Nguyễn
Thị Thục
Phòng
Chiến lược và Chính sách PTBV
Ngày 7/01/2026, Bộ Chính trị ban hành
Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam, lần đầu tiên gắn sức
mạnh mềm với một chỉ tiêu định lượng: phấn đấu vào nhóm ba nước dẫn đầu ASEAN
và nhóm 30 nước dẫn đầu thế giới về Chỉ số sức mạnh mềm quốc gia (Bộ Chính trị,
2026). Việc chuyển một phạm trù vốn mang tính định tính thành chỉ tiêu đo lường
được đặt ra yêu cầu trước tiên là xác định chính xác vị trí hiện tại của Việt
Nam. Bài viết khái quát thực trạng chỉ số này trong tương quan Đông Nam Á và
đối chiếu với mục tiêu của Nghị quyết, từ đó đề xuất một số khuyến nghị.
Trước hết, xét kết quả tổng thể, năm
2026 Việt Nam đạt 40,4 trên thang 100 điểm, xếp thứ 52 trong 193 quốc gia thành
viên Liên hợp quốc và thứ 9 tại châu Á. Tuy thứ hạng giữ nguyên so với năm
2025, nhưng thực chất, điểm số có tăng 0,5 điểm (Brand Finance, 2026). Mức tăng
tuy nhỏ nhưng lại diễn ra khi mặt bằng cảm nhận toàn cầu suy giảm rộng khắp,
cho thấy sự ổn định của nền tảng chứ không phải sự chững lại.
Đáng chú ý hơn thứ hạng tổng thể là
cấu trúc cụ thể các chỉ tiêu thành phần. Ở các chỉ tiêu gắn với trải nghiệm
trực tiếp và triển vọng kinh tế, Việt Nam xếp thứ 14 thế giới về “ẩm thực được
thế giới yêu thích” và thứ 12 về “tiềm năng tăng trưởng tương lai”. Tuy nhiên ở
chiều ngược lại, ở các chỉ tiêu phản ánh chiều sâu văn hóa và năng lực truyền
thông chưa phản ánh đúng tiềm năng: chỉ tiêu “giàu di sản” mới đạt vị trí 49 dù
đã tăng 9 bậc, còn trụ cột Truyền thông và Giao tiếp chỉ ở vị trí 78 (Brand
Finance, 2026).
Xét rộng ra cả khu vực Đông Nam Á,
Việt Nam hiện đứng thứ năm trong ASEAN, sau Singapore (thứ 21), Malaysia (thứ
35), Thái Lan (thứ 38) và Indonesia (thứ 45). Ở phạm vi châu Á, khoảng cách còn
lớn hơn khi Nhật Bản xếp thứ 3 với 70,6 điểm và Hàn Quốc thứ 11 với 59,2 điểm
(Brand Finance, 2026).
Từ thực trạng này có thể thấy, để đạt
được mục tiêu của Nghị quyết số 80-NQ/TW Việt Nam cần đặt ra 02 mục tiêu trước
mắt: vượt qua Indonesia và Thái Lan để vào nhóm ba nước dẫn đầu khu vực, đồng
thời rút ngắn khoảng cách điểm số so với ngưỡng của nhóm 30 nước dẫn đầu thế
giới. Đây thực sự là một thách thức lớn đối với Việt Nam bởi Nghị quyết không
tiếp cận văn hóa như một lĩnh vực riêng biệt. Văn kiện xác định phát triển văn
hóa và con người là “nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn,
trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”, đồng thời yêu
cầu văn hóa thấm sâu tới cả quốc phòng, an ninh và đối ngoại để “thực sự trở
thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới” (Bộ Chính trị, 2026).
Từ những phân tích trên có thể thấy
rằng chỉ số sức mạnh mềm của Việt Nam năm 2026 phản ánh một vị thế ổn định
nhưng có cấu trúc cụ thể các chiếu cạnh còn thiếu cân đối; mạnh ở các chiều nguồn lực và yếu ở năng lực
chuyển hóa. Điều này cho thấy một khoảng cách khá lớn giữa tiềm năng sẵn có của
Việt Nam với khả năng biến tiềm năng ấy thành nhận thức và ảnh hưởng, ghi dấu
ấn đối với công chúng quốc tế. Theo đó, có thể xác định bốn nhóm giải pháp
hướng tới giải quyết các điểm nghẽn như sau:
Thứ nhất, củng cố nền tảng con người và hệ giá
trị thông qua đổi mới nội dung giảng dạy lịch sử, văn hóa, đạo đức và xây dựng
các hình mẫu tinh thần trong xã hội. Đây là điều kiện gốc, bởi giá trị của sức
mạnh mềm chỉ tạo được sức hút với bên ngoài khi được cộng đồng trong nước thực
hành nhất quán (Nye, 2004).
Thứ hai, chuyển hóa di sản thành tài nguyên
sống động, ưu tiên cơ chế trao truyền cho nhóm di sản có nguy cơ mai một cao
nhất. Giải pháp này hướng trực tiếp tới cải thiện thứ hạng 49 ở chỉ tiêu “giàu
di sản”, mức còn khiêm tốn so với bề dày di sản mà Việt Nam đang sở hữu.
Thứ ba, phát triển công nghiệp văn hóa và
phát huy nguồn lực của cộng đồng khoảng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài,
với hành lang pháp lý thu hút đầu tư tư nhân và cơ chế hợp tác có mục tiêu. Đây
là hướng khai thác lợi thế đã được định lượng, khi Việt Nam xếp thứ 14 thế giới
về ẩm thực và thứ 12 về tiềm năng tăng trưởng.
Thứ tư, và cũng là nhóm giải pháp then chốt
nhất, nâng cao năng lực truyền thông quốc tế theo hướng bảo đảm tính chân thực và
chiều sâu thông tin, bởi đây chính là trụ cột Việt Nam đang có thứ hạng thấp
nhất.
Cuối cùng, cần lưu ý rằng bộ chỉ số
này là để đo cảm nhận của công chúng quốc tế chứ không đo trực tiếp năng lực
thực chất của quốc gia. Thứ hạng vì vậy nên được sử dụng như một chỉ báo phản
hồi phục vụ điều chỉnh chính sách chứ không phải như mục tiêu thực tế của quốc
gia Nói cách khác, để tiệm cận mục tiêu mà Nghị quyết số 80-NQ/TW đề ra, trọng
tâm chính sách thời gian tới cần đặt vào khâu chuyển hóa nguồn lực thành ảnh hưởng
quốc tế sâu rộng, thay vì chỉ tiếp tục mở rộng nguồn lực.
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị. (2026). Nghị quyết số
80-NQ/TW ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt
Nam. Hà Nội.
Brand Finance. (2026). Global Soft
Power Index 2026: A global mood shift. Brand Finance, London.
https://brandfinance.com/insights/global-soft-power-index-2026-executive-summary
Đặng Đình Quý. (2024). Sức mạnh mềm
trong quan hệ quốc tế và sức mạnh mềm của Việt Nam trong giai đoạn mới. Tạp chí
Lý luận Chính trị và Truyền thông.
https://lyluanchinhtrivatruyenthong.vn/suc-manh-mem-trong-quan-he-quoc-te-va-suc-manh-mem-cua-viet-nam-trong-giai-doan-moi-p28246.html
Nye, J. S. (2004). Soft power: The
means to success in world politics. Public Affairs, New York.