Phát triển chuỗi giá trị nông sản bền vững ở Lâm Đồng: Từ lợi thế ngành hàng đến yêu cầu thị trường xanh
Lâm Đồng đang sở
hữu vùng sản xuất quy mô lớn đối với cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và mắc ca. Tuy
nhiên, lợi thế về diện tích và sản lượng ngày càng không đủ để bảo đảm năng lực
cạnh tranh. Truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm, sản xuất không gây mất
rừng, giảm phát thải và thích ứng với biến đổi khí hậu đang trở thành những
điều kiện mới của thị trường. Điều đó đặt ra yêu cầu chuyển từ phát triển dựa
chủ yếu vào sản lượng sang tổ chức chuỗi giá trị dựa trên chất lượng, dữ liệu,
liên kết đa bên và tính bền vững.
Hình 1. Hội thảo khởi động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng, ngày 11/9/2026, với trọng tâm cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và mắc ca. Ảnh: Tư liệu nhóm nghiên cứu.
Từ lợi thế sản
xuất đến yêu cầu nâng cấp chuỗi giá trị
Ngày 11/9/2026, tại Lâm Đồng, Sở
Nông nghiệp và Môi trường tỉnh chủ trì Hội thảo khởi động Diễn đàn ngành hàng
nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng, phối hợp với Ban Quản lý Dự án iLandscape, UNDP và
các tổ chức liên quan. Chương trình quy tụ cơ quan quản lý, hiệp hội ngành
hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vùng nguyên liệu và các tổ chức phát
triển; tập trung vào những vấn đề đang tác động trực tiếp đến năng lực cạnh
tranh của nông nghiệp địa phương như truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm,
EUDR, đầu tư chuỗi giá trị, đối thoại công - tư và phát triển không gây mất
rừng (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, 2026).
Những trao đổi tại diễn đàn cho
thấy Lâm Đồng đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Theo Thống
kê tỉnh Lâm Đồng, 6 tháng đầu năm 2026, diện tích cây lâu năm của tỉnh ước đạt
635.258 ha; riêng cà phê đạt 329.488 ha. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch
chuyển theo hướng tăng tỷ trọng các cây có giá trị kinh tế cao, trong đó có cà
phê, sầu riêng và hồ tiêu (Thống kê tỉnh Lâm Đồng, 2026). Quy mô vùng nguyên
liệu tạo lợi thế lớn về sản xuất hàng hóa, nhưng trong bối cảnh thị trường
xanh, lợi thế cạnh tranh ngày càng phụ thuộc vào khả năng chứng minh nguồn gốc,
chất lượng, tính hợp pháp và trách nhiệm môi trường của sản phẩm.
Vì vậy, vấn đề không còn chỉ là
“sản xuất được bao nhiêu”, mà là sản phẩm được tạo ra ở đâu, theo quy trình
nào, có thể truy xuất đến cấp lô đất hay không, và lợi ích từ chuỗi giá trị
được phân bổ như thế nào giữa nông hộ, hợp tác xã, doanh nghiệp và địa phương.
Dữ liệu và truy
xuất nguồn gốc trở thành một phần của giá trị nông sản
Các tham luận của doanh nghiệp
tại diễn đàn cho thấy dữ liệu vùng nguyên liệu đang chuyển từ công cụ quản lý
thành một yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh. Trong mô hình của Intimex Mỹ
Phước, cơ sở dữ liệu phục vụ EUDR gắn thông tin nông hộ với lô đất, tọa độ địa
lý, diện tích, sản lượng, giao dịch mua bán và hồ sơ pháp lý. Năm 2024, doanh
nghiệp cho biết đã phối hợp khảo sát 11.929 thửa đất với tổng diện tích
9.062,47 ha tại vùng dự án cà phê bền vững ở Di Linh (Intimex Mỹ Phước, 2026).
Tương tự, Tuấn Lộc Commodities
định hướng xây dựng hệ thống dữ liệu vùng thu mua, truy xuất tới cấp nông hộ và
vườn trồng, kết hợp chứng nhận, nông nghiệp tái sinh và đo lường phát thải.
Chương trình bền vững của doanh nghiệp đặt mục tiêu trực tiếp đối với 15.000 ha
cà phê, 60.000 tấn cà phê nhân và 10.000 nông hộ; đồng thời hướng tới giảm phát
thải khí nhà kính và xây dựng chuỗi cung ứng không gây mất rừng (Tuấn Lộc
Commodities, 2026).
Những thực tiễn này cho thấy
chuỗi giá trị nông sản hiện đại không chỉ gồm dòng vật chất “sản xuất - thu mua
- chế biến - tiêu thụ”, mà còn có một dòng dữ liệu song hành. Nếu dòng dữ liệu
bị đứt gãy, khả năng chứng minh tính bền vững và tiếp cận các thị trường tiêu
chuẩn cao cũng bị suy giảm.
EUDR làm thay đổi
cách tổ chức vùng nguyên liệu cà phê
Đối với ngành cà phê, Quy định
chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) đang tạo ra một thay đổi đáng kể về
“luật chơi”. Quy định yêu cầu các sản phẩm thuộc phạm vi điều chỉnh phải không
gây mất rừng, được sản xuất hợp pháp và có thông tin truy xuất nguồn gốc phục
vụ trách nhiệm giải trình. Theo lịch áp dụng hiện hành của Ủy ban châu Âu, EUDR
áp dụng từ ngày 30/12/2026 đối với các doanh nghiệp lớn và vừa; từ ngày
30/6/2027 đối với phần lớn doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ (European Commission,
2026).
Từ góc độ phát triển vùng, EUDR
không chỉ là yêu cầu của doanh nghiệp xuất khẩu. Để một lô cà phê đáp ứng quy
định, dữ liệu phải được hình thành từ vùng trồng, duy trì xuyên suốt các khâu
thu mua, sơ chế, chế biến và xuất khẩu. Điều này làm tăng vai trò của nông hộ,
hợp tác xã, chính quyền cơ sở và cơ quan quản lý trong việc xác minh thông tin
đất đai, vùng trồng và tình trạng rừng.
Kinh nghiệm được trình bày tại
diễn đàn cũng cho thấy việc chuẩn bị sớm có thể tạo ra lợi ích rộng hơn tuân
thủ thị trường. Dự án cà phê bền vững tại Di Linh của Intimex Mỹ Phước báo cáo
tỷ lệ nông hộ áp dụng quản lý thảm phủ đạt 95%, tỷ lệ sử dụng thuốc cỏ giảm từ
65% xuống 12,5%, tỷ lệ xen canh tăng từ 48,1% lên 85,1%, năng suất trung bình
tăng 17% và thu nhập tăng 15-20% đối với khoảng 75% nông hộ tham gia (Intimex
Mỹ Phước, 2026). Đây là số liệu do doanh nghiệp báo cáo tại hội thảo, nhưng cho
thấy khả năng kết nối yêu cầu thị trường với cải thiện thực hành canh tác và
sinh kế.
Từ phát triển
ngành hàng đến quản trị cảnh quan bền vững
Một điểm đáng chú ý của cách
tiếp cận iLandscape là đặt chuỗi cung ứng nông nghiệp trong mối quan hệ với sử
dụng đất, rừng, sinh kế và quản trị địa phương. Theo UNDP, dự án hướng tới thí
điểm hai chuỗi giá trị áp dụng tiêu chuẩn bền vững và hệ thống truy xuất nguồn
gốc, hỗ trợ hơn 30.000 nông dân và góp phần tránh mất khoảng 25.000 ha rừng.
Cách tiếp cận này nhấn mạnh quản trị tích hợp thay vì xử lý riêng rẽ sản xuất
nông nghiệp và bảo vệ tài nguyên (UNDP, 2026).
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối
với một địa bàn có các vùng chuyên canh cây công nghiệp và cây ăn quả giá trị
cao. Áp lực thị trường, biến đổi khí hậu, suy giảm nguồn nước, biến động giá và
yêu cầu bảo vệ rừng cùng tồn tại trong một không gian sinh kế. Vì vậy, bảo vệ
rừng khó bền vững nếu tách khỏi thu nhập của người dân; ngược lại, tăng trưởng
nông nghiệp cũng khó bền vững nếu làm suy giảm đất, nước và hệ sinh thái.
Chuyển từ “phát triển ngành
hàng” sang “quản trị cảnh quan” vì thế là chuyển từ tối đa hóa sản lượng của
từng sản phẩm sang tối ưu hóa đồng thời giá trị kinh tế, sinh kế, chức năng
sinh thái và khả năng chống chịu của cả vùng.
Liên kết đa bên
là điều kiện để nâng cấp chuỗi
Chương trình hội thảo dành trọng
tâm đáng kể cho đối thoại công - tư, đầu tư chuỗi giá trị và cơ chế phối hợp
giữa các bên. Đây là lựa chọn phù hợp bởi những yêu cầu mới của thị trường
không thể được giải quyết bởi một chủ thể riêng lẻ. Nông hộ cần kỹ thuật, dữ
liệu và đầu ra; doanh nghiệp cần vùng nguyên liệu ổn định và minh bạch; cơ quan
quản lý cần thông tin để xác minh và điều phối; trong khi các tổ chức khoa học
và phát triển có thể hỗ trợ tri thức, tiêu chuẩn, công nghệ và cơ chế tài
chính.
Việc ra mắt Ban điều phối, Tổ
giúp việc và các Tổ công tác diễn đàn ngành hàng theo Quyết định số
3666/QĐ-UBND ngày 22/7/2026, cùng hoạt động ký biên bản ghi nhớ hợp tác giữa
các bên tại chương trình ngày 11/9/2026, cho thấy xu hướng chuyển từ quản lý
hành chính đơn tuyến sang quản trị đa bên theo chuỗi giá trị (Sở Nông nghiệp và
Môi trường tỉnh Lâm Đồng, 2026).
Hiệu quả của cơ chế này trong
thời gian tới sẽ phụ thuộc vào khả năng biến đối thoại thành hành động: thống
nhất chuẩn dữ liệu, chia sẻ thông tin vùng nguyên liệu, hỗ trợ nhóm sản xuất
nhỏ, huy động đầu tư xanh và xử lý các điểm nghẽn cụ thể của từng ngành hàng.
Hình 2. Cán bộ nghiên cứu tham dự, trao đổi và thu thập thông tin thực tiễn tại Hội thảo khởi động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng. Ảnh: Tư liệu nhóm nghiên cứu.
Góc nhìn địa lý
nhân văn và phát triển bền vững
Từ góc độ địa lý nhân văn, quá
trình chuyển đổi các ngành hàng cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và mắc ca ở Lâm Đồng
không đơn thuần là câu chuyện kỹ thuật sản xuất. Đó là sự tái cấu trúc quan hệ
giữa con người, sinh kế, doanh nghiệp, thị trường, tài nguyên và không gian
lãnh thổ.
Một vùng nguyên liệu bền vững vì
thế không chỉ được đánh giá bằng diện tích hay sản lượng, mà còn cần xem xét
khả năng tạo sinh kế ổn định, mức độ tham gia của người sản xuất, khả năng bảo
vệ đất - nước - rừng, năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu và vị thế của địa
phương trong chuỗi giá trị. Đặc biệt, chi phí chứng nhận, lập bản đồ vùng
trồng, số hóa dữ liệu và thay đổi quy trình sản xuất có thể tạo cơ hội cho các
hộ có năng lực chuyển đổi, nhưng cũng có nguy cơ làm gia tăng khoảng cách đối
với nông hộ nhỏ nếu thiếu cơ chế hỗ trợ.
Thực tiễn Lâm Đồng vì vậy gợi mở
nhiều hướng nghiên cứu cho Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững: tổ chức
không gian vùng nguyên liệu bền vững; chuyển đổi sinh kế trong vùng chuyên
canh; quan hệ giữa nông nghiệp và bảo vệ rừng; phân bố lợi ích trong chuỗi giá
trị; tác động của tiêu chuẩn xanh quốc tế tới nông hộ và địa phương; cũng như
vai trò của quản trị đa bên trong phát triển vùng.
Từ lợi thế tài nguyên đến lợi
thế cạnh tranh bền vững là một quá trình đòi hỏi nhiều hơn việc mở rộng sản
xuất. Lâm Đồng cần tạo ra nhiều giá trị hơn trên cùng một đơn vị tài nguyên,
đồng thời chứng minh được sản phẩm được tạo ra ở đâu, bằng phương thức nào và
với trách nhiệm ra sao đối với môi trường và cộng đồng. Đây là nền tảng để các
ngành hàng nông nghiệp địa phương nâng cao chất lượng, thương hiệu và khả năng
tham gia các chuỗi giá trị xanh trong giai đoạn mới.
Tài liệu tham khảo
European
Commission. (2026). Regulation on Deforestation-free Products.
Directorate-General for Environment.
https://environment.ec.europa.eu/topics/forests/deforestation/regulation-deforestation-free-products_en
Intimex Mỹ Phước.
(2026). Ưu tiên ngành hàng - truy xuất nguồn gốc, an toàn thực phẩm và EUDR:
Kinh nghiệm phát triển vùng nguyên liệu cà phê bền vững và định hướng hợp tác
[Tài liệu trình bày tại Hội thảo khởi động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh
Lâm Đồng, 11/9/2026].
Sở Nông nghiệp và
Môi trường tỉnh Lâm Đồng. (2026). Chương trình Hội thảo khởi động Diễn đàn
ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng, ngày 11/9/2026.
Thống kê tỉnh Lâm
Đồng. (2026). Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm
2026 tỉnh Lâm Đồng.
https://thongkelamdong.nso.gov.vn/tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi/36
Tuấn Lộc
Commodities. (2026). Phát triển vùng nguyên liệu và chuỗi cung ứng cà phê bền
vững: Truy xuất nguồn gốc, ATTP và EUDR [Tài liệu trình bày tại Hội thảo khởi
động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng, 11/9/2026].
United Nations
Development Programme (UNDP). (2026). Integrated Sustainable Landscape
Management Through Deforestation-Free Jurisdiction Project in Lam Dong and Dak
Nong, Viet Nam. https://www.undp.org/vietnam/projects/integrated-sustainable-landscape-management-through-deforestation-free-jurisdiction-project-lam-dong-and-dak-nong-viet-nam
Vietnam Pepper
and Spice Association (VPSA). (2026). Thực trạng chuỗi ngành hàng hồ tiêu phục
vụ xuất khẩu: Khó khăn, vướng mắc và giải pháp [Tài liệu trình bày tại Hội thảo
khởi động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng, 11/9/2026].
Nedspice Việt
Nam. (2026). Nhu cầu, khó khăn và cơ hội đầu tư phát triển chuỗi giá trị nông
sản nhìn từ khu vực doanh nghiệp, hợp tác xã [Tài liệu trình bày tại Hội thảo
khởi động Diễn đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng, 11/9/2026].
SNV. (2026). Kinh
nghiệm đối thoại công - tư và phát triển chuỗi giá trị bền vững, thích ứng biến
đổi khí hậu, không gây mất rừng [Tài liệu trình bày tại Hội thảo khởi động Diễn
đàn ngành hàng nông nghiệp tỉnh Lâm Đồng, 11/9/2026].
Bản biên tập phục vụ đăng website - nội dung khoa học tổng
hợp từ tài liệu hội thảo, số liệu thống kê chính thức và nguồn quốc tế cập
nhật.
ThS. Vũ Thị
Chanh
Phòng Phát
triển Vùng và Địa phương