Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nghiệm thu nhiệm vụ khoa học cấp Bộ: “Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ an ninh nguồn nước bền vững”
Chiều ngày 04/11/2026, tại số 1 Liễu Giai (Hà Nội), Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức phiên họp Hội đồng nghiệm thu cấp Bộ nhiệm vụ khoa học và công nghệ “Giải pháp tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ an ninh nguồn nước bền vững (nghiên cứu trường hợp tại 02 tỉnh Tuyên Quang và Nghệ An)”, mã số KHXH/NV/2025-84. Nhiệm vụ do TS. Đỗ Thị Kim Anh làm Chủ nhiệm, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững là tổ chức chủ trì.
Hội đồng do GS.TS. Lê Văn Lợi làm Chủ
tịch; GS.TS. Nguyễn Văn Tỉnh làm Phó Chủ tịch. Hai ủy viên phản biện là GS.TS.
Đặng Nguyên Anh và PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc; các ủy viên gồm TS. Nguyễn Thành
Trung, PGS.TS. Vũ Mạnh Lợi và TS. Nguyễn Song Tùng. Phiên họp nhằm đánh giá kết
quả thực hiện nhiệm vụ, mức độ đáp ứng yêu cầu khoa học và khả năng ứng dụng
các kiến nghị vào thực tiễn quản lý nguồn nước.

Toàn cảnh phiên họp nghiệm thu cấp Bộ
tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
Báo cáo của
Chủ nhiệm đề tài
Trình bày trước Hội đồng, TS. Đỗ Thị
Kim Anh khẳng định nước
không chỉ là điều kiện sinh tồn, phát triển sản xuất mà còn là điều kiện định
hình không gian cư trú, phương thức tổ chức xã hội, góp phần tạo nên bản sắc
văn hóa của các cộng đồng. Trong lịch sử Việt Nam, truyền thống trị thủy và nền văn
minh lúa nước đã hình thành những phương thức hợp tác, tự quản và tri thức bản
địa về sử dụng, bảo vệ nguồn nước. Tuy nhiên, trước tác động của biến đổi khí hậu,
ô nhiễm và nhu cầu khai thác ngày càng lớn, việc phát huy vai trò cộng đồng
đang trở thành yêu cầu cấp thiết trong quản trị an ninh nguồn nước.
Nhóm nghiên cứu khảo sát 200 người đại
diện cho 200 hộ dân theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích tại 8 thôn thuộc 4 xã
sau sáp nhập bao gồm: Thái Hòa, Bình Xa (Tuyên Quang) và Minh Châu, An Châu
(Nghệ An) (với sự khác biệt về cách thức khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn nước),
đồng thời phỏng vấn sâu 30 cán bộ quản lý, phụ trách chuyên môn và người dân tại
địa phương. Từ kết quả nghiên cứu, Chủ nhiệm đề tài nhấn mạnh ba phát hiện cốt
lõi:
Thứ nhất, nhận thức, thái độ và sự sẵn sàng tham gia của cộng đồng trong vấn đề bảo
vệ an ninh nguồn nước rất tích cực. Trên 90% người được hỏi đồng ý hoặc hoàn toàn đồng ý
với nhiều nhận định về vai trò thiết yếu của nguồn nước, nguyên nhân và hậu quả
của ô nhiễm, cạn kiệt; điểm sẵn sàng tham gia trung bình đạt 24,8/25. Đây là
nguồn lực xã hội quan trọng nếu được chuyển hóa thành hành động trong bảo vệ an
ninh nguồn nước.
Thứ hai, tồn tại khoảng cách đáng kể
giữa nhận thức, sự sẵn sàng và hành vi tham gia thực tế. Người dân tham gia chủ
yếu ở những hoạt động trực tiếp như đóng góp ngày công, kinh phí, vệ sinh môi
trường, duy tu công trình, trong khi việc góp ý phương án, lập kế hoạch, tham
gia quyết định và giám sát còn hạn chế. Điều đó thể hiện cộng đồng chưa thực sự
phát huy đầy đủ vai trò chủ thể trong quản trị nguồn nước
Thứ ba, mức độ tham gia của cộng đồng
phụ thuộc vào điều kiện tổ chức và hỗ trợ tại cơ sở. Khả năng tiếp cận thông
tin, sự dẫn dắt của chính quyền và vai trò của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, hợp
tác xã và các tổ chức cộng đồng là những yếu tố đáng chú ý trong phạm vi mẫu khảo
sát có mối liên hệ với việc tham gia của cộng đồng. Điều này gợi mở rằng muốn
tăng sự tham gia cần cải thiện chính cơ chế và tạo môi trường, điều kiện và cơ
hội cho người dân tham gia một cách chủ động, tự nguyện, thay vì chỉ nhấn mạnh
tuyên truyền nâng cao nhận thức.
Từ các phát hiện, đề tài nhận diện những
rào cản, điểm nghẽn nổi bật: quyền tham gia của người dân chưa được cụ thể hóa
đầy đủ thành quy trình, thẩm quyền và trách nhiệm tại cơ sở; nhân lực phụ trách
tài nguyên, môi trường, thủy lợi còn mỏng trong khi phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm
vụ, lĩnh vực chuyên môn, đặc biệt khi địa bàn quản lý mở rộng hơn sau sáp nhập;
nhiều hoạt động vận động còn mang tính thời điểm, phong trào; điều kiện hạ tầng,
địa hình và sinh kế hạn chế khả năng tham gia thường xuyên của cộng đồng.

TS. Đỗ Thị Kim Anh, Chủ
nhiệm đề tài, trình bày kết quả nghiên cứu và các kiến nghị tại phiên nghiệm
thu.
Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đề xuất
cụ thể hóa quyền và trách nhiệm tham gia của người dân trong toàn bộ chu trình
quản lý nguồn nước, từ xác định nhu cầu, lựa chọn phương án đến vận hành và
giám sát; tạo điều kiện, động lực và cơ chế ghi nhận đóng góp; phát huy vai trò
kết nối của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; hình thành mạng lưới cộng tác
viên, tổ chức tự quản và củng cố các mô hình quản lý nước phù hợp từng địa bàn.
Trọng tâm là chuyển từ huy động đóng góp sang bảo đảm sự tham gia thực chất, có
tổ chức và có trách nhiệm.
Hội đồng ghi
nhận giá trị nghiên cứu, đồng thời yêu cầu nâng cao tính chặt chẽ và khả năng ứng
dụng
Trong phần nhận xét, GS.TS. Đặng
Nguyên Anh, Ủy viên phản biện 1, ghi nhận những nỗ lực nghiên cứu và khối lượng
công việc của nhóm thực hiện; đồng thời đề nghị tiếp tục rà soát, cô đọng luận
điểm, làm rõ hơn các căn cứ phân tích để tăng sức thuyết phục của kết luận và
khuyến nghị.

GS.TS. Đặng
Nguyên Anh, ủy viên phản viện 1, nhận xét đánh giá cao kết quả đề tài
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc, Ủy viên phản
biện 2, đánh giá cao việc cập nhật tài liệu, cách tiếp cận liên ngành, sự kết hợp
giữa khảo sát định lượng với tư liệu định tính và định hướng giải pháp gắn thực
tiễn. PGS.TS cũng đề nghị làm rõ hơn sự khác biệt giữa hai địa bàn nghiên cứu và
cụ thể hóa những chủ thể, điều kiện tổ chức thực hiện giải pháp.
PGS.TS. Vũ Mạnh Lợi ghi nhận các sản
phẩm khoa học đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, việc vận dụng lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu phù hợp, cùng hệ thống dữ liệu thu thập ở địa phương.

TS. Nguyễn Song Tùng, Ủy
viên Hội đồng nhận xét và ghi nhận những đóng góp
về mặt lý luận và thực tiễn của
đề tài
Các thành viên khác của Hội đồng cũng
tập trung góp ý hoàn thiện cách diễn giải kết quả trong phạm vi mẫu nghiên cứu
trường hợp, làm rõ mối liên hệ giữa thực trạng, nguyên nhân và hệ thống giải
pháp; đặc biệt đề cao các khuyến nghị khả thi, phù hợp điều kiện quản lý và nguồn
lực thực tế ở địa phương.

Các thành
viên Hội đồng phản biện và góp ý hoàn thiện kết quả nghiên cứu.
Kết luận của
Chủ tịch Hội đồng
Kết luận phiên họp, GS.TS. Lê Văn Lợi,
Chủ tịch Hội đồng, đánh giá cao sự đầu tư công phu, nghiêm túc của Chủ nhiệm và
các thành viên thực hiện nhiệm vụ. Chủ tịch Hội đồng ghi nhận đề tài có kết quả
nghiên cứu rõ ràng, đáng tin cậy, hệ thống tư liệu và phân tích phong phú; đã
cung cấp thêm luận cứ khoa học và bằng chứng thực tiễn về vai trò, tiềm năng
cũng như những rào cản đối với sự tham gia của cộng đồng trong bảo vệ an ninh
nguồn nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Chủ
tịch Hội đồng yêu cầu nhóm nghiên cứu tiếp thu tối đa ý kiến của các phản biện
và thành viên Hội đồng; tiếp tục rà soát phương pháp và dữ liệu, tăng cường
phân tích, so sánh giữa các địa bàn, hoàn thiện lập luận và lựa chọn các giải
pháp trọng tâm, có tính khả thi. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu cần được thể hiện
thành các kiến nghị rõ đối tượng tiếp nhận, rõ trách nhiệm thực hiện và phù hợp
điều kiện thực tế, để tăng khả năng vận dụng sau nghiệm thu.
Trên tinh thần kết luận của Chủ tịch
Hội đồng, nhóm nghiên cứu sẽ tiếp tục chỉnh lý báo cáo tổng hợp, hoàn thiện báo
cáo tư vấn, kiến nghị chính sách gửi Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường và
UBND hai tỉnh Tuyên Quang, Nghệ An làm cơ sở tham khảo trong việc hoàn thiện cơ
chế huy động cộng đồng, củng cố tổ chức quản lý nước tại cơ sở và nâng cao hiệu
quả bảo vệ an ninh nguồn nước bền vững.

GS.TS. Lê
Văn Lợi, Chủ tịch Hội đồng, phát biểu kết luận phiên nghiệm thu.
Hội
đồng thống nhất nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu nghiệm thu cấp Bộ, đạt 87,3/100 điểm,
xếp loại Khá. Kết quả nghiệm thu khẳng
định ý nghĩa của hướng nghiên cứu đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm, chủ thể
trong bảo vệ an ninh nguồn nước, hướng tới những cơ chế tham gia thực chất, có
tổ chức và bền vững. Kết quả nghiệm thu cũng mở ra hướng ứng dụng quan
trọng: phát huy nguồn lực cộng đồng không chỉ bằng vận động, mà bằng cơ chế để
người dân có thông tin, có tiếng nói, có điều kiện và có trách nhiệm trong bảo
vệ nguồn nước.
Tác giả: Tuệ Minh Anh (TS. Đỗ Thị Kim Anh - chủ nhiệm nhiệm vụ)