Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững khảo sát tác động của sắp xếp đơn vị hành chính đến dịch vụ công tại tỉnh Cao Bằng
Từ ngày 19 đến 23/10/2026, Đoàn
công tác của Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (Viện Hàn lâm Khoa học
xã hội Việt Nam) do TS. Lê Văn Hùng, Phó Viện trưởng, làm Trưởng đoàn tiến hành
khảo sát thực địa tại tỉnh Cao Bằng trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học, công
nghệ và đổi mới sáng tạo “Tác động của tái cấu trúc đơn vị hành chính đến hiệu
quả dịch vụ công đối với người dân ở Việt Nam” do TS. Triệu Thanh Quang làm Chủ
nhiệm. Đoàn làm việc với Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng, UBND phường Tân Giang và UBND
xã Thành Công.

Toàn
cảnh buổi làm việc giữa Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng và Đoàn công tác của Viện Địa
lý nhân văn và Phát triển bền vững, sáng 20/10/2026
Mục
tiêu và thiết kế nghiên cứu
Nhiệm vụ nhằm đánh giá tác động ban
đầu của việc sắp xếp đơn vị hành chính và vận hành mô hình chính quyền địa
phương hai cấp đến hiệu quả cung cấp và khả năng tiếp cận dịch vụ hành chính
công của người dân, từ đó đề xuất khuyến nghị chính sách cho Trung ương và địa
phương.
Tỉnh Cao Bằng là một trong ba địa bàn
nghiên cứu điển hình, cùng với thành phố Hải Phòng và tỉnh Hưng Yên. Với đặc
điểm miền núi, biên giới, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số cao, Cao Bằng cho
phép so sánh tác động của cùng một cải cách thể chế trong những điều kiện địa
lý, kinh tế – xã hội khác nhau. Hai điểm khảo sát được lựa chọn để đối sánh
giữa khu vực đô thị (phường Tân Giang) và khu vực nông thôn miền núi (xã Thành
Công). Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng, gồm:
–
Thảo luận nhóm với lãnh đạo, công chức Sở Nội vụ, phường Tân Giang và xã Thành
Công.
–
Phỏng vấn sâu cán bộ cấp xã và người dân.
–
Khảo sát bằng bảng hỏi: người dân trả lời khảo sát tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của
phường, xã; đối tượng là người từ 18 tuổi trở lên đã sử dụng dịch vụ hành chính
công cấp xã trong 12 tháng gần đây, ưu tiên người đã sử dụng dịch vụ cả trước
và sau ngày 01/7/2025 để so sánh.
–
Dữ liệu thứ cấp: báo cáo sơ kết vận hành chính quyền hai cấp, số liệu giải quyết thủ
tục hành chính, các chỉ số PAR Index, SIPAS, PAPI giai đoạn 2022–2025.
Thảo
luận với Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng
Sáng 20/10/2026, Đoàn công tác làm
việc với Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng. Đồng chí Trần Lương Nguyệt, Phó Giám đốc Sở
Nội vụ, chủ trì buổi làm việc; tham dự có đại diện các phòng chuyên môn và cơ
quan liên quan của tỉnh. Tại buổi thảo luận, Sở Nội vụ cung cấp nhiều thông tin
về kết quả sau một năm vận hành chính quyền địa phương hai cấp:
–
Tổ chức bộ máy: tỉnh kết thúc hoạt động của 10 đơn vị hành chính cấp huyện; sắp xếp
161 đơn vị hành chính cấp xã thành 56 xã, phường (53 xã, 3 phường), giảm 65,2%;
thành lập 168 cơ quan chuyên môn và 56 Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp
xã. Bộ máy cơ bản hoạt động ổn định, không làm gián đoạn cung ứng dịch vụ công.
–
Nhân lực: tỉnh điều động 2.399 cán bộ, công chức; tổ chức 203 lớp bồi dưỡng
với 12.215 lượt người tham gia; 98,2% cán bộ, công chức có trình độ đại học trở
lên. Tuy nhiên, tình trạng kiêm nhiệm còn phổ biến; cấp xã thiếu nhân lực
chuyên sâu về tài chính, đất đai, xây dựng, công nghệ thông tin.
–
Phân cấp, phân quyền: số nhiệm vụ quản lý nhà nước của địa phương tăng từ 2.039 lên 2.214;
tỉnh phân cấp cho cấp xã 43 nhiệm vụ. Khối lượng việc tăng nhanh nhưng nhân lực
chưa tương xứng, gây quá tải cục bộ ở một số xã; một số thủ tục đã phân cấp vẫn
phải xin ý kiến cơ quan Trung ương.
–
Thủ tục hành chính: toàn tỉnh tiếp nhận 173.353 hồ sơ; 97,62% hồ sơ đã giải quyết đúng
hạn và trước hạn; 667 thủ tục được cắt giảm thời hạn; 2.154/2.154 thủ tục thuộc
thẩm quyền địa phương được tiếp nhận không phụ thuộc địa giới hành chính. Tỷ lệ
hồ sơ trực tuyến đạt 64,1% trong năm đầu, tăng lên 75,8% trong 9 tháng đầu năm
2026.
–
Cơ sở vật chất, hạ tầng số
và tài chính: một số trụ sở xã còn phân tán, chật
hẹp; thiết bị công nghệ thông tin cũ; toàn tỉnh còn 69 xóm trắng sóng hoặc lõm
sóng, trong đó 29 xóm với khoảng 5.600 hộ chưa có điện lưới quốc gia. Nhiều xã
miền núi nguồn thu hạn chế, phụ thuộc ngân sách cấp trên trong khi chi phí
chuyển đổi số tăng.
Quang
cảnh buổi làm việc tại Sở Nội vụ tỉnh Cao Bằng
Tỉnh Cao Bằng nhận định việc 100% dịch
vụ công được cung cấp trực tuyến toàn trình không đồng nghĩa với việc mọi người
dân đều tự thực hiện được. Vì vậy, các xã cần duy trì địa điểm và nhân sự hỗ
trợ người dân, nhất là người cao tuổi và người hạn chế về kỹ năng số; chức năng
của Trung tâm Phục vụ hành chính công cần chuyển dần từ tiếp nhận hồ sơ giấy
sang hướng dẫn, hỗ trợ thực hiện dịch vụ công trực tuyến. Hai bên đã thống nhất
danh mục tài liệu, đầu mối phối hợp và phương án khảo sát tại phường Tân Giang,
xã Thành Công.
Làm
việc tại phường Tân Giang
Chiều 20/10/2026, Đoàn công tác làm
việc với UBND phường Tân Giang. Phường được hình thành trên cơ sở sắp xếp 5 đơn
vị hành chính: Tân Giang, Hợp Giang, Hòa Chung, Duyệt Trung và Lê Chung; diện
tích 85,25 km², dân số 20.223 người (5.814 hộ), chủ yếu là đồng bào Tày, Nùng,
Mông, Dao; số tổ dân phố giảm từ 44 xuống còn 18. Bộ phận một cửa có 6 người,
bố trí 5 quầy tiếp nhận, trả kết quả. Ý kiến của cán bộ phường cho thấy một số
vấn đề cụ thể:
–
Trụ sở phân tán, hạ tầng
mạng yếu: trụ sở các cơ quan của phường đặt tại các
địa điểm khác nhau của các phường cũ; đường truyền Internet chưa ổn định, phần
mềm có lúc lỗi, làm gián đoạn việc tiếp nhận hồ sơ.
–
Khối lượng công việc tăng
mạnh: mỗi cán bộ chuyên môn đảm nhận phần việc
trước đây thuộc 5 đơn vị; trong lĩnh vực địa chính, việc xử lý hồ sơ trên hệ
thống chiếm gần như toàn bộ thời gian, hầu như không còn thời gian kiểm tra
thực địa.
–
Người dân khó tự thực hiện
dịch vụ công trực tuyến: nhiều người là lao động
phổ thông, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số, chưa quen tài khoản
VNeID. Cán bộ phải thao tác thay: cài ứng dụng, tạo tài khoản, xác thực khuôn
mặt, quét giấy tờ. Thời gian xử lý một hồ sơ theo cách này khoảng 15–20 phút, so
với khoảng 5 phút khi tiếp nhận hồ sơ giấy, tạo “nút thắt cổ chai” tại bộ phận
một cửa.
Hội
nghị làm việc giữa UBND phường Tân Giang và Đoàn công tác, chiều 20/10/2026
Phỏng vấn sâu người dân phường Tân
Giang cho thấy góc nhìn bổ sung. Người được phỏng vấn đã tự khai báo tạm vắng
cho con qua ứng dụng VNeID ngay tại nhà; làm bản sao giấy khai sinh và nộp phí
trực tuyến, nhận kết quả sau khoảng một ngày. Trước đây, một thủ tục chuyển mục
đích sử dụng đất thực hiện ở cấp thành phố kéo dài hơn một năm, người dân phải
đi lại nhiều lần giữa các bộ phận. Tuy vậy, chính người dân này cho rằng mình
thuận lợi hơn số đông vì thường xuyên liên hệ với phường và đã được tập huấn chuyển
đổi số, đồng thời thừa nhận phần việc người dân giảm đi đã chuyển một phần sang
cán bộ.
Ở cấp tổ dân phố đã hình thành các cơ
chế hỗ trợ: tổ chuyển đổi số gồm thanh niên và người có kỹ năng công nghệ hướng
dẫn người cao tuổi; tổ trưởng chuyển video hướng dẫn, danh mục giấy tờ cần
chuẩn bị và số điện thoại của cán bộ một cửa lên nhóm Zalo của tổ; ở khu vực
lõm sóng, tổ nhờ các hộ có sóng báo tin cho hộ lân cận. Đây là lớp “trung gian
cộng đồng” giúp giảm tải cho bộ phận một cửa.
Phỏng
vấn sâu người dân (trái) và người dân trả lời khảo sát tại Trung tâm Phục vụ
hành chính công phường Tân Giang (phải)
Làm
việc tại xã Thành Công
Ngày 22/10/2026, Đoàn công tác làm
việc với cán bộ xã Thành Công, phỏng vấn sâu và khảo sát người dân tại Trung
tâm Phục vụ hành chính công xã. Xã Thành Công hiện nay được hình thành trên cơ
sở sắp xếp hai xã Thành Công và Quang Thành, là xã miền núi có diện tích 140,63
km², dân số 5.136 người (theo số liệu phương án sắp xếp đơn vị hành chính năm
2025). Kết quả trao đổi cho thấy:
–
Quy trình được rút gọn, dữ
liệu được dùng lại: nhiều thủ tục giảm từ 5–6 bước
xuống khoảng 3 bước (tiếp nhận, thụ lý, lãnh đạo ký duyệt); nhiều giấy tờ như
xác nhận cư trú không còn yêu cầu do tra cứu được trên hệ thống. Một số thủ tục
trước thuộc cấp huyện, như cải chính hộ tịch cho người trên 14 tuổi và nhiều
thủ tục đất đai, nay được giải quyết tại xã. Phản ánh của người dân giảm.
–
Trung tâm gọn, tách tiếp
nhận với thụ lý: Trung tâm Phục vụ hành chính công
xã có 3 người, chỉ tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ rồi chuyển phòng chuyên môn thụ
lý. Trước đây bộ phận một cửa xã vừa tiếp nhận vừa giải quyết, có thể hỏi lại
thông tin ngay với người dân; nay hồ sơ thiếu phải trả về và yêu cầu bổ sung.
–
Khoảng cách tăng với một bộ
phận dân cư: xóm xa nhất thuộc xã Quang Thành cũ
cách trụ sở mới khoảng 34–38 km, trong khi trước đây đến trụ sở xã cũ khoảng 10
km. Cán bộ cố gắng giải quyết ngay trong ngày cho người dân ở xa, kể cả làm
ngoài giờ vào mùa cao điểm.
–
Tỷ lệ tự nộp trực tuyến
thấp: dịch vụ chủ yếu là hộ tịch; vào mùa tuyển
sinh, số hồ sơ tăng gấp 2–3 lần so với mức thông thường khoảng 10–15 hồ
sơ/ngày. Nhiều người dân có điện thoại thông minh nhưng chưa từng tự thực hiện
thủ tục, phải đến trụ sở nhờ cán bộ hỗ trợ; một số thủ tục như xác nhận hộ
nghèo chưa có trên Cổng dịch vụ công.
–
Hồ sơ liên thông lên cấp
tỉnh luân chuyển nhiều vòng: hồ sơ đất đai chuyển
lên Văn phòng đăng ký đất đai và cơ quan thuế có thể phải bổ sung 2–3 lần;
thông báo bổ sung trả về nơi tiếp nhận ở xã, trong khi người dân chưa quen tự
tra cứu tình trạng hồ sơ.
–
Áp lực văn bản, báo cáo: cấp xã nhận trực tiếp văn bản chỉ đạo, yêu cầu báo cáo từ nhiều sở,
ngành, nhiều văn bản có thời hạn gấp; có thời điểm cán bộ xã nhận hơn 150 văn
bản trong khoảng một buổi làm việc. Thời gian xuống cơ sở vì thế bị thu hẹp.
Trụ
sở xã Thành Công (trái) và Đoàn công tác làm việc với cán bộ xã (phải), ngày
22/10/2026
Một
số nhận định ban đầu
Thứ nhất, hiệu quả phía cung ứng
dịch vụ có chuyển biến rõ. Tỷ lệ hồ sơ đúng hạn
cao, giải quyết thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính, tỷ lệ hồ sơ trực
tuyến tăng; ở cấp xã, quy trình được rút gọn, dữ liệu được dùng lại và một số
thủ tục của cấp huyện cũ được đưa về gần dân hơn.
Thứ hai, tác động phân hóa theo
không gian. Người dân trước đây phải lên cấp
huyện, cấp thành phố được lợi rõ về thời gian và số lần đi lại. Ngược lại, cư
dân các xã cũ ở xa trụ sở mới, như khu vực xã Quang Thành cũ, phải đi xa gấp
3–4 lần. Vì vậy, đánh giá tác động cần tính đến khoảng cách, địa hình và phân
bố dân cư, không chỉ dựa vào chỉ số trung bình cấp tỉnh.
Thứ ba, cung ứng dịch vụ và khả
năng tiếp cận dịch vụ là hai vấn đề khác nhau. Một
hồ sơ được ghi nhận là “trực tuyến” có thể do cán bộ nộp hộ tại quầy; khi đó tỷ
lệ trực tuyến tăng nhưng chi phí thời gian chuyển từ người dân sang cán bộ.
Người có kỹ năng số và thường xuyên tiếp xúc với chính quyền hưởng lợi nhiều
hơn. Các cơ chế trung gian cộng đồng ở tổ dân phố là nguồn lực quan trọng để
thu hẹp khoảng cách này.
Thứ tư, hiệu quả dịch vụ công
phụ thuộc vào năng lực và quy trình ở cấp xã. Quá
tải công việc, áp lực văn bản, báo cáo, việc tách khâu tiếp nhận với thụ lý và
hồ sơ liên thông phải luân chuyển nhiều vòng cho thấy hiệu quả không chỉ phụ
thuộc vào thiết kế bộ máy mà còn vào nguồn lực cơ sở và thiết kế quy trình liên
thông.
Thứ năm, dữ liệu hành chính có
hạn chế khi dùng để đánh giá tác động. Số liệu
trên Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính có lúc chưa khớp với thực
tế, nhiều số liệu còn tổng hợp thủ công. Nhóm nghiên cứu sẽ đối chiếu dữ liệu
hành chính với dữ liệu khảo sát người dân để bảo đảm độ tin cậy của kết quả.

Người
dân trả lời khảo sát tại Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Thành Công
Đến ngày 22/10/2026, Đoàn công tác đã
hoàn thành thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và khảo sát người dân tại phường Tân
Giang và xã Thành Công. Dữ liệu thu thập tại Cao Bằng sẽ được xử lý, đối chiếu
với kết quả tại Hải Phòng và Hưng Yên, làm cơ sở thực tiễn để đánh giá tác động
của tái cấu trúc đơn vị hành chính tại khu vực miền núi, biên giới và đề xuất
khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng, khả năng tiếp cận dịch vụ công
của người dân.
Tin: ThS. Nguyễn Đức Hoàn
Phòng Chiến lược, Chính sách và Phát triển bền vững
Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững