Hội thảo khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ "Liên kết phát triển khu công nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng bền vững"
Sáng ngày 8/9/2026, tại
trụ sở Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững, số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà
Nội, Viện đã tổ chức hội thảo khoa học báo cáo kết quả nghiên cứu thuộc nhiệm
vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ "Liên
kết phát triển khu công nghiệp vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng bền vững" do TS. Lê Thị Thu Hiền làm chủ nhiệm. Hội thảo do TS. Lê Văn Hùng – Phó Viện
trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững làm chủ trì.
Ảnh 1: TS. Lê Thị Thu Hiền trình bày báo cáo kết quả nghiên cứu
Tham dự Hội thảo có đại
diện Lãnh đạo Viện, các chuyên gia, nhà khoa học trong và ngoài Viện cùng toàn
thể thành viên nhóm nghiên cứu. Thay mặt nhóm nghiên cứu, TS. Lê Thị Thu Hiền
đã trình bày báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu với ba nội dung chính: cơ sở
lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển khu công nghiệp (KCN) theo hướng
bền vững; thực trạng liên kết phát triển KCN ở vùng Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH);
và giải pháp thúc đẩy liên kết theo hướng bền vững đến năm 2030.
Về cơ sở lý luận, báo
cáo hệ thống hoá khái niệm liên kết phát triển KCN trên cơ sở lý thuyết liên
kết ngành (Hirschman, 1958), lý thuyết cực tăng trưởng (Perroux, 1955), cụm
liên kết ngành (Marshall, 1890; Porter, 1998), kinh tế học không gian mới
(Krugman, 1991) và sinh thái công nghiệp (Chertow, 2000); từ đó xác lập khung
phân loại liên kết theo hai trục: không gian (nội bộ KCN – nội tỉnh – nội
vùng/liên tỉnh) và nội dung (kinh tế/chuỗi giá trị, hạ tầng - logistics, xã
hội, môi trường/cộng sinh công nghiệp, thể chế). Báo cáo cũng làm rõ ba trụ cột
của phát triển KCN theo hướng bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường) cùng các
nhóm yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến liên kết, làm căn cứ xây dựng
tiêu chí đánh giá.
Về thực trạng, báo cáo
cho thấy hệ thống KCN, khu kinh tế (KKT) vùng ĐBSH đã mở rộng nhanh (219 KCN
trong quy hoạch, 116 KCN đã thành lập tính đến 8/2025, tỷ lệ lấp đầy bình quân
toàn vùng khoảng 59%), song còn nhiều hạn chế về chất lượng quy hoạch, đồng bộ
hạ tầng và hiệu quả sử dụng đất. Qua khảo sát sâu tại hai địa bàn Hải Phòng và
Quảng Ninh cùng 7 nghiên cứu điển hình (Nam Cầu Kiền, Deep C, Tràng Duệ - LG,
VinFast, VSIP Hải Phòng, nhóm KCN Cái Lân, Amata City Hạ Long, Jinko Solar -
Sông Khoai), nhóm nghiên cứu nhận định: liên kết vật chất (hạ tầng giao thông,
môi trường) phát triển khá tốt, nhưng liên kết đòi hỏi hợp tác dài hạn như
chuỗi giá trị thực chất hay cộng sinh công nghiệp còn yếu; nguyên nhân cốt lõi
nằm ở thể chế điều phối vùng còn thiếu thẩm quyền và thiếu tổ chức trung gian
chuyên trách. Hải Phòng và Quảng Ninh được đánh giá có thế mạnh tương đối khác
nhau ở từng nội dung liên kết, phù hợp với định hướng chính sách bổ trợ thay vì
cạnh tranh giữa hai địa phương.
Trên cơ sở đó, báo cáo
đề xuất bốn nhóm giải pháp thúc đẩy liên kết phát triển KCN bền vững giai đoạn
2025-2030, gồm: quy hoạch và thực hiện quy hoạch; xây dựng cơ sở hạ tầng; đào
tạo nguồn nhân lực; và thoả thuận, hợp tác giữa các chính quyền địa phương,
trong đó nhóm giải pháp về thể chế hợp tác liên tỉnh được xem là "chất kết
dính" quyết định hiệu quả triển khai của cả ba nhóm giải pháp còn lại.
Sau phần trình bày, các
đại biểu đã trao đổi, góp ý thẳng thắn và sâu sát nhằm giúp nhóm nghiên cứu
hoàn thiện báo cáo tổng hợp. Nhiều ý kiến cho rằng chủ đề nghiên cứu về liên kết hay
nhưng khó nhất là liên kết KCN. Một số ý kiến
đưa ra gợi ý, báo cáo cần bám sát chặt hơn từ khoá "liên kết để
phát triển KCN theo hướng bền vững", tránh dàn trải quá nhiều chủ thể; thu
hẹp trọng tâm vào chủ thể chính quyền địa phương – nơi giữ vai trò quyết định
trong quy hoạch, bố trí KCN.
Từ thực tế điều tra
khảo sát tại địa phương, một số đại biểu phản ánh các ban quản lý, chủ đầu tư
hạ tầng KCN hiện chủ yếu quan tâm đến tốc độ lấp đầy quỹ đất hơn là chủ động
xây dựng liên kết ngành; nhiều doanh nghiệp FDI có xu hướng khép kín chuỗi cung
ứng trong nội bộ tập đoàn, ít lan toả liên kết ra bên ngoài. Bên cạnh đó, các
đại biểu cũng chỉ ra khoảng trống trong liên kết giữa viện, trường và doanh
nghiệp phục vụ đổi mới sáng tạo, phát triển công nghiệp xanh, cùng những vướng
mắc về thể chế trong liên kết xử lý chất thải công nghiệp nguy hại giữa các địa
phương.
Các đại biểu cũng trao
đổi, gợi mở thêm một số hướng khai thác cho nhóm nghiên cứu: phân tích cơ chế
giao quyền cho nhà đầu tư hạ tầng KCN – vốn lấy tỷ lệ lấp đầy làm mục tiêu
chính – như một nguyên nhân khiến liên kết ngành trong KCN còn hạn chế; chỉ ra
thực trạng bố trí ngành nghề thiếu chọn lọc trong nhiều KCN, gây xung đột giữa
các loại hình sản xuất; đồng thời đề xuất khai thác bộ dữ liệu điều tra doanh
nghiệp để lượng hoá mức độ tập trung, tương đồng ngành nghề trong từng KCN, so
sánh biến động cơ cấu ngành qua các giai đoạn, kết hợp phỏng vấn sâu một số
case study điển hình và tham khảo kinh nghiệm quốc tế, trong đó có tài liệu của
Ngân hàng Thế giới về hồ sơ cụm công nghiệp. Ngoài ra, vấn đề quy hoạch nguồn
nhân lực chưa gắn với quy hoạch KCN, cùng cơ chế giao chỉ tiêu phát triển kinh
tế - xã hội cho địa phương hiện chưa có tiêu chí về liên kết vùng, cũng được
nhận diện là những nguyên nhân thể chế sâu xa cần được phân tích thấu đáo hơn
trong báo cáo.
Ảnh 2: TS. Lê Thị Thu Hiền phát biểu cảm ơn
Phát biểu kết luận,
Lãnh đạo Viện đánh giá cao kết quả thực hiện của nhóm nghiên cứu và tinh thần trao đổi khoa học cởi mở, thẳng thắn của các đại
biểu tham dự Hội
thảo. Lãnh đạo Viện đề nghị chủ nhiệm cùng các
thành viên nhóm nghiên cứu tiếp thu các ý kiến góp ý của các chuyên gia, qua đó hoàn thiện báo cáo tổng hợp, bảo đảm kết quả nghiên
cứu có giá trị khoa học và khả năng ứng dụng cao trong hoạch định chính sách
liên kết phát triển KCN theo hướng bền vững ở vùng Đồng bằng sông Hồng.
Hội thảo đã diễn ra trong
không khí trao đổi khoa học cởi mở và kết thúc thành công tốt đẹp.
ThS. Đặng Thị Giang – Phòng Tổ chức – Hành chính