Làm việc với trung tâm chuyển đổi số Thành phố Hồ Chí Minh về ứng dụng công nghệ số trong bảo vệ môi trường
Chiều ngày 15/10/2026, Đoàn công tác của Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững do TS. Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng, làm Trưởng đoàn đã làm việc với Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, Sở Khoa học và Công nghệ và Sở Tài chính Thành phố. Buổi làm việc thuộc nhiệm vụ nghiên cứu “Bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững ở Việt Nam trong bối cảnh công nghệ số”.
Phía
Thành phố có TS. Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số, cùng
đại diện các phòng chuyên môn của Trung tâm. Sở Khoa học và Công nghệ cử đại
diện tham dự. Sở Tài chính cử Phó Chánh Văn phòng và đại diện các phòng Công
nghệ thông tin, Quản lý ngân sách, Thẩm định và phát triển đầu tư.
Phát
biểu mở đầu, TS. Nguyễn Song Tùng cho biết Đoàn muốn tìm hiểu ba nội dung:
Thành phố đã ứng dụng những công nghệ số nào trong bảo vệ môi trường; những
thuận lợi, khó khăn khi triển khai trên thực tế; và các đề xuất, kiến nghị về
thể chế, cơ chế, tài chính. Trước đó một ngày, khi làm việc với Sở Nông nghiệp
và Môi trường, Đoàn ghi nhận nhiều băn khoăn về hạ tầng dữ liệu dùng chung,
trang thiết bị và nguồn nhân lực. Kết quả khảo sát sẽ là cơ sở để Viện xây dựng
báo cáo kiến nghị chính sách gửi các cơ quan Trung ương.

Thành
phố đã có nhiều nền tảng, nhưng dữ liệu còn rời rạc
TS.
Nguyễn Thanh Hòa cho biết Thành phố đang tập trung giải quyết bốn vấn đề lớn
đến năm 2030: ùn tắc giao thông, ngập nước, ô nhiễm môi trường và ma túy. Riêng
rác thải sinh hoạt hiện khoảng 14.000 tấn mỗi ngày.
Về
nền tảng số, Thành phố đã có hệ thống quan trắc tự động chất lượng nước mặt,
không khí, mực nước dưới đất và nguồn thải công nghiệp. Công ty Thoát nước đô
thị đã xây dựng hệ thống giám sát thoát nước và cảnh báo ngập. Ứng dụng Công
dân số Thành phố có hơn 1,2 triệu lượt cài đặt trên tổng số khoảng 14 triệu
dân, trong đó đã tích hợp Cổng tiếp nhận phản ánh 1022. Trung tâm Điều hành
thông minh (IOC) đã kết nối với 168 phường, xã, đặc khu, tuy mới ở mức ban đầu.
Trung tâm cũng đã phối hợp với doanh nghiệp xây dựng bản sao số cho đặc khu Côn
Đảo.
TS.
Nguyễn Thanh Hòa nêu một số khó khăn chính:
- Dữ liệu quan trắc còn có điểm
mù, sai số, và đã xảy ra trường hợp can thiệp, sửa số liệu.
- Dữ liệu môi trường chưa được
chuẩn hóa. Các sở ngành dùng phiên bản bản đồ số khác nhau nên khó kết
nối.
- Người dân phải dùng quá nhiều
ứng dụng, dẫn đến tình trạng mệt mỏi. Người dân ở các xã vùng xa, nhất là
khu vực Bà Rịa – Vũng Tàu trước đây, còn khó tiếp cận công nghệ số.
- Các tổ công nghệ số cộng đồng
hỗ trợ rất tích cực nhưng chưa có chế độ, chính sách.
- Hình ảnh, dữ liệu thu được qua
công nghệ hiện mới được coi là dấu hiệu vi Nguyễn, chưa phải chứng cứ.
Phải mất 24 đến 48 giờ mới lập được đoàn kiểm tra, khi đó cơ sở vi Nguyễn
thường đã xử lý xong hiện trường.
- Thiếu người vừa giỏi công nghệ
thông tin vừa hiểu chuyên môn môi trường.
Sở
chuyên ngành phải là chủ thể của dữ liệu
Trao
đổi với Trung tâm, TS. Nguyễn Song Tùng nhấn mạnh: muốn chuyển đổi số trong bảo
vệ môi trường thì trước hết phải có cơ sở dữ liệu đầy đủ. Sau đó cần một phần
mềm dùng chung để các đơn vị cùng nhập và cập nhật dữ liệu, tránh tình trạng
mỗi nơi tự làm một phần mềm riêng rồi không đồng bộ được. Mỗi lĩnh vực như chất
thải rắn, nước, không khí có trường dữ liệu riêng, vì vậy người làm chuyên môn
môi trường cần ngồi cùng người làm công nghệ thông tin để thiết kế.
TS.
Nguyễn Thanh Hòa cho rằng theo Nghị quyết 57 và các quy định về dữ liệu, chủ
thể dữ liệu là các sở chuyên ngành. Trung tâm Chuyển đổi số chỉ giữ vai trò hỗ
trợ, phụ trách hạ tầng số, an toàn thông tin, nền tảng số và khung dữ liệu
chung của Thành phố. Ông ví Trung tâm như người xây “ngôi nhà” chung, còn mỗi
sở ngành phải tự sắp xếp “kho” dữ liệu của mình trong đó. Hiện dữ liệu ở nhiều
đơn vị còn nhiều nhưng chưa được làm sạch. Ông cũng lưu ý: nếu không có dữ liệu
thì rất khó tiếp cận các nguồn tài chính xanh, nhất là từ châu Âu.
Trả
lời câu hỏi của Đoàn về sự thống nhất dữ liệu và hệ quy chiếu không gian, đại
diện Trung tâm cho biết trước khi hợp nhất, ba địa phương do các đơn vị khác
nhau xây dựng hệ thống, cấu trúc dữ liệu cũng khác nhau. Nay Thành phố đang
chọn một chuẩn chung và làm sạch dữ liệu, việc đồng bộ cần thêm thời gian.
Thành phố cũng đang chờ các nền tảng dùng chung của Trung ương, đồng thời đề
nghị các phường, xã không tự phát triển thêm ứng dụng trùng lặp. Nền tảng bản
đồ số dùng chung sẽ đưa thông tin quan trắc môi trường và điểm ngập lên để
người dân theo dõi.
Nguồn
lực tài chính và thủ tục đầu tư
Đoàn
đặt câu hỏi về cách phân bổ ngân sách cho chuyển đổi số để tránh lãng phí, và
về cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho các nhiệm vụ khoa học, công nghệ. Theo TS.
Nguyễn Thanh Hòa, quy trình từ lập thuyết minh, thẩm định, đấu thầu đến khi có sản
phẩm thường mất 18 đến 24 tháng, trong khi công nghệ thay đổi rất nhanh. Những
việc Trung tâm tự làm, như hệ thống IOC, chỉ mất vài tháng.
Đại
diện Sở Tài chính cho biết việc bố trí kinh phí cho khoa học, công nghệ và
chuyển đổi số được thực hiện theo kế hoạch tài chính 5 năm, dự toán hằng năm
của Hội đồng nhân dân Thành phố và chủ trương tăng tỷ trọng chi đầu tư phát
triển. Sở Tài chính tham mưu cho Ủy ban nhân dân Thành phố bố trí kinh phí cho
Sở Khoa học và Công nghệ, các sở ngành và các phường, xã. Những nhiệm vụ phát
sinh được xem xét từ nguồn dự phòng ngân sách. Sở sẽ cung cấp số liệu chi tiết
cho Đoàn.
Đại
diện Sở Khoa học và Công nghệ cho biết các sở ngành và phường, xã đề xuất nhiệm
vụ chuyển đổi số theo kế hoạch của Thành phố. Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp
thẩm định nội dung chuyên môn kỹ thuật, bảo đảm phù hợp với khung kiến trúc và
các tiêu chuẩn chung.

Kết
thúc buổi làm việc, TS. Nguyễn Song Tùng cảm ơn Trung tâm và hai Sở đã chia sẻ
nhiều thông tin hữu ích. TS. Tùng mong tiếp tục nhận được sự phối hợp trong quá
trình nghiên cứu. Viện sẵn sàng chia sẻ dữ liệu và kết quả nghiên cứu với Trung
tâm, vì đây là sản phẩm từ ngân sách nhà nước, cần được dùng chung để tránh
lãng phí. TS. Nguyễn Thanh Hòa hoan nghênh Viện triển khai thêm các nghiên cứu
tại Thành phố và các tỉnh phía Nam, nhất là về những vấn đề lớn mà Thành phố
đang phải giải quyết.