Cơ chế rừng nhiệt đới vĩnh cửu (TFFF): Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Đặt vấn đề
Rừng nhiệt đới
đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa mất mát và thiệt hại do biến đổi
khí hậu gây ra; hoạt động như những vùng đệm tự nhiên chống lại thời tiết cực
đoan, bảo tồn đa dạng sinh học, điều tiết lượng mưa và lưu trữ một lượng lớn
các-bon (Colino, 2025). Tuy nhiên, thế giới đang đứng trước “ngã ba đường” do sự
tàn phá nhanh chóng các khu rừng nhiệt đới đã và đang đe dọa an ninh nguồn nước
và lương thực, đa dạng sinh học và sinh kế của hàng triệu người, đẩy con người
đến gần hơn với các điểm bùng phát khí hậu do tác động ở các khu rừng nhiệt đới
tại Châu Phi, Châu Mỹ Latinh và Châu Á lan rộng đến toàn bộ hành tinh (TFFF,
2026). Những nỗ lực chỉ dựa vào nguồn tài chính công là không đủ để đáp ứng quy
mô đầu tư cần thiết cho việc bảo vệ, phục hồi và quản lý bền vững thiên nhiên -
do đó, huy động vốn tư nhân là điều thiết yếu, mặc dù hầu hết các dự án liên
quan đến thiên nhiên lại bị coi là không khả thi về mặt tài chính do khả năng
huy động vốn (Sheikh & các cộng sự, 2025). Phần lớn kinh phí hiện nay dành
cho việc giảm nạn phá rừng và suy thoái rừng được phân bổ thông qua các phương
pháp truyền thống tập trung ở đầu vào - điều này không phù hợp, không đầy đủ và
do tính phức tạp vốn có của nạn phá rừng, phương pháp này không phải lúc nào
cũng cung cấp đủ sự linh hoạt để hướng nguồn kinh phí đến nơi cần thiết nhất
(TFFF, 2026). Do đó, các quốc gia cần có một cơ chế tài chính minh bạch, dựa
trên kết quả và quy mô lớn dành cho những nỗ lực và hành động thực hiện các bước
cụ thể và thành công trong việc bảo tồn rừng của họ, hướng đến sự công nhận tầm
quan trọng của các dịch vụ hệ sinh thái của rừng nguyên sinh và cung cấp nguồn
tài chính dài hạn, biến việc bảo tồn rừng thành một mô hình kinh tế khả thi và
đáng tin cậy.
1. Cơ chế Rừng nhiệt đới vĩnh cửu (TFFF)
Sự hình thành của TFFF
Cơ chế Rừng
nhiệt đới vĩnh cửu (Tropical Forest Forever Facility - TFFF) là một sáng kiến
do Brazil khởi xướng và được dẫn dắt bởi các quốc gia có rừng nhiệt đới thuộc
khu vực Nam bán cầu nhằm khuyến khích việc bảo tồn và mở rộng các khu rừng nhiệt
đới thông qua việc chi trả hàng năm để duy trì diện tích rừng hiện có cho các
quốc gia có rừng nhiệt đới. Cơ chế này xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần có một
động lực đổi mới quan trọng để khuyến khích các quốc gia có rừng nhiệt đới tiếp
tục bảo vệ và bảo tồn chúng ở quy mô và tốc độ phù hợp, đặc biệt là khi xét đến
chi phí cơ hội và chi phí thực hiện (TFFF, 2026). Theo đó, TFFF hướng đến việc giảm
thiểu sự thất bại của thị trường bằng cách ấn định giá trị và chi trả cho các dịch
vụ hệ sinh thái do rừng nhiệt đới cung cấp bằng cách định giá các khu rừng nhiệt
đới hiện có và đã được phục hồi, cung cấp các khoản thanh toán dựa trên hiệu quả
cho các quốc gia có rừng nhiệt đới để bảo tồn và phục hồi rừng, thưởng cho các
quốc gia đã kiềm chế nạn phá rừng và tái tạo lại diện tích rừng nhiệt đới. Đây
được xem là mô hình tài chính kết hợp, huy động vốn tư nhân cùng với đầu tư của
chính phủ và các tổ chức từ thiện. Vốn này sau đó được đầu tư vào các nền kinh
tế thị trường mới nổi và đang phát triển để tạo ra lợi nhuận ổn định - không dựa
vào các khoản tài trợ truyền thống của chính phủ mà kêu gọi đầu tư từ các nhà đầu
tư quốc gia trên khắp thế giới. Chính phủ và cộng đồng các quốc gia có rừng nhiệt
đới sẽ xác định các chính sách bảo tồn hiệu quả nhất cho quốc gia của họ và nơi
các khoản thanh toán sẽ được sử dụng tốt nhất, trong đó ít nhất 20% số tiền
thanh toán phải được dành cho người dân và cộng đồng địa phương (TFFF, 2026).
Cơ chế tài trợ của TFFF
Nhằm cho phép
TFFF thực hiện các khoản thanh toán hàng năm cho các quốc gia có rừng nhiệt đới
để bảo tồn và mở rộng diện tích rừng của họ, một quỹ đầu tư mới là một thực thể
pháp lý riêng biệt với TFFF được thành lập với quy mô mục tiêu hiện tại khoảng
125,0 tỷ đô-la Mỹ (100,0 tỷ đô-la Mỹ đến từ các nhà đầu tư tư nhân và 25,0 tỷ
đô-la Mỹ đến từ các nhà đầu tư quốc gia và từ thiện), có cấu trúc tài chính hỗn
hợp với nguồn vốn đến từ đóng góp tài trợ từ các chính phủ và các tổ chức từ
thiện và nợ ưu tiên được phát hành trên thị trường vốn quốc tế (TFFF, 2026). Cụ
thể hơn, các khoản đóng góp tài trợ sẽ được thực hiện dưới hình thức các khoản
vay dài hạn, trợ cấp hoặc bảo lãnh; trong đó khoản nợ ưu tiên sẽ được phát hành
dưới dạng trái phiếu thu nhập cố định trên thị trường vốn quốc tế với các điều
khoản tương tự như trái phiếu do các ngân hàng phát triển đa phương phát hành. Vốn
của quỹ sẽ được đầu tư vào trái phiếu thị trường công khai có tính thanh khoản
cao của các tổ chức phát hành chính phủ và doanh nghiệp lớn, trong khi một phần
đáng kể danh mục đầu tư sẽ tập trung vào tài sản từ các quốc gia được Ủy ban Hỗ
trợ Phát triển của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế xếp loại là các quốc
gia đủ điều kiện nhận Viện trợ Phát triển chính thức. Thu nhập của quỹ đến từ
chênh lệch giữa lãi suất đầu tư và chi phí vốn. Sau khi cân đối thanh khoản,
chi phí quản lý và các nghĩa vụ tài chính, khoản thu nhập này sẽ được phân bổ
hàng năm cho các quốc gia có rừng nhiệt đới theo quy định của TFFF và quyết định
của Hội đồng quản trị.
TFFF được kỳ vọng
sẽ hỗ trợ các nhà đầu tư và quốc gia có rừng nhiệt đới đạt mục tiêu toàn cầu về
khí hậu, đa dạng sinh học và phát triển. Quỹ sẽ thưởng cho nỗ lực duy trì rừng
dựa trên kết quả đánh giá bằng dữ liệu vệ tinh, đồng thời bổ sung cho các sáng
kiến như Chương trình Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng của Liên Hợp
Quốc và trở thành nhà đầu tư lớn vào nợ của các quốc gia nhận ODA. Các khoản
thanh toán hàng năm từ TFFF được coi là tài trợ không hoàn lại, giúp các quốc
gia chủ động chi cho chương trình rừng nội địa và kịp thời khen thưởng người
dân, cộng đồng địa phương vì những đóng góp thiết yếu trong bảo tồn rừng. Ngược
lại, TFFF cũng xác định phạm vi sẽ không tạo ra tín dụng các-bon hoặc đa dạng
sinh học mà chỉ giúp định giá các dịch vụ hệ sinh thái; không tài trợ trực tiếp
cho các dự án; không quy định cách các quốc gia có rừng nhiệt đới sẽ sử dụng
các khoản tiền được trao cho họ; không thay thế các sáng kiến và cơ chế tài
chính rừng khác (bao gồm Chương trình Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng
của Liên Hợp Quốc hoặc các chương trình tài trợ hiện có) mà thay vào đó chỉ bổ
sung cho các chương trình hiện có bằng cách khen thưởng các kết quả về bảo tồn
và phục hồi rừng nhiệt đới; không yêu cầu các nhà tài trợ quốc gia cấp vốn để hỗ
trợ quỹ; không tạo ra bất kỳ nghĩa vụ tài chính nào cho các quốc gia có rừng
nhiệt đới, ngay cả trong trường hợp mô hình tài chính của TFFF hoạt động không
hiệu quả...
Hoạt động của TFFF
Kể từ tháng
12/2023 khi ý tưởng được ra mắt tại Hội nghị Các bên về Biến đổi khí hậu lần thứ
28 đến tháng 11/2025, TFFF đã chính thức được ra mắt với các cam kết ban đầu đã
được thực hiện và đợt phát hành trái phiếu đầu tiên đã được chuẩn bị. Đến nay,
TFFF dự kiến sẽ được triển khai trong khuôn khổ nhiệm kỳ Chủ tịch Hội nghị các
bên về Biến đổi khí hậu lần thứ 30 của Brazil. Brazil đang hợp tác với nhiều quốc
gia đối tác để cùng thiết kế sáng kiến này, bao gồm Colombia, Cộng hòa Dân chủ
Congo, Pháp, Đức, Ghana, Indonesia, Malaysia, Na Uy, Các Tiểu vương quốc Ả Rập
Thống nhất, Anh và Mỹ. Brazil cũng đã thành lập một Ủy ban Chỉ đạo lâm thời
không chính thức gồm các đại diện từ sáu quốc gia có rừng nhiệt đới (Brazil,
Colombia, Cộng hòa Dân chủ Congo, Ghana, Indonesia và Malaysia) và năm quốc gia
tài trợ tiềm năng (Pháp, Đức, Na Uy, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và
Vương quốc Anh). Ngoài ra, TFFF cũng nhận được sự hỗ trợ phân tích kỹ thuật
toàn diện và những hiểu biết chiến lược được cung cấp bởi nhiều tổ chức và
chuyên gia như Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp
Quốc, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Chương trình Phát triển Liên Hợp
Quốc...
Các quốc gia
có thể tham gia TFFF nếu đáp ứng được các điều kiện (TFFF, 2026):
- Phải là quốc
gia đang phát triển có rừng ẩm lá rộng nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới.
- Tỷ lệ phá rừng
của các quốc gia có rừng nhiệt đới dựa trên mức trung bình luân chuyển 03 năm
trong khu vực đủ điều kiện phải dưới 0,50% và cho thấy xu hướng giảm trong năm
gia nhập so với năm trước đó; sau khi gia nhập, tỷ lệ phá rừng hàng năm phải giữ
nguyên hoặc giảm dần theo từng năm, trong khi mức tăng trên 0,1% được cho phép
trong trường hợp bất khả kháng, chẳng hạn như thiên tai lớn.
- Có hoặc áp dụng
một hệ thống đo lường độ che phủ rừng tự nhiên minh bạch và đáng tin cậy, có thể
là phương pháp riêng của quốc gia hoặc phương pháp do bên thứ ba đề ra.
- Áp dụng các
quy tắc minh bạch và công bằng cho việc phân bổ khoản thanh toán TFFF quốc gia:
Đảm bảo phân bổ khoản thanh toán TFFF minh bạch và công bằng, ưu tiên những quốc
gia tích cực bảo tồn rừng với ít nhất 20% dành cho người dân và cộng đồng địa
phương; hỗ trợ bảo tồn rừng và sinh kế bền vững thông qua các chương trình có mục
tiêu cụ thể; duy trì quản lý tài chính công có trách nhiệm, đảm bảo việc sử dụng
minh bạch các khoản thanh toán cho rừng mà không thay thế ngân sách bảo tồn hiện
có.
Khi Hội nghị các
bên về Biến đổi khí hậu lần thứ 30 kết thúc, hơn 6,7 tỷ đô la Mỹ đóng góp được
công bố cho TFF, với sự thông qua Tuyên bố khởi động được 66 quốc gia có rừng
nhiệt đới và các quốc gia tiềm năng đầu tư đã tán thành (đáng chú ý là các nước
đang phát triển có hơn 90% rừng nhiệt đới trên thế giới); bao gồm cả các quốc
gia có rừng nhiệt đới và các nhà đầu tư tiềm năng: (Na Uy công bố khoản đầu tư
3 tỷ đô-la Mỹ, Đức đóng góp 1 tỷ Euro trong vòng 10 năm, Brazil tái khẳng định
khoản đóng góp 1 tỷ đô-la Mỹ được Indonesia đóng góp cùng số tiền đó, Pháp cam
kết 500 triệu Euro kèm theo các điều kiện, Hà Lan công bố 5 triệu đô-la Mỹ và Bồ
Đào Nha 1 triệu đô-la Mỹ, Quỹ Minderoo đã công bố khoản đầu tư 10 triệu đô-la Mỹ)
(TFFF, 27 tháng 11 năm 2025). Điều này cho thấy nhu cầu rõ ràng về một cơ chế
góp phần làm cho rừng có giá trị hơn khi còn nguyên vẹn thay vì bị tàn phá.
Trước đó, Ngân
hàng Thế giới đã chính thức xác nhận sẽ đóng vai trò là Người ủy thác và Chủ
trì lâm thời của TFFF (TFFF, 21 tháng 10 năm 2025). Theo đó, Ngân hàng Thế giới
sẽ chuyển tiền cho các quốc gia có rừng nhiệt đới theo các chỉ thị và hướng dẫn
đã được Hội đồng TFFF phê duyệt; cung cấp cho TFFF một nền tảng hành chính vững
chắc, bao gồm giám sát tài chính và báo cáo minh bạch, đảm bảo TFFF hoạt động với
các tiêu chuẩn cao nhất về quản trị, trách nhiệm giải trình và khả năng dự
đoán; hỗ trợ các hoạt động ban đầu, điều phối và chức năng báo cáo của TFFF trong
khi một cơ cấu tổ chức thường trực được thành lập. Sự sắp xếp này sẽ cho phép
TFFF tiến lên một cách tự tin và hiệu quả hướng tới sự huy động và duy trì mức
tài chính chưa từng có để bảo vệ, phục hồi và quản lý lâu dài các khu rừng nhiệt
đới trên toàn thế giới.
Đánh giá chung về TFFF
Được công nhận
là một sáng kiến tài chính lâm nghiệp toàn diện mang tính chuyển đổi, TFFF nổi
bật nhờ cấu trúc tự tài trợ dài hạn tương tự một quỹ tài trợ vĩnh viễn, giúp đảm
bảo tính bền vững thay vì phụ thuộc vào các khoản viện trợ truyền thống đầy biến
động. Bằng cách tạo ra lợi nhuận thị trường cạnh tranh và bảo toàn vốn gốc cho
các nhà tài trợ lẫn nhà đầu tư tư nhân, TFFF sử dụng chính nguồn lợi nhuận này
để thanh toán hàng năm dựa trên hiệu quả hoạt động. Đặc biệt, quỹ tập trung tài
trợ cho các chính sách và chương trình cấp quốc gia thay vì các dự án nhỏ lẻ, từ
đó dự kiến sẽ tăng gấp ba lần khối lượng tài chính lâm nghiệp quốc tế không
hoàn trả hiện tại, vượt xa ngân sách của nhiều quốc gia.
TFFF sẽ cung cấp
các khoản thanh toán quy mô lớn hàng năm cho tối đa 74 quốc gia đang phát triển
sở hữu hơn một tỷ ha rừng lá rộng ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới nhằm tạo động lực
bảo tồn và phục hồi diện tích rừng đủ điều kiện. Mức chi trả dự kiến khoảng 4
USD/ha, được điều chỉnh theo lạm phát tối đa 2%/năm và duy trì ổn định hoặc
tăng dần qua các năm. Nhằm nâng cao hiệu quả, cơ chế này áp dụng tỷ lệ giảm trừ
nghiêm ngặt đối với diện tích rừng bị mất: mỗi ha rừng bị phá hủy sẽ bị khấu trừ
khoản thanh toán tương đương 100 ha (tỷ lệ 1:100) nếu tỷ lệ phá rừng dưới 0,3%,
hoặc 200 ha (tỷ lệ 1:200) nếu tỷ lệ từ 0,3% đến 0,5%; riêng đối với rừng bị suy
thoái do cháy, tỷ lệ giảm trừ là 1:35, và các tỷ lệ này có thể được điều chỉnh
theo tiến bộ khoa học kỹ thuật. Nguồn vốn này sẽ được giải ngân trực tiếp vào
ngân sách quốc gia hoặc các quỹ công được chỉ định nhưng đảm bảo không thay thế
ngân sách lâm nghiệp hiện có. Dù được toàn quyền phân bổ quỹ theo ưu tiên
riêng, các quốc gia thành viên vẫn phải công khai danh sách các chính sách,
chương trình hỗ trợ bảo tồn và sử dụng rừng bền vững.
2. Cơ hội và thách thức từ TFFF đối với Việt Nam
Theo Quyết định
số 523/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp
Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam xác định rừng
là tài nguyên, tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng và là yếu tố cốt lõi của
môi trường sinh thái. Tính đến năm 2024, cả nước có 34 tỉnh và 2.334 xã có rừng
với tỷ lệ che phủ đạt hơn 42,0%, tương ứng tổng diện tích gần 14,9 triệu ha (gồm
10,1 triệu ha rừng tự nhiên, 3,8 triệu ha rừng trồng đã thành rừng và 946,9
nghìn ha chưa thành rừng); được phân loại thành 2,2 triệu ha rừng đặc dụng, 4,7
triệu ha rừng phòng hộ và 7,9 triệu ha rừng sản xuất. Song song với việc bảo tồn
diện tích, dịch vụ môi trường rừng cũng mang lại hiệu quả kinh tế lớn khi thu về
gần 3,8 nghìn tỷ đồng từ 1.929 đơn vị sử dụng, kịp thời chi trả cho 256,0 nghìn
chủ rừng để quản lý, bảo vệ gần 7,5 triệu ha rừng trên toàn quốc (Cục Lâm nghiệp
và Kiểm lâm, 2026).
Theo đó, Việt
Nam đặt mục tiêu tổng quát là xây dựng ngành lâm nghiệp thành một ngành kinh tế
- kỹ thuật đồng bộ, quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng dựa trên việc
ứng dụng khoa học công nghệ, đồng thời huy động tối đa các nguồn lực xã hội.
Ngành tập trung phát huy toàn diện vai trò của rừng để đóng góp tích cực vào
phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, an ninh nguồn nước, giảm nhẹ
thiên tai và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Qua đó, lâm nghiệp không chỉ
giúp bảo tồn đa dạng sinh học, cung cấp dịch vụ môi trường rừng, tạo việc làm
nâng cao thu nhập cho người dân, giữ vững quốc phòng - an ninh nhằm thực hiện
thành công các mục tiêu phát triển bền vững, mà còn hướng tới xây dựng hệ thống
quản lý nhà nước về lâm nghiệp tinh gọn, hoạt động hiệu lực và hiệu quả.
Về dài hạn, lâm nghiệp Việt Nam đặt mục tiêu
phát triển bền vững và hội nhập quốc tế nhằm phát huy tối đa lợi thế của rừng
nhiệt đới, phấn đấu trở thành một trong những trung tâm sản xuất, chế biến và
thương mại lâm sản công nghệ hiện đại hàng đầu thế giới, đóng góp ngày càng cao
vào nền kinh tế. Để nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị gia tăng trong xu
thế này, giải pháp trọng tâm được xác định là đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Cụ thể,
ngành sẽ tăng cường hội nhập kinh tế, phối hợp chặt chẽ với các tổ chức lâm
nghiệp song phương và đa phương, đồng thời tích cực thu hút các nguồn vốn ngoại
(FDI), phát triển thương mại các-bon rừng, thúc đẩy các dự án nâng cao năng lực
và phát huy tối đa lợi thế của lâm nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.
Hiện nay, nguồn
tài chính cho sự phát triển rừng của Việt Nam có sự đột phá đáng kể thông qua sự
thúc đẩy xã hội hóa việc huy động các nguồn lực đầu tư từ mọi thành phần kinh tế
cho bảo vệ và phát triển rừng, bên cạnh các cơ chế và chính sách đầu tư, hỗ trợ
tài chính đến từ ngân sách nhà nước - đặc biệt trong bối cảnh thế giới ngày
càng có nhiều cam kết và sáng kiến tài chính mới liên quan đến quản lý rừng bền
vững nhưng việc thu hút, huy động các nguồn đầu tư này cũng là một thách thức
không nhỏ (Phạm Hồng Lượng & các cộng sự, 2023). Trước đây, Quỹ bảo vệ và
phát triển rừng cũng đã được thành lập, nắm giữ vai trò là một cơ chế tài chính
cho nghề rừng, hướng đến mục tiêu huy động các nguồn lực của xã hội để bảo vệ
và phát triển rừng, góp phần thực hiện chủ trương xã hội hóa nghề rừng, nâng
cao năng lực và hiệu quả quản lý, sử dụng và bảo vệ rừng góp phần thực hiện chiến
lược phát triển lâm nghiệp (Đỗ Minh Anh, 2017). Lâm nghiệp cũng là một trong
các lĩnh vực có tiềm năng lớn trong việc tạo ra tín chỉ các-bon tại Việt Nam,
tuy nhiên cũng chưa có được cơ chế kết nối với các thị trường quốc tế (Nguyễn
Thị Gấm & Trần Đức Thắng, 2025). Tài chính cũng là một trong những nguyên
nhân gây ra những khó khăn, thách thức và cản trở tiến trình quản lý rừng bền vững
ở Việt Nam (Đào Công Khanh & Đào Lê Huyền Trang, 2021). Điển hình như Vườn
quốc gia Bạch Mã được đánh giá là gặp nhiều khó khăn về tài chính như thiếu hụt
các nguồn vốn, phân bổ chưa ổn định, khó duy trì nguồn thu, hiệu quả chi tiêu
thấp... ảnh hưởng đến việc thực hiện các mục tiêu quản lý nếu không có các chiến
lược và biện pháp tài chính phù hợp, ngay cả khi có các cơ hội tài chính từ
chính sách mới của chính phủ và sự quan tâm của cộng đồng (Trần Thị Thu Hà
& các cộng sự, 2025). Vì vậy, Việt Nam cần có các chiến lược và giải pháp hỗ
trợ về kỹ thuật và tài chính, tổng hợp và đồng bộ nhằm tăng tính khả thi của những
cơ chế, chính sách đã ban hành cũng như tiếp cận các tiêu chuẩn, mô hình và thực
tiễn quốc tế về quản lý rừng bền vững. Chưa kể đến, các cơ chế tài chính lâm
nghiệp nói chung được kỳ vọng phải dung hòa mục tiêu tăng cường khả năng hấp thụ
và lưu trữ các-bon trong rừng với các mục tiêu về đa dạng sinh học và phát triển
bền vững, đồng thời bảo vệ quyền lợi của người dân địa phương - cho thấy rằng
không phải bất kỳ thực tiễn thành công nào cũng có sự phụ thuộc hoàn toàn vào
nguồn lực tài chính (Tenkhoff & Voigt, 2026).
Trong bối cảnh
đó, có thể thấy rằng TFFF cần được xem xét như một sự lựa chọn chiến lược phù hợp,
tuy nhiên nhiều cơ hội cùng đi kèm với không ít thách thức cho Việt Nam nếu được
triển khai.
Một mặt, Việt
Nam có được nhiều cơ hội về tài chính và đầu tư, nguồn lực tài chính cho ngành
lâm nghiệp được mở rộng và đa dạng hóa mạnh mẽ thông qua nhiều kênh tăng nguồn
thu trực tiếp (có thêm nguồn thu tài chính từ việc chi trả dịch vụ hệ sinh thái
rừng, giúp đa dạng hóa nguồn tài chính cho bảo vệ và phát triển rừng, đồng thời
giảm bớt áp lực cho ngân sách nhà nước), thu hút dòng vốn mới và quốc tế (tăng
khả năng tiếp cận dòng vốn đầu tư tác động và thu hút đầu tư quốc tế vào việc bảo
vệ, phục hồi rừng), phát triển công cụ tài chính hiện đại (thúc đẩy sự phát triển
của thị trường tài chính xanh, trái phiếu xanh và khuyến khích được khu vực tư
nhân cùng tham gia vào công tác bảo tồn, phát triển rừng). Về quản trị, chính
sách và minh bạch, hệ thống quản lý và quản trị rừng được nâng cấp toàn diện
theo hướng hiện đại và minh bạch hơn như
cải thiện chính sách và quản trị: (thúc đẩy đổi mới chính sách, quản trị rừng
trở nên minh bạch hơn; đồng thời tận dụng được hệ thống đánh giá vệ tinh minh bạch
để cải thiện công tác quản trị rừng), nâng cao tiêu chuẩn tài chính (nâng cao
các tiêu chuẩn quản trị minh bạch tài chính trong lĩnh vực lâm nghiệp, tăng
tính minh bạch và trách nhiệm giải trình đối với các khoản chi tiêu công liên
quan đến rừng), tích hợp chiến lược (giúp chủ động lồng ghép mục tiêu bảo tồn rừng
vào ngay trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội). Về môi trường, bảo tồn
thiên nhiên và hệ sinh thái, giá trị tự nhiên của rừng được bảo vệ và nâng cao
chất lượng như nâng cao giá trị và đa dạng sinh học (nâng cao giá trị kinh tế của
cả rừng tự nhiên và rừng phục hồi; tạo tăng động lực cho việc bảo tồn đa dạng
sinh học, từ đó cải thiện chất lượng của hệ sinh thái và đa dạng sinh học), giảm
thiểu tác động tiêu cực (giảm thiểu được áp lực khai thác lên gỗ tự nhiên). Về
kinh tế, sinh kế và xã hội địa phương, cơ hội tạo ra sự dịch chuyển kinh tế
tích cực gắn liền với lợi ích của người dân như phát triển kinh tế bền vững
(thúc đẩy phát triển kinh tế xanh và thực hiện quá trình chuyển đổi sang nền
kinh tế lâm nghiệp bền vững), hỗ trợ cộng đồng (hỗ trợ trực tiếp cho sinh kế của
người dân miền núi, đồng thời tăng cường phân quyền và trao quyền nhiều hơn cho
các cộng đồng địa phương). Về hợp tác quốc tế, công nghệ và vị thế toàn cầu, cơ
hội mở rộng không gian hợp tác và nâng cao hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế
như thực hiện cam kết và hợp tác (góp phần thực hiện các cam kết về phát thải
khí nhà kính, đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường và
biến đổi khí hậu), tiếp cận tri thức và công nghệ (tăng khả năng tiếp cận với
các công nghệ quản lý hiện đại và chuyên môn quốc tế; được hưởng lợi từ các hỗ
trợ phân tích kỹ thuật cũng như tư vấn chiến lược từ quốc tế), nâng cao hình ảnh
quốc gia (nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong các tiến trình đàm phán,
hợp tác về khí hậu toàn cầu).
Mặt khác, Việt
Nam phải đổi mặt với không ít thách thức. Về thể chế, pháp lý và quản trị, Việt
Nam đang đứng trước yêu cầu phải hoàn thiện khung pháp lý và thể chế quản lý rừng.
Đồng thời, cơ chế hiện tại chưa quy định cụ thể cách sử dụng nguồn tiền, dẫn đến
rủi ro phân bổ và sử dụng nguồn tài chính này chưa hiệu quả. Năng lực quản trị ở
cấp địa phương còn chưa đồng đều. Công tác quản lý gặp khó khăn do những thách
thức trong việc phối hợp liên ngành và đa cấp quản lý, có khả năng xảy ra chồng
chéo với các sáng kiến rừng và khí hậu hiện có cùng với nguy cơ chính sách
không nhất quán làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả chi trả. Về kỹ thuật, định
giá và vận hành, ngành lâm nghiệp gặp khó khăn trong việc định giá chính xác
các dịch vụ hệ sinh thái cũng như khó lượng hóa và chứng minh các giá trị dịch
vụ này, song song với việc quốc gia phải gánh chịu chi phí quản lý kiểm kê và
xác minh cao và xuất hiện áp lực lớn về tính minh bạch và công tác giám sát. Về
tài chính và sự phụ thuộc quốc tế, nguồn chi trả quốc tế nếu không ổn định sẽ ảnh
hưởng đến các chính sách vĩ mô dài hạn. Điều này làm gia tăng sự phụ thuộc vào
các nguồn tài chính bên ngoài, phụ thuộc vào cam kết và niềm tin của nhà đầu tư
quốc tế, cũng như rủi ro từ sự biến động chính sách hoặc thay đổi tiêu chí từ
phía cơ chế quốc tế. Trong khi đó, Việt Nam cũng phải đối mặt với áp lực đảm bảo
lợi nhuận ổn định cho nhà đầu tư, trong bối cảnh phải cạnh tranh thu hút vốn với
các quốc gia đang phát triển khác. Giữa bảo tồn và phát triển kinh tế, rủi ro
xung đột gay gắt giữa nhu cầu mở rộng không gian cho phát triển kinh tế với mục
tiêu giữ nguyên diện tích rừng có tác động gián tiếp đến định hướng chính sách
phát triển kinh tế lâm nghiệp trong dài hạn. Rừng chịu áp lực phải giảm khai
thác gỗ và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhưng đồng thời phải chịu áp lực
duy trì kết quả bảo vệ rừng ổn định và dài hạn.
Kết luận
Trong bối cảnh
hiện nay, TFFF không chỉ là một sáng kiến tài chính đổi mới mà còn là một giải
pháp chiến lược để giữ gìn tài nguyên rừng và hạn chế tác động xấu từ việc tàn
phá môi trường. TFFF mở ra cơ hội lớn cho các quốc gia, trong đó có Việt Nam,
trong việc bảo vệ và phát triển bền vững các khu rừng nhiệt đới. Tuy nhiên, việc
triển khai TFFF cũng đối diện với không ít thách thức từ vấn đề cơ chế và chính
sách, tài chính và kỹ thuật đến sự đồng thuận giữa các bên liên quan. Nếu tận dụng
tốt, TFFF hoàn toàn có thể là một động lực quan trọng để Việt Nam chuyển đổi
toàn diện, mạnh mẽ và hiệu quả hơn nữa sang mô hình phát triển xanh và bền vững.
Vì vậy, Việt Nam cần sớm có quan điểm, định hướng, chiến lược và kế hoạch phù hợp
để tận dụng tối đa TFFF để TFFF có thể thực sự trở thành công cụ hiệu quả giúp
Việt Nam bảo vệ và phát huy giá trị của rừng trong dài hạn.
Tài liệu tham khảo
1. Cục Lâm
nghiệp và Kiểm lâm. (2026). Hệ thống cơ sở
dữ liệu dùng chung Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm. Truy cập ngày 01 tháng 6 năm
2026, xem tại https://nen.vnforest.gov.vn/
2. Colino, I.
S. (2025). Tropical forests as a way of
life: The Tropical Forest Forever Facility as a mechanism to the Loss and
Damage fund. The British University in Egypt.
3. Đào Công
Khanh & Đào Lê Huyền Trang. (2021). Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng
ở Việt Nam những cơ hội, thách thức và các giải pháp thúc đẩy. Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 1, 50-57.
4. Đỗ Minh
Anh. (2017). Xã hội hóa nghề rừng: Từ chính sách đến thực tiễn. Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương 501,
28-30.
5. Malig, M.
L. (2025). TFFF: A false solution for
tropical forests. Global Forest Coliation.
6. Nguyễn Thị
Gấm, & Trần Đức Thắng. (2025). Thúc đẩy sự phát triển thị trường tín chỉ
carbon tại Việt Nam: Cơ hội, thách thức và định hướng chính sách. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, 11(570), 50-59.
7. Phạm Hồng
Lượng, Trần Quang Bảo, Đoàn Hoài Nam, & Bùi Thị Minh Nguyệt. (2023). Cơ chế
tài chính bền vững cho phát triển hệ thống rừng đặc dụng ở Việt Nam. Khoa học và Công nghệ Lâm nghiệp, 12(4),
127-136.
8. Sheikh, H.,
A., Narain, D., Bartlett, C., & Christiaen, C. (2025). Unlocking private
finance for nature: Addressing barriers and reframing risk-return dynamics. iScience 28(11), 113669.
9. Tenkhoff,
L., & Voigt, L. (2026). The Tropical
Forest Forever Facility and its role in international forest finance. Stiftung
Wissenschaft und Politik.
10. Trần Thị
Thu Hà, Nguyễn Vũ Linh, & Phạm Ngọc Quốc Hưng. (2025). Nghiên cứu xây dựng
chiến lược tài chính bền vững cho vườn quốc gia Bạch Mã. Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 3, 78-90.
11. Tropical
Forest Forever Facility (TFFF). (2025, October 21). The World Bank Confirmed as Trustee and Interim Host of the Tropical
Forest Forever Facility. https://tfff.earth/the-world-bank-confirmed-as-trustee-and-interim-host-of-the-tropical-forest-forever-facility/
12. Tropical
Forest Forever Facility (TFFF). (2025, November 27). COP30 ends with over US$ 6.7 billion for the TFFF. https://tfff.earth/cop30-ends-with-over-us-6-7-billion-for-the-tfff/
13. Tropical
Forest Forever Facility (TFFF). (2026). About
TFFF. Retrieved June 1, 2026, from https://tfff.earth/
Tác giả: TS. Lê Hồng Ngọc
Phòng Địa lý Kinh tế và Phát triển bền vững