Chuyển đổi số và tái cấu trúc không gian kinh tế quốc gia: khi không gian số trở thành một tầng phát triển
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới đã đặt "không gian số" vào cùng một cấu trúc với đất liền, vùng biển, vùng trời và không gian ngầm. Đây không chỉ là một bổ sung về câu chữ, mà phản ánh một chuyển dịch có tính nền tảng trong tư duy tổ chức lãnh thổ: chuyển đổi số không còn là công cụ hỗ trợ quản lý, mà đã trở thành một lực lượng trực tiếp tái cấu trúc không gian kinh tế của đất nước.
1. Từ không gian hành chính sang không gian chức năng
Một trong những nội dung đáng chú ý nhất của Nghị quyết
số 27-NQ/TW là yêu cầu chuyển từ tổ chức không gian phát triển theo địa giới
hành chính tỉnh, thành phố sang tổ chức theo chức năng, tiềm năng, lợi thế,
điều kiện tài nguyên, môi trường và liên kết vùng, liên kết ngành. Yêu cầu này
được đặt ra trong bối cảnh cả nước vận hành theo 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh
và mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tức là khi bản đồ hành chính đã thay
đổi căn bản nhưng bản đồ kinh tế thực tế còn đang định hình.
Chính ở điểm giao này, chuyển đổi số giữ vai trò then
chốt. Việc xác định "chức năng" của một tiểu vùng hay một địa bàn
không thể dựa trên cảm nhận hành chính, mà phải dựa trên bằng chứng: dòng hàng
hóa, dòng lao động, dòng vốn, cường độ sử dụng đất, khả năng chịu tải môi
trường. Đây đều là những đại lượng chỉ có thể quan sát liên tục và ở độ phân
giải đủ nhỏ thông qua dữ liệu số - ảnh viễn thám, dữ liệu di động, dữ liệu giao
dịch điện tử, dữ liệu hải quan, dữ liệu doanh nghiệp. Không có nền tảng dữ liệu
này, chủ trương tổ chức không gian theo chức năng rất dễ quay trở lại lối mòn
phân bổ theo ranh giới hành chính.
2. Hạ tầng số và logic phân bố mới của hoạt động kinh tế
Lý thuyết địa lý kinh tế cổ điển giải thích phân bố sản
xuất chủ yếu bằng chi phí vận chuyển, khả năng tiếp cận thị trường và lợi thế
tài nguyên. Chuyển đổi số bổ sung thêm một nhóm yếu tố định vị mới: năng lực hạ
tầng số, khả năng cung ứng điện ổn định cho trung tâm dữ liệu, độ trễ đường
truyền, mức độ sẵn sàng của dữ liệu dùng chung và nguồn nhân lực công nghệ.
Nghị quyết số 27-NQ/TW yêu cầu phát triển các cụm trung tâm dữ liệu quốc gia
gắn với các vùng động lực và cực tăng trưởng, đồng thời hình thành chuỗi liên
kết giữa khu công nghệ cao, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và khu công
nghệ số cho từng vùng.
Hệ quả không gian của định hướng này có hai chiều ngược
nhau và cần được nhìn nhận đồng thời. Một mặt, số hóa làm giảm ma sát của
khoảng cách, cho phép một hộ sản xuất ở miền núi tiếp cận thị trường toàn quốc
qua nền tảng thương mại điện tử, hay một đơn vị tư vấn hoạt động ngoài các đô
thị lớn. Mặt khác, các hoạt động có hàm lượng tri thức và dữ liệu cao lại có xu
hướng tập trung mạnh hơn về nơi đã có sẵn hạ tầng, nhân lực và hệ sinh thái đổi
mới sáng tạo. Chuyển đổi số vì vậy vừa mở rộng không gian tham gia, vừa làm sâu
thêm chênh lệch về không gian giá trị gia tăng nếu thiếu chính sách điều tiết.
3. Hành lang kinh tế: trục vật chất đi liền trục dữ liệu
Nghị quyết số 27-NQ/TW ưu tiên phát triển ba hành lang
kinh tế: hành lang Bắc - Nam trên cơ sở trục giao thông Bắc - Nam phía Đông;
hành lang Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; và hành lang Mộc Bài -
Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu. Điểm mới về mặt kỹ thuật là trục
Bắc - Nam được xác định tích hợp đồng thời đường bộ, đường sắt, hạ tầng năng
lượng, cáp quang và logistics.
Cách tiếp cận tích hợp này cho thấy hành lang kinh tế
hiện đại không còn là một tuyến giao thông đơn thuần, mà là một bó hạ tầng
trong đó hạ tầng số là thành phần cấu trúc chứ không phải phần lắp thêm. Đối
với nghiên cứu địa lý kinh tế, điều đó đặt ra yêu cầu đánh giá hiệu quả hành
lang bằng một bộ chỉ số rộng hơn: không chỉ lưu lượng vận tải và giá trị hàng
hóa thông qua, mà cả mật độ doanh nghiệp số, tỷ lệ giao dịch điện tử, mức độ
liên thông dữ liệu giữa các địa phương trên cùng hành lang.
4. Dữ liệu như một công cụ điều phối vùng
Nghị quyết xác định xây dựng cơ chế liên kết, điều phối
vùng thực chất, hiệu quả là khâu đột phá, trong đó yêu cầu bảo đảm đồng bộ,
liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ
nguồn lực. Việc đặt "dữ liệu" ngang hàng với quy hoạch, đầu tư và hạ tầng
trong cùng một chuỗi liên thông là một tín hiệu chính sách quan trọng.
Trên thực tế, phần lớn các thất bại của liên kết vùng
thời gian qua không xuất phát từ thiếu ý chí chính trị, mà từ việc các địa
phương không chia sẻ được một nền thông tin chung để cùng nhận diện vấn đề. Khi
mỗi tỉnh có một hệ thống chỉ tiêu, một chu kỳ cập nhật và một định dạng dữ liệu
riêng, mọi cuộc thảo luận về phân công chức năng trong vùng đều thiếu căn cứ so
sánh. Hạ tầng dữ liệu dùng chung cấp vùng vì thế là điều kiện kỹ thuật tiên
quyết để cơ chế điều phối vùng vận hành thực chất.
5. Hai rủi ro không gian cần được theo dõi
Thứ nhất là nguy cơ phân hóa số theo lãnh thổ. Các chỉ
tiêu đến năm 2030 trong Nghị quyết số 27-NQ/TW đặt tỷ trọng giá trị gia tăng
của kinh tế số trong GRDP ở mức 35 - 40% đối với vùng Đông Nam Bộ và 35% đối
với vùng đồng bằng sông Hồng, trong khi vùng trung du và miền núi phía Bắc cũng
như vùng đồng bằng sông Cửu Long ở mức 25 - 30%. Khoảng cách mục tiêu này phản
ánh thực trạng xuất phát điểm khác nhau, nhưng cũng hàm ý rằng nếu không có
chính sách bù đắp, chuyển đổi số có thể trở thành một cơ chế khuếch đại chênh
lệch vùng thay vì thu hẹp.
Thứ hai là rủi ro đứt gãy chuỗi dữ liệu sau sắp xếp đơn
vị hành chính. Việc hợp nhất các tỉnh làm thay đổi đơn vị thống kê cơ sở, khiến
nhiều chuỗi số liệu lịch sử không còn so sánh trực tiếp được với hiện tại. Đây
là vấn đề kỹ thuật nhưng có hệ quả chính sách rất lớn: nếu không xử lý tốt bài
toán hồi quy chuỗi và chuẩn hóa mã đơn vị hành chính, công tác đánh giá tác động
chính sách vùng trong giai đoạn tới sẽ thiếu nền tham chiếu đáng tin cậy.
6. Hàm ý đối với hoạt động nghiên cứu
Những định hướng nêu trên mở ra một không gian nghiên
cứu rộng cho địa lý kinh tế và phát triển bền vững, trong đó nổi lên một số
hướng ưu tiên:
-
Xây dựng bộ chỉ số đo lường mức độ sẵn sàng số của các tiểu vùng và địa bàn,
làm căn cứ xác định chức năng trong quy hoạch vùng.
-
Phân tích tác động của hạ tầng số và trung tâm dữ liệu đến phân bố đầu tư và
việc làm tại các cực tăng trưởng.
-
Nghiên cứu phương pháp bảo đảm tính liên tục của chuỗi dữ liệu thống kê lãnh
thổ sau sắp xếp đơn vị hành chính.
-
Đánh giá hiệu quả liên kết vùng thông qua mức độ liên thông và chia sẻ dữ liệu
giữa các địa phương.
Chuyển đổi số, xét đến cùng, không tự nó tạo ra một
không gian kinh tế hợp lý hơn. Nó tạo ra năng lực quan sát, đo đạc và điều phối
tốt hơn - còn việc không gian kinh tế được tổ chức lại theo hướng nào vẫn là
kết quả của những lựa chọn chính sách cụ thể.
Phòng Địa lý kinh
tế và Phát triển bền vững