“Phá băng” trong tư duy và hành động
Điểm nghẽn đầu tiên nằm ở tư duy “nghị quyết đẻ ra nghị quyết”, “nghị quyết mẹ đẻ ra nghị quyết con”, nội dung dài dòng, khó xác định trọng tâm; rồi “nghị quyết đẻ ra kế hoạch”, “kế hoạch đẻ ra hướng dẫn”, hướng dẫn lại chờ... thông tư. Đây là quy trình vận hành lòng vòng khiến nghị quyết cứ giậm chân tại chỗ, chậm đi vào cuộc sống hàng năm trời, vô hình trung khiến tính thời sự của chính sách bị triệt tiêu. Đó là chưa kể, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng thay vì cụ thể hóa nghị quyết bằng những chương trình, đề án, dự án thực tế, lại chọn cách sao chép nguyên văn nghị quyết cấp trên vào chương trình hành động của cấp mình.
Một ví dụ rất rõ cho thực trạng này đó là khi triển khai các cơ chế đặc thù cho phát triển hạ tầng, có những dự án trọng điểm quốc gia phải mất 2-3 năm chỉ để “xin ý kiến” qua lại giữa các bộ, ngành. Nghị quyết đã thông qua, chủ trương đã rõ nhưng phương thức tổ chức thực hiện lại vướng vào mê cung của các thủ tục hành chính, khiến cơ hội đầu tư trôi qua một cách đáng tiếc. Hay như trong lĩnh vực giải ngân vốn đầu tư công, khi nghị quyết đã mở đường cho các dự án hạ tầng chiến lược thì sự lòng vòng trong thủ tục thẩm định, phê duyệt lại khiến dự án “đắp chiếu” nhiều năm trời...
 |
| Ảnh minh họa: Báo Tin tức |
Điểm nghẽn tiếp theo trong tổ chức thực hiện nghị quyết nằm ở sự yếu kém, trì trệ trong hành động, đó là tình trạng “nói hay, làm dở”, “nói nhiều, làm ít”, thậm chí “nói mà không làm”. Thực trạng ở không ít nơi khi tổ chức học tập, quán triệt, triển khai nghị quyết Trung ương thì “trống giong cờ mở”, tổ chức hội nghị hoành tráng, tốn kém. Không khó để bắt gặp những hội nghị quán triệt nghị quyết rầm rộ, những bài phát biểu đầy quyết tâm nhưng khi bắt tay vào việc thì “đánh trống bỏ dùi”, “đầu voi đuôi chuột” hoặc vẫn theo lối mòn của tư duy cũ, ngại thay đổi; thậm chí là sự im lặng trong khâu thực thi. Nhiều cán bộ coi việc tổ chức xong hội nghị là nghị quyết đã thành công, còn kết quả triển khai, hiệu quả thực tế đến đâu lại là trách nhiệm của tập thể, không phải của mình.
Nghị quyết của Đảng là mệnh lệnh hành động đối với mọi đảng viên, nhưng thực tế thời gian qua lại đang xuất hiện một bộ phận cán bộ có tâm lý giữ mình với quan điểm cố hữu “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử”. Cán bộ không dám làm những việc đáng ra phải làm theo chức trách nhiệm vụ; không dám quyết những việc trong thẩm quyền, cái gì cũng xin ý kiến tập thể, xin ý kiến cấp trên để chia sẻ rủi ro, dẫn đến sự tê liệt của bộ máy công vụ. Cấp dưới đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên, né tránh những việc khó, việc mới; còn người đứng đầu thì đẩy trách nhiệm cho tập thể...
Phương thức tổ chức cũ thiếu cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, vô hình trung tạo ra môi trường cho những cán bộ “tròn vai” tồn tại. Đây không chỉ là sự yếu kém về năng lực mà là sự suy thoái về đạo đức công vụ.
Đổi mới và kỷ luật thực thi
Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chủ trương mà là thiếu một phương thức tổ chức thực hiện đủ khoa học, đủ linh hoạt và đủ hiệu lực để biến chủ trương thành hành động cụ thể.
Vì vậy, đổi mới phương thức tổ chức thực hiện phải được đặt ngang tầm với khơi thông điểm nghẽn thể chế, trở thành một khâu đột phá có ý nghĩa quyết định. Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy: Từ triển khai theo quy trình hành chính thuần túy sang triển khai theo mục tiêu và kết quả; từ coi trọng hình thức quán triệt sang đề cao năng lực điều hành và kiểm soát tiến độ; từ phân tán trách nhiệm sang xác lập rõ đầu mối chịu trách nhiệm chính.
Trên cơ sở đó, việc đầu tiên cần làm là thiết kế lại cách thức triển khai nghị quyết theo hướng tinh gọn, rõ ràng, có thể kiểm đếm được. Mỗi nhiệm vụ, mỗi chỉ tiêu, mỗi khâu đột phá phải được cụ thể hóa thành các đầu việc với yêu cầu “rõ việc, rõ người, rõ thời hạn, rõ sản phẩm, rõ trách nhiệm”. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà là điều kiện tiên quyết để chuyển từ “nói chung” sang “làm thật”, từ "cam kết” sang “kết quả”. Khi mọi công việc đều có thể đo lường bằng sản phẩm đầu ra, việc đánh giá mới thực chất.
Cùng với đó, cần khắc phục triệt để tình trạng tách rời giữa ban hành chính sách và tổ chức thực hiện. Thực tế cho thấy, không ít nơi coi việc xây dựng, ban hành văn bản là hoàn thành nhiệm vụ, trong khi khâu triển khai lại giao phó cho cấp dưới mà thiếu sự giám sát đến cùng. Điều này dẫn đến tình trạng chính sách khi đi vào thực tiễn phát sinh vướng mắc nhưng không được xử lý kịp thời, hoặc bị biến dạng so với mục tiêu ban đầu. Vì vậy, phải xác lập rõ nguyên tắc: Người đề xuất chính sách phải đồng hành với quá trình thực thi; cơ quan tham mưu phải theo đến cùng; chính sách chỉ hoàn thành khi đã tạo ra kết quả cụ thể trong thực tế.
Một yêu cầu mang tính nền tảng khác là phải chuyển mạnh sang phương thức điều hành dựa trên dữ liệu và kết quả. Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra sâu rộng, việc thiết lập các hệ thống theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ theo thời gian thực là hoàn toàn khả thi. Khi mỗi nhiệm vụ đều gắn với các chỉ số cụ thể, được cập nhật liên tục, việc điều hành sẽ bớt phụ thuộc vào báo cáo hành chính trên văn bản, đồng thời tạo ra áp lực tích cực buộc các cấp, các ngành phải hành động thực chất hơn.
Đồng thời, cần rút ngắn các tầng nấc trung gian, giảm tối đa các khâu xin ý kiến lòng vòng. Những việc đã rõ thẩm quyền phải được giao quyền dứt khoát; những việc cần phối hợp phải xác định rõ đầu mối chủ trì; những vấn đề vượt thẩm quyền phải có cơ chế xử lý nhanh, không để kéo dài qua nhiều vòng lấy ý kiến. Bộ máy chỉ thực sự hiệu quả khi hệ thống các quyết định được thông suốt, khi mỗi khâu đều vận hành theo nguyên tắc rõ trách nhiệm và rõ thời hạn.
Tuy nhiên, đổi mới phương thức tổ chức thực hiện, dù đúng và trúng đến đâu cũng sẽ khó phát huy hiệu quả nếu thiếu một nền tảng kỷ luật, kỷ cương nghiêm minh trong thực thi. Kỷ luật thực thi chính là “đường ray” bảo đảm cho toàn bộ hệ thống vận hành đúng hướng, đúng tiến độ và đúng mục tiêu đã đề ra. Trước hết, kỷ luật thực thi phải được thể hiện ở việc phải thực thi nghị quyết và thực hiện đến cùng; giữ nghiêm tiến độ và cam kết chất lượng. Mỗi nhiệm vụ đã được xác định thời hạn thì phải được giám sát đến cùng; chậm ở khâu nào, vướng ở đâu, trách nhiệm thuộc về ai đều phải được làm rõ. Không thể chấp nhận tình trạng nhiệm vụ kéo dài từ năm này sang năm khác mà không có chuyển biến rõ rệt, càng không thể để chậm trễ trở thành một “thói quen hành chính”.
Kỷ luật thực thi cũng phải gắn với cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên và thực chất. Kiểm tra không chỉ để phát hiện sai phạm mà quan trọng hơn là để thúc đẩy tiến độ, phát hiện điểm nghẽn và kịp thời tháo gỡ. Giám sát không dừng ở việc nghe báo cáo mà phải đi đến cùng câu hỏi cốt lõi: Nhiệm vụ đã hoàn thành hay chưa, kết quả thực tế ra sao, tác động đến người dân và doanh nghiệp như thế nào? Chỉ khi kiểm tra, giám sát gắn với kết quả cuối cùng, kỷ luật thực thi mới có ý nghĩa thực chất.
Một nội dung không thể thiếu là phải gắn trách nhiệm với chế tài đủ mạnh và đủ sức răn đe. Nơi nào làm tốt, tạo ra chuyển biến rõ rệt cần được ghi nhận, biểu dương kịp thời để lan tỏa động lực tích cực. Ngược lại, nơi nào trì trệ, để xảy ra ách tắc kéo dài phải bị xem xét trách nhiệm một cách nghiêm túc, công bằng và minh bạch. Kỷ luật không chỉ để xử lý vi phạm mà còn để thiết lập chuẩn mực hành động, tạo ra môi trường mà ở đó, mọi cá nhân và tổ chức đều phải làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất.
Thực tiễn đã chứng minh, cùng một chủ trương, cùng một cơ chế, nhưng nơi nào phương thức tổ chức thực hiện hợp lý, kỷ luật thực thi nghiêm minh, nơi đó thường đạt kết quả cao hơn, nhanh hơn và bền vững hơn. Điều đó cho thấy, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở nội dung chính sách mà còn nằm ở cách thức tổ chức và mức độ nghiêm túc trong thực hiện. Tất nhiên, để guồng máy ấy thực sự vận hành hiệu quả, yếu tố con người sẽ trở thành nhân tố quyết định trực tiếp.
(còn nữa)