image banner
VI | EN
Chuyển đổi số và sự thay đổi sinh kế của cộng đồng nông thôn trong bối cảnh mới
Lượt xem: 3

 

ThS. Nguyễn Thị Hòa

Phòng Địa lý Văn hóa, xã hội và Phát triển bền vững

 

Tóm tắt: Tiến trình cải cách hành chính và thúc đẩy chuyển đổi số nông thôn đang đặt ra những yêu cầu mới cho việc phát triển sinh kế bền vững tại các địa bàn miền núi. Bài viết vận dụng khung sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework – SLF) kết hợp với cách tiếp cận về khả năng chống chịu sinh kế và khoảng cách số để phân tích mối quan hệ giữa chuyển đổi số và sự thay đổi sinh kế tại địa bàn nông thôn. Sử dụng dữ liệu khảo sát 100 hộ gia đình tại xã Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Ninh) năm 2025, bài viết tính toán chỉ số đa dạng hóa sinh kế Simpson (LDI) và thực hiện kiểm định ANOVA để so sánh năng lực kinh tế giữa các nhóm hộ theo chiến lược sinh kế. Đồng thời, nghiên cứu đối chiếu với mô hình “Làng sáng tạo nội dung số” tại xã Lâm Bình (Tuyên Quang) và mô hình chuyển đổi số của phụ nữ nông thôn Thanh Hóa như các trường hợp tham chiếu thực tiễn. Kết quả cho thấy một mâu thuẫn đáng chú ý: mặc dù hạ tầng số của địa phương khá tốt (tỷ lệ sử dụng internet đạt trên 95,67%), mức độ đa dạng hóa sinh kế (LDI) vẫn chỉ ở ngưỡng trung bình thấp (0,356). Sự không đồng bộ giữa hạ tầng số và vốn con người (62,2% lao động nông – lâm nghiệp chưa qua đào tạo) là điểm nghẽn cốt lõi của khoảng cách số này. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất định hướng chính sách chuyển trọng tâm từ đầu tư hạ tầng đơn thuần sang phát triển năng lực số, tổ chức lại các chuỗi giá trị và xây dựng mô hình “Làng thông minh” phù hợp với điều kiện địa phương.

 

Từ khóa: Chuyển đổi số, thay đổi sinh kế, sinh kế bền vững, khoảng cách số, Tây Yên Tử.

 

1. Đặt vấn đề

Tiến trình cải cách hành chính và sắp xếp lại các đơn vị lãnh thổ tại Việt Nam không chỉ định hình lại bộ máy quản lý mà còn tác động sâu sắc đến không gian sinh kế của cộng đồng dân cư cấp cơ sở. Đối với các địa bàn miền núi có tính dễ bị tổn thương cao, yêu cầu thích ứng sinh kế trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Địa bàn khảo sát của nghiên cứu là thị trấn Tây Yên Tử, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang; từ ngày 1/7/2025, thị trấn Tây Yên Tử đã sáp nhập với xã Thanh Luận để hình thành xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình sáp nhập và tái cấu trúc địa giới hành chính này đòi hỏi chính quyền địa phương phải kiến tạo những không gian phát triển mới nhằm thúc đẩy tính bền vững cho hệ thống sinh kế cộng đồng.

Trong nghiên cứu về phát triển nông thôn, khung sinh kế bền vững (SLF) của Scoones (1998) là nền tảng được áp dụng rộng rãi để phân tích các nguồn lực và chiến lược của hộ gia đình. Tuy nhiên, lý thuyết truyền thống này bộc lộ hạn chế khi chưa xem xét đầy đủ khía cạnh tổ chức không gian lãnh thổ và sự xâm nhập của các nhân tố công nghệ hiện đại như chuyển đổi số. Gần đây, các học giả đã nhấn mạnh việc tích hợp cách tiếp cận đa quy mô và không gian để hiểu rõ hơn tính động và khả năng thích ứng của sinh kế (Carr, 2019; De Haan & Zoomers, 2005). Do đó, việc nghiên cứu sự chuyển dịch sinh kế nông thôn gắn liền với tiến trình chuyển đổi số và quản trị không gian tích hợp đa quy mô sẽ cung cấp bằng chứng thực tiễn quan trọng, góp phần giải quyết khoảng trống lý luận nêu trên và đóng góp giải pháp trực tiếp cho quá trình chấn hưng nông thôn miền núi hiện nay.

Bài viết tập trung trả lời hai câu hỏi nghiên cứu cốt lõi: (i) Tiến trình chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi nào trong cấu trúc nguồn lực và hoạt động sinh kế của hộ gia đình? (ii) Vì sao một địa bàn có nền tảng hạ tầng số tương đối tốt nhưng mức độ đa dạng hóa sinh kế và khả năng chống chịu thực tế vẫn còn hạn chế? Trọng tâm phân tích là khoảng cách giữa khả năng tiếp cận công nghệ số và năng lực khai thác công nghệ để tạo ra các cơ hội sinh kế, qua đó rút ra những hàm ý chính sách phù hợp cho các khu vực miền núi khó khăn.

 

2. Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp giữa khung sinh kế bền vững (SLF) truyền thống và các lý thuyết hiện đại về chuyển đổi số nông thôn, gồm bốn cấu phần được trình bày dưới đây.

2.1. Cơ sở lý luận

Khung sinh kế bền vững (SLF)

Khung sinh kế bền vững của Scoones (1998) đóng vai trò nền tảng lý luận vĩ mô, phân tích cách thức hộ gia đình kết hợp các nguồn vốn sinh kế (tự nhiên, con người, vật chất, tài chính, xã hội và văn hóa) dưới tác động của bối cảnh dễ bị tổn thương và chính sách để đưa ra các chiến lược sinh kế nhằm đạt kết quả mong muốn. Đa dạng hóa sinh kế là việc một hộ kết hợp nhiều nguồn thu nhập thay vì phụ thuộc vào một hoạt động duy nhất. Đây là chiến lược quan trọng giúp hộ gia đình phân tán rủi ro và nâng cao năng lực kinh tế. Tại Việt Nam, cách tiếp cận này cũng đã được vận dụng trong nhiều nghiên cứu, như phân tích khung sinh kế nói chung của Trịnh Thị Hạnh (2021), nghiên cứu trường hợp vùng ven biển Bắc Trung Bộ của Võ Văn Tuấn và cộng sự (2015), hay nghiên cứu về sinh kế của đồng bào Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long của Vũ Đình Mười (2023).

Chuyển đổi số nông thôn và khả năng chống chịu sinh kế

Chuyển đổi số không chỉ là việc đưa công nghệ, phần mềm hay thiết bị về các bản làng, mà thực chất là quá trình tái cấu trúc phương thức phát triển, thay đổi cách thức tổ chức sản xuất, quản trị cộng đồng và kết nối thị trường. Năng lực làm chủ công nghệ giúp nâng cấp các nguồn lực sinh kế, tăng khả năng tự tổ chức, học tập và thích ứng của cư dân nông thôn trước các cú sốc bên ngoài. Cách hiểu này gắn liền với hướng tiếp cận của Carr (2019) về việc gắn kết khả năng chống chịu với năng lực chủ động chuyển đổi của cộng đồng, thay vì chỉ nhấn mạnh sự ổn định.

Khoảng cách số

Khi hạ tầng số được phổ cập, sự chênh lệch về kỹ năng số và năng lực chuyển hóa tài nguyên số thành kết quả kinh tế có thể làm gia tăng khoảng cách về cơ hội phát triển giữa các nhóm dân cư, qua đó hạn chế tính bao trùm của phát triển. Khoảng cách số được phân chia thành ba cấp độ: (i) tiếp cận hạ tầng số; (ii) sử dụng công nghệ số; và (iii) chuyển hóa công nghệ số thành kết quả sinh kế thực tế – cấp độ được xem là quan trọng nhất nhưng cũng khó đạt được nhất.

              2.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng kết hợp phân tích định lượng từ khảo sát bảng hỏi và phân tích định tính từ phỏng vấn sâu.

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ khảo sát thực địa năm 2025 với mẫu thuận tiện gồm 100 đại diện hộ gia đình tại thị trấn Tây Yên Tử (Nguyễn Thị Hòa, 2025). Nghiên cứu đồng thời thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý, trưởng thôn và đại diện hộ gia đình để thu thập những thông tin có chiều sâu. Dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ các báo cáo phát triển kinh tế – xã hội của UBND thị trấn Tây Yên Tử và UBND huyện Sơn Động giai đoạn 2020–2025 (UBND thị trấn Tây Yên Tử, 2025).

Chỉ số đa dạng hóa sinh kế Simpson (LDI)

Mức độ đa dạng hóa sinh kế của hộ gia đình được đo lường bằng chỉ số Simpson (Livelihood Diversification Index – LDI), tính theo công thức:

LDI = 1 − Σ Pᵢ²

Trong đó, Pᵢ (i = 1, …, n) là tỷ trọng thu nhập đóng góp từ hoạt động sinh kế thứ i vào tổng thu nhập hộ gia đình. Chỉ số LDI dao động từ 0 (hộ phụ thuộc hoàn toàn vào một nguồn thu duy nhất) đến tiệm cận 1 (thu nhập phân bổ đồng đều giữa các hoạt động).

Kiểm định phương sai (ANOVA)

Để so sánh năng lực kinh tế giữa các nhóm chiến lược sinh kế (nông – lâm nghiệp, phi nông nghiệp và đa dạng nghề), nghiên cứu thực hiện kiểm định ANOVA một yếu tố đối với các chỉ tiêu thu nhập trung bình hộ, chi tiêu trung bình hộ và tiết kiệm trung bình hộ, kết hợp kiểm định hậu nghiệm (Post-Hoc) Bonferroni ở mức ý nghĩa 5%.

Phương pháp so sánh trường hợp điển hình

Nghiên cứu đối chiếu thực tiễn Tây Yên Tử với mô hình “Làng sáng tạo nội dung số” tại xã Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang (UBND xã Lâm Bình, 2026; Trần Hồng Quỳnh, 2026) và mô hình du lịch kết hợp bán thổ cẩm, đặc sản qua livestream của phụ nữ nông thôn Thanh Hóa (Nguyễn Thuấn, 2026), nhằm nhận diện các cơ chế tổ chức và đào tạo giúp chuyển hóa công nghệ số thành sinh kế.

 

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Tiến trình tác động: chuyển đổi số → thay đổi nguồn lực → hoạt động → kết quả sinh kế

Kết quả khảo sát cho thấy địa bàn nghiên cứu sở hữu nền tảng hạ tầng số khá ấn tượng so với mặt bằng chung của một địa bàn miền núi: 100% hộ dân sử dụng điện thoại di động và tỷ lệ sử dụng internet đạt trên 95,67% vào năm 2025. Trong lĩnh vực quản trị và dịch vụ công, tỷ lệ giải quyết hồ sơ hành chính công trực tuyến một phần và toàn trình đạt 99,5%, tỷ lệ áp dụng chữ ký số trong quản lý hành chính đạt 100%. Đây là những điều kiện tiền đề thuận lợi để người dân tiếp cận thông tin và thị trường ngoài phạm vi địa bàn.

Hạ tầng số phát triển đã thúc đẩy sự nâng cấp vốn vật chất của hộ gia đình, đặc biệt là nhóm hộ đa dạng hóa ngành nghề – nhóm này sở hữu trung bình 1,75 máy vi tính/laptop mỗi hộ, vượt trội so với các nhóm khác, góp phần giảm bớt lao động thủ công và tạo điều kiện kết nối tri thức.

Tuy nhiên, vốn con người lại bộc lộ điểm nghẽn nghiêm trọng. Trong cơ cấu lao động vẫn do nông – lâm nghiệp chiếm ưu thế tuyệt đối, trình độ học vấn chủ yếu dừng lại ở bậc trung học cơ sở (47,3%) và tiểu học (24,3%). Đặc biệt, 62,2% lao động nông – lâm nghiệp hoàn toàn chưa qua đào tạo chuyên môn, dẫn đến sự thiếu hụt nghiêm trọng về kỹ năng tiếp cận thị trường và năng lực làm chủ công nghệ.

Cơ cấu hoạt động kinh tế tại địa bàn ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ từ thuần nông sang tích hợp dịch vụ. Ngành thương mại – dịch vụ hiện chiếm tỷ trọng lớn nhất với 40,8% cơ cấu giá trị sản xuất năm 2024, vượt qua nông – lâm – thủy sản (19,6%). Bên cạnh đó, các mô hình lâm nghiệp gỗ lớn (khai thác 532 ha rừng trồng, mang lại khoảng 23,3 tỷ đồng) kết hợp với các sinh kế mới dưới tán rừng như nuôi 648 đàn ong lấy mật và phát triển ba dòng sản phẩm OCOP 3 sao (rượu thảo mộc linh, măng mai Tây Yên Tử, nấm lim xanh) đã bước đầu hình thành.

Để đánh giá sự khác biệt về kết quả kinh tế giữa các nhóm chiến lược sinh kế, nghiên cứu tiến hành kiểm định ANOVA một yếu tố. Kết quả chi tiết được tổng hợp tại Bảng 1.

Bảng 1: Kết quả kiểm định ANOVA về các chỉ tiêu kinh tế hộ

Chỉ tiêu kinh tế (triệu đồng/năm)

Nông – lâm nghiệp (N = 60)

Phi nông nghiệp (N = 21)

Đa dạng nghề (N = 15)

F

Sig.

Thu nhập trung bình hộ

105,70ᵃ

188,95ᵇ

208,97ᵇ

11,292

0,000

Chi tiêu trung bình hộ

65,65

99,13

65,61

1,411

0,249

Tiết kiệm trung bình hộ

41,20ᵃ

89,82ᵃᵇ

143,36ᵇ

7,629

0,001

Ghi chú: các ký hiệu a, b thể hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê qua kiểm định hậu nghiệm Post-Hoc Bonferroni ở mức p < 0,05; các giá trị mang cùng ký hiệu không khác biệt có ý nghĩa thống kê với nhau. Biến chi tiêu có p = 0,249 > 0,05 nên sự khác biệt giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê.

Kết quả ANOVA cho thấy đa dạng hóa sinh kế mang lại năng lực tài chính vượt trội. Nhóm đa dạng nghề đạt mức thu nhập cao nhất (208,97 triệu đồng/năm), cao gần gấp hai lần nhóm thuần nông. Trong khi chi tiêu giữa các nhóm tương đối đồng đều (p = 0,249) do các hộ vẫn duy trì mức chi tiêu sinh hoạt cơ bản tương đương, khả năng tích lũy (tiết kiệm) lại có sự bứt phá rõ rệt: nhóm đa dạng nghề đạt mức tiết kiệm cao nhất (143,36 triệu đồng/năm), gấp hơn 3,4 lần nhóm nông – lâm nghiệp.

3.2. Mâu thuẫn khoảng cách số tại địa bàn Tây Yên Tử

Bên cạnh những chuyển dịch tích cực, dữ liệu thực tế tại Tây Yên Tử cũng cho thấy một mâu thuẫn trong quản trị không gian sinh kế: hạ tầng số của địa phương được đầu tư khá tốt, nhưng mức độ đa dạng hóa sinh kế thực tế lại chỉ đạt mức trung bình thấp.

Kết quả tính toán chỉ số Simpson cho thấy LDI trung bình của mẫu khảo sát đạt 0,356, nằm trong ngưỡng đa dạng hóa thấp – trung bình. Phân bố tỷ lệ LDI của 100 hộ khảo sát như sau: mức LDI thấp (dưới 0,3) chiếm 34,1% (31 hộ), thu nhập phụ thuộc hoàn toàn vào một đến hai hoạt động nông – lâm nghiệp truyền thống, dễ bị tổn thương; mức LDI trung bình (0,3–0,6) chiếm tỷ lệ áp đảo với 52,7% (48 hộ), cho thấy đa số hộ đã bước đầu kết hợp từ ba đến bốn nguồn sinh kế ở mức vừa phải; mức LDI cao (0,6–0,8) chỉ chiếm 12,1% (11 hộ); và mức LDI rất cao (trên 0,8) chỉ có 1,1% (1 hộ). Khoảng 9% mẫu khảo sát thiếu thông tin phản hồi chi tiết về thu nhập nên không được xếp nhóm. Sự tập trung của nhóm hộ ở mức LDI trung bình thấp phản ánh thực trạng người dân đã tiếp cận được điện thoại thông minh và internet, nhưng chưa thể chuyển hóa công nghệ này thành phương thức đa dạng hóa sinh kế chất lượng cao.

Nghiên cứu chỉ ra khoảng cách lớn giữa việc tiếp cận công nghệ (hạ tầng vật chất) và khả năng chuyển hóa công nghệ thành sinh kế thực tế. Điểm nghẽn này được giải thích bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng của vốn con người và các rào cản kỹ năng. Khi 62,2% lao động nông – lâm nghiệp chưa qua đào tạo, người dân gặp khó khăn lớn khi tiếp cận các công cụ quản lý hiện đại, thương mại điện tử hoặc các hình thức tiếp thị số cho sản phẩm đặc sản. Trên thực tế, phần lớn việc sử dụng internet mới chỉ dừng lại ở nhu cầu giải trí và liên lạc cơ bản, chưa đi vào chiều sâu sản xuất.

Sự đối chiếu với các địa phương khác chỉ ra hướng đi khả thi để tháo gỡ điểm nghẽn này. Tại xã Lâm Bình (Tuyên Quang), sau sáp nhập địa giới hành chính năm 2025, chính quyền địa phương đã chủ động ban hành Đề án thí điểm “Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch xã Lâm Bình, giai đoạn 2026–2030” và ra mắt sản phẩm du lịch trải nghiệm “Một ngày làm YouTuber” (UBND xã Lâm Bình, 2026). Việc dẫn dắt người dân từ sản xuất tự phát sang có tổ chức đã giúp Lâm Bình thu về hơn 46 tỷ đồng chỉ trong bốn tháng đầu năm 2026 từ các nền tảng số, đóng góp trên 23% ngân sách xã (Trần Hồng Quỳnh, 2026).

Tại Thanh Hóa, các lớp tập huấn kỹ năng livestream thực hành đã giúp phụ nữ vùng cao từng bước sử dụng nền tảng số để quảng bá và bán các sản phẩm như nem chua, hàng dệt thổ cẩm. Theo Nguyễn Thuấn (2026), một số hộ được ghi nhận có doanh thu tăng từ 2–3 lần sau khi áp dụng hình thức bán hàng này.

Các bài học trên cho thấy hạ tầng số chỉ thực sự phát huy hiệu quả đối với sinh kế khi có sự đồng hành và hỗ trợ của chính quyền cơ sở, đặc biệt thông qua việc nâng cao năng lực số và hướng dẫn người dân ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh.

 

4. Các nhóm giải pháp

Để nâng cao tính bền vững và khả năng chuyển hóa công nghệ số tại các địa bàn nông thôn miền núi, nghiên cứu đề xuất năm nhóm giải pháp sau.

Trước hết, định hướng cần chuyển dịch từ việc phủ sóng hạ tầng kỹ thuật sang nâng cao năng lực ứng dụng thực tiễn của người dân. Với lợi thế sẵn có về kết nối internet ổn định tại Tây Yên Tử, các giải pháp chính sách không nên chỉ tập trung vào việc bổ sung thiết bị hay đường truyền, mà cần ưu tiên bồi dưỡng kỹ năng công nghệ phục vụ trực tiếp cho hoạt động kinh tế và sản xuất. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế theo hướng hướng dẫn thực hành trực tiếp, tỉ mỉ và bám sát vào đặc thù của từng mô hình sinh kế cụ thể như kinh doanh trực tuyến, giao dịch số, giới thiệu hàng nông sản OCOP và theo dõi nguồn gốc hàng hóa

Thứ hai, xây dựng mô hình “Làng thông minh” lấy cộng đồng làm trung tâm, dựa trên sự tích hợp giữa thiết chế, con người và công nghệ. Hợp tác xã, tổ hợp tác cần đóng vai trò đầu mối trong việc chuẩn hóa chất lượng, xây dựng câu chuyện thương hiệu và kết nối thị trường tiêu thụ thông qua các nền tảng số.

Thứ ba, gắn kết chuyển đổi số với đa dạng hóa sinh kế: các chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế số cần được lồng ghép trực tiếp vào các mô hình sinh kế có thế mạnh địa phương như du lịch sinh thái cộng đồng, nông nghiệp thông minh và các dịch vụ dưới tán rừng.

Thứ tư, ứng dụng công nghệ bản đồ (GIS) trong quản trị không gian sinh kế, giúp số hóa bản đồ quy hoạch sử dụng đất, theo dõi biến động không gian sinh kế và nhận diện sớm các vùng rủi ro thiên tai để chủ động thích ứng.

Thứ năm, cần xây dựng lộ trình hỗ trợ chuyển tiếp riêng biệt cho nhóm đối tượng yếu thế, không áp dụng một khuôn mẫu chuyển đổi số đồng nhất cho mọi đối tượng. Đối với nhóm lao động lớn tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số hoặc những người có trình độ học vấn hạn chế, công tác bồi dưỡng kỹ năng cần được triển khai trực tiếp theo phương pháp cầm tay chỉ việc, bám sát các mục tiêu nhỏ, cụ thể và có thể định lượng rõ ràng để đảm bảo tính thực chất và tăng cường khả năng thích ứng của họ.

 

Kết luận

Nghiên cứu về chuyển đổi số và đa dạng hóa sinh kế nông thôn tại địa bàn Tây Yên Tử rút ra ba phát hiện cốt lõi.

Trước hết, sự chênh lệch trong tiến trình chuyển đổi số bản chất chính là khoảng cách về mặt năng lực. Sự thiếu đồng bộ giữa tốc độ phát triển của hạ tầng công nghệ vật lý, với tỷ lệ kết nối internet thực tế đã đạt trên 95,67%, và chất lượng nguồn vốn con người, khi vẫn còn tới 62,2% lao động nông lâm nghiệp chưa được đào tạo chuyên môn, chính là rào cản cốt lõi khiến đa dạng hóa sinh kế tại địa bàn dừng ở mức trung bình thấp (LDI = 0,356).

Thứ hai, đa dạng hóa sinh kế là điều kiện quan trọng cho khả năng tích lũy. Kết quả ANOVA cho thấy chiến lược kết hợp nhiều ngành nghề mang lại năng lực kinh tế (thu nhập và tiết kiệm) vượt trội so với việc duy trì sinh kế thuần nông truyền thống – vốn chịu nhiều tổn thương trước biến động khí hậu và thiên tai.

Thứ ba, cần chuyển đổi tư duy quản trị không gian số. Chính sách chuyển đổi số nông thôn cần dịch chuyển từ trọng tâm đầu tư hạ tầng sang kết hợp đồng bộ giữa hạ tầng, kỹ năng, tổ chức thị trường và quản trị không gian tích hợp đa quy mô, nhằm chấn hưng nông thôn bền vững.

Mặc dù vậy, do nghiên cứu được thực hiện dựa trên phương pháp chọn mẫu thuận tiện với quy mô khảo sát giới hạn ở 100 hộ gia đình tại một địa bàn đặc thù, các phát hiện thu được chủ yếu mang ý nghĩa khai phá và gợi mở định hướng ban đầu. Do đó, việc tiếp tục triển khai các nghiên cứu kiểm chứng trên quy mô rộng lớn và đa dạng hơn là yêu cầu thiết thực trước khi có thể phổ quát hóa những kết luận này cho toàn bộ khu vực nông thôn và miền núi nói chung./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Quyết định số 3282/QĐ-BNNMT ngày 17/8/2026 về Kế hoạch truyền thông Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2035, giai đoạn I: 2026–2030.

Carr, E. R. (2019), "Properties and projects: Reconciling resilience and transformation for adaptation and development", World Development, 122, tr. 70–84.

De Haan, L., & Zoomers, A. (2005), "Exploring the frontier of livelihoods research", Development and Change, 36(1), tr. 27–47.

Minh Châu (2025), "Chuyển đổi số nông thôn không chỉ là 'đưa công nghệ về làng'", Báo Đại biểu Nhân dân, ngày 28/12/2025.

Nguyễn Thị Hòa (2025), Đa dạng hóa các loại hình sinh kế góp phần giảm nghèo bền vững cho dân cư huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ cơ sở năm 2025, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững.

Nguyễn Thuấn (2026), "Chuyển đổi số mở sinh kế mới cho phụ nữ nông thôn", VnEconomy, ngày 24/1/2026.

Scoones, I. (1998), Sustainable Rural Livelihoods: A Framework for Analysis, IDS Working Paper 72, Brighton: Institute of Development Studies.

Trần Hồng Quỳnh (2026), "Tác động của chuyển đổi số tới cấu trúc sinh kế, lao động ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhìn từ xã Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang", Tạp chí Nghiên cứu Dân tộc và Tôn giáo, ngày 17/7/2026.

Trịnh Thị Hạnh (2021), Phát triển bền vững dưới góc nhìn của khung sinh kế, Đại học Công nghiệp Hà Nội.

UBND thị trấn Tây Yên Tử (2025), Báo cáo tổng kết kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội (05 năm) giai đoạn 2021–2025, số 32/BC-UBND ngày 21/3/2025.

UBND xã Lâm Bình (2026), Đề án thí điểm xây dựng Làng sáng tạo nội dung số gắn với phát triển du lịch xã Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang, giai đoạn 2026–2030.

Võ Văn Tuấn và cộng sự (2015), "Sinh kế bền vững của hộ gia đình ở vùng ven biển Bắc Trung Bộ", Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, 31(2), tr. 46–55.

Vũ Đình Mười (2023), "Một số vấn đề về phát triển sinh kế bền vững của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long", Tạp chí Dân tộc học, số 6, tr. 3–16.

Yang, Y., Huo, Z., Chen, F., & Zhang, Z. (2026), "Rural household livelihood resilience under digital transformation: evidence from participation pathways and U-shaped effects", Frontiers in Sustainable Food Systems, 10, DOI: 10.3389/fsufs.2026.1826981.

 

 

Nguồn bài viết: Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com