Nam.

 

Tài liệu tham khảo

 

1.            Alsayel, A., Jong, M., & Fransen, J. (2022). Can creative cities be inclusive too? How do Dubai, Amsterdam and Toronto navigate the tensions between creativity and inclusiveness in their adoption of city brands and policy initiatives?. Cities 128, 103786.

 

2.             Arcos-Pumarola, J., Paquin, A. G., & Sitges, M. H. (2023). The use of intangible heritage and creative industries as a tourism asset in the UNESCO creative cities network. Heliyon 9(1), e13106.

 

3.             Gathen, C., Skoglund, W., & Laven, D. (2020). The UNESCO Creative Cities Network: A case study of city branding. New Metropolitan Perspectives, 727-737.

 

4.             Kubištová, T., & Stoffelen, A. (2026). Path dependency and creative convergence: A comparative study of cultural and creative cities in Europe. Cities 171, 106753.

 

5.             Liu, F., Dai, J., Liu, Y., Cheng, S. & He, Y. (2024). The dual organization services and governance for creative cities: A case of Hengdian World Studios. Cities 149, 105001.

 

6.             Ngô Minh Hùng (2017). Đô thị di sản và một số nền tảng tạo nét đặc trưng nghiên cứu điển hình: TP Hà Nội - Huế - Hồ Chí Minh (Sài Gòn). Xây dựng, 9, 223-225.

 

7.             Nguyễn Thị Diệu Hương (2021). Bảo tồn di sản trong quá trình phát triển và biến đổi đô thị ở Việt Nam. Khoa học Kiến trúc & Xây dựng, 40, 37-40.

 

8.             Pourzakarya, M., & Bahramjerdi, S. F. N. (2022). Reviewing the role of cultural and creative industries in developing an urban cultural policy platform in Rasht city, Iran. Journal of Place Management and Development 16(2), 145-162.

 

9.             Rosi, M. (2014). Branding or sharing?: The dialectics of labeling and cooperation in the UNESCO Creative Cities Network. City, Culture and Society 5(2) 107-110.

 

10.        Stern, A., & Kissinger, M. (2025). A multi-perspective framework for assessing urban well- being, development and sustainability. Habitat International, 156, 103269.

 

11.        Tran, T. (2025). On and beyond the Creative City: Performative narratives, policy translation, and frontiers of ‘splashing’ acts. City, Culture and Society 42, 100654.

 

12.        Trần Thanh Quang. (2013). Đô thị di sản & Xây dựng thương hiệu. Kiến trúc Việt Nam, 12, 28-30.

 

13.        Trương Văn Quảng. (2025). Thành phố sáng tạo xu hướng phát triển mới. Quy hoạch Đô thị 57-58, 22-27.

 

14.        United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (UNESCO). (2020). UNESCO Creative Cities Network for sustainable development.

 

15.        United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (UNESCO). (2024). Impacts of UNESCO Creative Cities Network at local, national & international level.

 

16.        United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (UNESCO). (2026). Creative Cities Network. Retrieved March 01, 2026, from https://www.unesco.org/en/creative-cities

 

Nguồn bài viết: Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững.
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com