Chính quyền số và quản trị phát triển vùng: Những vấn đề đặt ra tại Việt Nam dưới góc nhìn phát triển bền vững vùng
Chuyển đổi số và phát triển khoa học - công nghệ theo tinh
thần Nghị quyết số 57-NQ/TW đang trở thành trụ cột quan trọng trong chiến lược
phát triển bền vững quốc gia. Trong bối cảnh đó, xây dựng chính quyền số không chỉ đơn thuần là
việc số hóa các thủ tục hành chính công hay xây dựng cơ quan hành chính điện tử
tại từng tỉnh, thành riêng lẻ, mà đóng vai trò là phương thức quản trị mới,
giúp tái cấu trúc không gian kinh tế - xã hội và thúc đẩy liên kết vùng hiệu
quả.
Thực hiện Kế hoạch số 465-KH/VĐLNVPTBV của Viện Địa lý nhân
văn và Phát triển bền vững (thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) về
việc đẩy mạnh tuyên truyền chuyển đổi số, yêu cầu nghiên cứu ứng dụng công nghệ
số vào thực tiễn quản trị phát triển vùng đang trở thành một nhiệm vụ khoa học
có tính chiến lược cao. Đặc biệt, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững là
cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về địa lý nhân văn, quy hoạch không gian kinh tế
- xã hội và chiến lược phát triển bền vững địa phương, Viện giữ vai trò cầu nối
quan trọng trong việc cung cấp các luận cứ khoa học, mô hình phân tích và giải
pháp chính sách cho chính quyền các cấp. Nhìn từ tiếp cận địa lý nhân văn,
chính quyền số không chỉ đơn thuần là việc triển khai các phần mềm hành chính
công hay dịch vụ công trực tuyến tại từng địa phương riêng lẻ, mà chính là công
cụ tái cấu trúc không gian phát triển, giúp xóa bỏ "rào cản địa giới hành
chính", tối ưu hóa việc phân bổ nguồn lực và tăng cường tính liên kết
chuỗi giá trị giữa các tỉnh, thành trong cùng một vùng kinh tế.
Từ thực tiễn triển khai Kế hoạch hành động cao điểm về
chuyển đổi số, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững nhận thấy việc xây
dựng chính quyền số phục vụ quản trị vùng tại Việt Nam hiện nay đang đặt ra
nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách. Việc phân tích rõ những đặc thù, cơ
hội cũng như rào cản về hạ tầng, dữ liệu và kỹ năng số tại 6 vùng kinh tế - xã
hội sẽ là cơ sở khoa học cốt lõi để kiến nghị các cơ chế điều phối liên vùng
hiệu quả, hướng tới mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên số.
Vai trò của chính quyền số trong quản trị phát triển Vùng
Quản trị vùng từ trước đến nay tại Việt Nam vẫn đối mặt với
rào cản lớn nhất là tư duy địa giới
hành chính và sự cắt khúc trong quản lý. Việc triển khai chính quyền số
mở ra cơ hội giải quyết các điểm nghẽn mang tính liên vùng, cụ thể:
Một là, kết nối thông tin và dữ
liệu dùng chung: Giúp chuyển từ phương thức quản lý
thủ công sang quản trị dựa trên dữ liệu chia sẻ liên tỉnh.
Hai là, liên kết
chuỗi giá trị và tổ chức không gian: Tối ưu hóa không gian sản xuất,
phân bổ nguồn lực và phát triển hạ tầng kết nối.
Ba là, đổi mới
phương thức ra quyết định: Giúp các cơ quan hoạch định chính sách có
được cơ sở dữ liệu thực thời để ứng phó với thiên tai, quản lý tài nguyên và
biến đổi khí hậu.
Thực tiễn và vấn đề đặt ra tại 6 Vùng Kinh tế - Xã hội hiện
nay
Theo phân vùng kinh tế - xã hội quốc gia, mỗi không gian
phát triển đang đặt ra những bài toán số hóa rất đặc thù:
- Vùng
Đồng bằng sông Hồng và Vùng Đông Nam Bộ (Các trung tâm động lực): Đây là hai vùng kinh tế năng động nhất cả nước, tiên phong về hạ
tầng viễn thông, hạ tầng số và phát triển kinh tế số. Tuy nhiên, có thể nói,
hiện nay hai vùng này có vấn đề đặt ra là:
+ Thiếu hệ thống dữ
liệu liên thông vùng để xử lý các bài toán giáp ranh như: quản lý đô
thị, ô nhiễm môi trường dòng sông (lưu vực sông Đồng Nai, sông Đáy - Nhuệ), và
điều tiết giao thông liên tỉnh.
+ Các địa phương (như TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai hay Hà
Nội, Bắc Ninh, Hải Phòng) chủ yếu phát triển nền tảng số nội tỉnh, chưa hình
thành Trung tâm Dữ liệu vùng chung để điều phối logistics và hạ tầng công
nghiệp công nghệ cao.
- Vùng
Trung du và Miền núi phía Bắc & Vùng Tây Nguyên (Địa bàn chiến lược, biên
giới): Thực trạng hai vùng này có địa
hình chia cắt, giao thông khó khăn, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao. Vấn đề đặt ra đối với hai vùng này là:
+ Khoảng
cách hạ tầng và kỹ năng số: Hạ tầng
sóng và thiết bị số tại vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới đất liền còn thiếu
đồng bộ.
+ Năng lực thích ứng số và sinh kế
của cộng đồng địa phương còn hạn chế. Nếu không có chính sách chính quyền số
mang tính hỗ trợ đặc thù, khoảng cách phát triển giữa vùng miền sẽ ngày càng
gia tăng.
- Vùng Bắc
Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (Hành lang kinh tế biển và chịu áp lực thiên
tai). Vùng này dải đất hẹp, kéo dài, thường xuyên
chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu, bão lũ và sạt lở. Vấn đề đặt ra với vùng này là:
+ Quản trị rủi ro thiên tai và bảo vệ tài nguyên bờ biển đòi
hỏi sự phối hợp liên tỉnh thông qua ứng dụng công nghệ số, hệ thống GIS và cảm
biến giám sát biến đổi khí hậu.
+ Hiện nay, dữ liệu về hồ chứa, cảnh
báo lũ quét, và quy hoạch kinh tế biển giữa các tỉnh ven biển vẫn còn chưa tích
hợp đồng bộ vào một nền tảng giám sát vùng.
- Vùng
Đồng bằng sông Cửu Long (Vùng sinh thái nông nghiệp và biến đổi khí hậu). Hiện
nay vùng đang đối mặt gay gắt với sạt lở, xâm
nhập mặn và suy giảm nguồn nước mặn/ngọt. Vấn đề đặt ra là:
+ Đặt ra yêu cầu chuyển đổi số trong
chuỗi giá trị nông sản, sản phẩm OCOP và quản lý kinh tế tuần hoàn.
+ Chính quyền số tại đây phải giải
quyết được bài toán chia sẻ dữ liệu liên ngành (Thủy lợi - Nông nghiệp - Môi
trường - Thương mại) giữa 13 tỉnh/thành để điều phối nguồn nước và định hướng
mô hình sinh kế thích ứng thông minh.
Giải pháp trọng tâm thúc đẩy Chính quyền số trong Quản trị
Vùng
Để tháo gỡ các "điểm nghẽn" và đưa chuyển đổi số
trở thành động lực vươn mình, cần tập trung thực hiện các nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện thể chế
và cơ chế điều phối liên vùng: Ban hành quy định pháp lý bắt buộc về
việc chia sẻ, kết nối dữ liệu giữa các địa phương trong cùng vùng kinh tế; xây
dựng Kiến trúc Chính quyền số Vùng bên cạnh Kiến trúc Chính quyền điện tử/số
cấp tỉnh.
- Xây dựng Hệ thống
CSDL dùng chung về Không gian & Kinh tế - Xã hội: Đẩy mạnh số hóa tư
liệu, ứng dụng công nghệ trong lưu trữ, tích hợp dữ liệu tài nguyên, môi
trường, hạ tầng và dân cư phục vụ hoạch định chính sách phát triển bền vững.
- Phát triển nguồn
nhân lực số và thu hẹp khoảng cách tiếp cận: Đào tạo kỹ năng số cho cán
bộ công chức cấp huyện/xã, kết hợp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ cho
người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực nông thôn.
- Tăng cường vai trò
của các viện nghiên cứu và tư vấn chính sách: Phát huy vai trò của các
cơ quan nghiên cứu chuyên sâu (như Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững)
trong việc cung cấp luận cứ khoa học, mô hình phân tích dữ liệu không gian để
hỗ trợ chính quyền các cấp ra quyết định.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Bộ Chính
trị (2026), Nghị quyết số 57-NQ/TW về đẩy
mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
2.
Viện Địa
lý nhân văn và Phát triển bền vững (2026),
Kế hoạch số 465-KH/VĐLNVPTBV ngày 14/8/2026 về Đăng tải tin, bài về chuyển
đổi số và Nghị quyết số 57-NQ/TW trên Cổng/Trang thông tin thành viên.
3.
Quốc hội
nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2023),
Nghị quyết số 81/2023/QH15 về Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 -
2030, tầm nhìn đến năm 2050.
4.
Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2025), Nghị quyết số
306/NQ-CP về điều chỉnh Quy hoạch tổng thể quốc gia và định hướng phát triển 6
vùng kinh tế - xã hội.
5.
Khoảng cách chuyển đổi số trong quản trị
phát triển xã hội giữa các địa phương ở Việt Nam hiện nay. Nguồn: https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/07/30/khoang-cach-chuyen-doi-so-trong-quan-tri-phat-trien-xa-hoi-giua-cac-dia-phuong-o-viet-nam-hien-nay/
6.
Phát triển vùng gắn với chất lượng sống của người dân. Nguồn:
https://nhandan.vn/phat-trien-vung-gan-voi-chat-luong-song-cua-nguoi-dan-post987684.html