Nghị quyết số 26-NQ/TW: Định hướng phát triển du lịch gắn với tổ chức không gian văn hóa – xã hội và phát triển bền vững
Trần Thị Tuyết
Phát
huy giá trị văn hóa, tài nguyên lãnh thổ và nguồn lực cộng đồng, thúc đẩy liên
kết vùng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và phát triển du lịch Việt Nam trong
kỷ nguyên mới.
Phát triển du lịch trở thành động lực tăng trưởng mới của
đất nước
Ngày
22/8/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch
Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới. Nghị quyết xác
định du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, có khả
năng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, bảo tồn và phát huy giá trị
văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt
Nam. Đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng từ số
lượng sang chất lượng, nâng cao giá trị gia tăng, năng lực cạnh tranh và gắn
phát triển du lịch với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa.
Với
phạm vi tác động rộng, du lịch có khả năng thúc đẩy nhiều ngành, lĩnh vực như
thương mại, dịch vụ, giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp văn hóa, công
nghiệp sáng tạo và kinh tế số. Vì vậy, phát triển du lịch cần được đặt trong
mối quan hệ tương hỗ với các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường,
qua đó tạo ra giá trị gia tăng và sức lan tỏa trên phạm vi lãnh thổ.
Trên
cơ sở đánh giá kết quả và những hạn chế trong phát triển du lịch thời gian qua,
Nghị quyết đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng, hiệu quả và giá trị của hoạt
động du lịch. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển
đổi xanh được xác định là những động lực quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh, chất lượng trải nghiệm và khả năng phát triển lâu dài của ngành.
Từ
góc độ địa lý nhân văn, định hướng này cho thấy phát triển du lịch cần được
nhìn nhận trong tổng thể các mối quan hệ giữa tài nguyên lãnh thổ, không gian
văn hóa, cộng đồng dân cư và các hoạt động kinh tế – xã hội. Đây là cơ sở để
nghiên cứu cách thức tổ chức, khai thác và phân bổ các nguồn lực du lịch phù
hợp với đặc điểm từng địa bàn.
Tổ chức không gian du lịch gắn với đặc trưng lãnh thổ và
liên kết vùng
Một
trong những nội dung có ý nghĩa đối với nghiên cứu địa lý nhân văn là tổ chức
phát triển du lịch theo hướng liên ngành, liên vùng và phát huy lợi thế của
từng không gian. Theo đó, các điểm đến, trung tâm du lịch và địa phương cần
được đặt trong mối quan hệ kết nối với nhau, thay vì phát triển tách biệt.
Tổ
chức không gian du lịch không chỉ liên quan đến phân bố điểm đến, tuyến du lịch
và hạ tầng, mà còn gắn với tài nguyên văn hóa, cảnh quan tự nhiên, dân cư, hoạt
động kinh tế và điều kiện sinh kế. Mỗi vùng, địa phương có những đặc trưng
riêng về lịch sử, văn hóa, sinh thái và khả năng tiếp cận thị trường. Việc nhận
diện những đặc trưng này là cơ sở hình thành sản phẩm có bản sắc, phát huy lợi
thế so sánh và hạn chế sự trùng lặp giữa các địa bàn.
Nghị
quyết số 26-NQ/TW xác định đến năm 2030 phát triển mạnh ba cực tăng trưởng du
lịch tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng; hình thành 10 trung tâm du
lịch trọng điểm và 20 khu du lịch quốc gia. Định hướng này đặt ra yêu cầu tăng
cường kết nối giữa các trung tâm, điểm đến và địa phương, đồng thời nâng cao
hiệu quả khai thác nguồn lực trên phạm vi vùng và liên vùng.
Trong
bối cảnh đó, liên kết vùng có ý nghĩa trong kết nối các không gian du lịch văn
hóa, lịch sử, sinh thái và cộng đồng; mở rộng không gian trải nghiệm; phối hợp
phát triển hạ tầng, sản phẩm, quảng bá và dịch vụ. Không gian du lịch vì vậy có
thể được tiếp cận như một mạng lưới gồm các trung tâm, điểm đến, tuyến và hành
lang liên kết với những mức độ tương tác khác nhau.
Đối
với nghiên cứu địa lý nhân văn, việc phân tích cấu trúc không gian, mạng lưới
điểm đến và quan hệ giữa trung tâm với vùng phụ cận có thể cung cấp luận cứ cho
tổ chức không gian du lịch phù hợp với đặc điểm lãnh thổ, đồng thời góp phần
nâng cao hiệu quả liên kết và sử dụng nguồn lực.
Phát huy giá trị văn hóa và di sản trong phát triển du lịch
Nghị
quyết số 26-NQ/TW xác định văn hóa là nền tảng cốt lõi, bản sắc và chất lượng
trải nghiệm là lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam; đồng thời nhấn mạnh yêu
cầu bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa và truyền thống tốt đẹp của
dân tộc. Đây là cơ sở để tăng cường gắn kết giữa phát triển du lịch với văn
hóa, công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo và kinh tế di sản.
Văn
hóa tạo nên sức hấp dẫn và sự khác biệt của các điểm đến, đồng thời góp phần
định hình bản sắc không gian của từng vùng, miền. Di sản vật thể và phi vật
thể, cảnh quan văn hóa, kiến trúc truyền thống, lễ hội, phong tục, tri thức bản
địa và lối sống cộng đồng đều có thể trở thành nguồn lực du lịch nếu được bảo
tồn và khai thác phù hợp.
Từ
góc độ địa lý nhân văn, mỗi điểm đến là kết quả của quá trình tương tác lâu dài
giữa con người, môi trường tự nhiên và các hoạt động văn hóa – xã hội. Do đó,
phát triển du lịch cần quan tâm đến tính toàn vẹn của không gian văn hóa, duy
trì bản sắc cộng đồng và kiểm soát những tác động có thể làm suy giảm giá trị
di sản.
Đối
với các khu vực có di sản và cảnh quan đặc sắc, tổ chức không gian du lịch cần
tính đến mối quan hệ giữa khu vực bảo tồn, khu vực dịch vụ, không gian sinh
sống của cộng đồng và các tuyến kết nối. Cách tiếp cận này tạo điều kiện cân
bằng giữa bảo tồn và khai thác, đồng thời nâng cao khả năng chuyển hóa giá trị
di sản thành nguồn lực phát triển lâu dài.
Trong
quá trình đó, cộng đồng địa phương giữ vai trò quan trọng trong gìn giữ, truyền
tải và phát huy các giá trị văn hóa. Việc tạo điều kiện để người dân tham gia
xây dựng sản phẩm, cung cấp dịch vụ và quản lý hoạt động du lịch không chỉ góp
phần duy trì bản sắc mà còn mở rộng cơ hội hưởng lợi từ nguồn lực văn hóa tại
chỗ. Nghị quyết cũng xác định Nhân dân là chủ thể tham gia và thụ hưởng trong
phát triển du lịch.
Gắn phát triển du lịch với sinh kế cộng đồng và phát triển
bền vững
Phát
triển du lịch cần hướng tới tạo ra giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa lâu dài,
thay vì chỉ tập trung vào gia tăng lượng khách và doanh thu. Nghị quyết xác
định phát triển du lịch theo hướng chất lượng cao, thông minh, xanh, sáng tạo,
giàu bản sắc văn hóa và có giá trị gia tăng cao.
Trong
tổ chức không gian du lịch, cộng đồng dân cư vừa góp phần tạo nên bản sắc điểm
đến, vừa chịu tác động trực tiếp từ quá trình phát triển. Vì vậy, các chính
sách và mô hình du lịch cần quan tâm đến việc làm, sinh kế, khả năng tiếp cận
dịch vụ và cơ hội tham gia của người dân.
Du
lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa và các hình thức kết hợp với
sản xuất nông nghiệp có thể góp phần đa dạng hóa sinh kế, phát huy tri thức bản
địa và tạo liên kết giữa bảo tồn tài nguyên với kinh tế địa phương. Hiệu quả
của các mô hình phụ thuộc vào điều kiện tài nguyên, năng lực cộng đồng, cơ chế
quản lý và khả năng phân phối lợi ích phù hợp.
Bên
cạnh hiệu quả kinh tế – xã hội, phát triển du lịch cần tính đến sức chịu tải
của môi trường và không gian văn hóa. Khai thác tài nguyên phải đi đôi với bảo
vệ cảnh quan, kiểm soát chất thải, sử dụng hiệu quả nước và năng lượng, duy trì
chất lượng môi trường sống và hạn chế những tác động bất lợi đối với cộng đồng.
Nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực và mở rộng cơ hội tham gia của các nhóm dân cư
cũng là điều kiện quan trọng để du lịch tạo ra những lợi ích rộng hơn cho xã
hội. Qua đó, phát triển du lịch có thể gắn tăng trưởng kinh tế với cải thiện
sinh kế, chất lượng cuộc sống và gắn kết cộng đồng.
Định hướng nghiên cứu địa lý nhân văn trong triển khai Nghị
quyết
Từ những định hướng trên, Nghị quyết
số 26-NQ/TW đặt ra một không gian nghiên cứu rộng đối với địa lý nhân văn, nhất
là các vấn đề về tổ chức không gian du lịch, phát huy nguồn lực văn hóa, sinh
kế cộng đồng, liên kết vùng và phát triển bền vững. Trên cơ sở chức năng nghiên
cứu địa lý nhân văn, có thể tập trung vào năm hướng chủ yếu sau:
Thứ nhất,
nghiên cứu cấu trúc và tổ chức không gian du lịch. Phân tích sự phân bố tài nguyên văn hóa, di sản, cảnh quan
và điểm đến; nhận diện các trung tâm, tuyến, hành lang và mạng lưới liên kết;
làm rõ mối quan hệ giữa phát triển du lịch với cấu trúc không gian kinh tế – xã
hội của từng vùng, địa phương.
Thứ hai,
nghiên cứu không gian văn hóa và bản sắc vùng, miền. Làm rõ giá trị của di sản, cảnh quan văn hóa, tri thức bản
địa và các thực hành văn hóa trong phát triển sản phẩm có bản sắc; nghiên cứu
sự biến đổi không gian văn hóa dưới tác động của du lịch và đề xuất giải pháp
gắn bảo tồn với phát huy giá trị.
Thứ ba,
nghiên cứu du lịch cộng đồng và sinh kế địa phương. Phân tích sự tham gia của cộng đồng, tác động của du lịch
đến sinh kế, việc làm, phân phối lợi ích và biến đổi không gian xã hội; nghiên
cứu cơ chế phát huy vai trò của người dân và tăng cường tính bao trùm trong
phát triển.
Thứ tư,
nghiên cứu liên kết vùng và quản trị không gian du lịch. Làm rõ cơ chế phối hợp giữa các địa phương, mối liên hệ giữa
các điểm đến và khả năng kết nối nguồn lực văn hóa, sinh thái, hạ tầng và dịch
vụ; nghiên cứu các mô hình liên kết và cơ chế quản trị phù hợp với đặc điểm
lãnh thổ.
Thứ năm,
nghiên cứu phát triển du lịch bền vững. Đánh
giá mối quan hệ giữa khai thác tài nguyên, bảo tồn di sản, chất lượng môi
trường, sinh kế và chất lượng cuộc sống; xây dựng các tiêu chí, công cụ phục vụ
quản lý, giám sát và tổ chức phát triển du lịch theo hướng xanh, hài hòa và bền
vững.
Các
hướng nghiên cứu trên góp phần làm rõ vai trò của không gian văn hóa – xã hội
trong phát triển du lịch, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học phục vụ chính
sách, quy hoạch, tổ chức không gian và quản trị phát triển ở cấp quốc gia, vùng
và địa phương. Qua đó, nghiên cứu địa lý nhân văn có thể đóng góp vào việc nhận
diện nguồn lực lãnh thổ và giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh
tế, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống của
cộng đồng.
Từ góc nhìn địa lý nhân văn, phát triển du
lịch trong kỷ nguyên mới không chỉ là vấn đề khai thác thị trường và gia tăng
giá trị kinh tế, mà còn là quá trình tổ chức lại các mối quan hệ giữa không
gian, văn hóa, cộng đồng và tài nguyên. Vì vậy, việc triển khai Nghị quyết số
26-NQ/TW đồng thời mở ra những yêu cầu nghiên cứu mới về tổ chức không gian du
lịch, phát huy nguồn lực văn hóa, bảo đảm sinh kế cộng đồng, tăng cường liên kết
vùng và quản trị phát triển theo hướng bền vững./.