Tọa đàm khoa học thường kỳ: Từ du lịch tái tạo đến thực hành ESG trong nông nghiệp, bàn về quản trị đa bên và vai trò của cộng đồng
Chiều ngày 08 tháng 10 năm 2026,
Phòng Chiến lược và Chính sách phát triển bền vững, Viện Địa lý nhân văn và
Phát triển bền vững đã tổ chức buổi Tọa đàm khoa học thường kỳ dưới sự chủ trì
của TS. Lê Văn Hùng, đại diện Lãnh đạo Viện. Tham dự Tọa đàm có cán bộ Phòng
Chiến lược và Chính sách phát triển bền vững cùng các chuyên gia, nhà khoa học
và cán bộ nghiên cứu của Viện. Tọa đàm tập trung thảo luận kết quả nghiên cứu của
hai nhiệm vụ khoa học cấp cơ sở năm 2026 về sự tham gia của cộng đồng trong
phát triển du lịch tái tạo và thực hành ESG trong chuỗi giá trị nông nghiệp.

Ảnh 1. Các đại biểu tham dự Tọa
đàm khoa học thường kỳ
1.
Sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch tái tạo tại vịnh
Vĩnh Hy
Mở đầu Tọa đàm, ThS. Nguyễn Đức
Hoàn và ThS. Nguyễn Thị Thục đã trình bày báo cáo kết quả của nhiệm vụ “Sự
tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch tái tạo tại vịnh
Vĩnh Hy”.
Báo cáo làm rõ sự khác biệt cốt
lõi giữa “du lịch bền vững” (tập trung giảm thiểu tác động tiêu cực) và “du lịch
tái tạo” (hướng tới phục hồi, làm cho thiên nhiên và cộng đồng tốt hơn so với
hiện trạng ban đầu). Vịnh Vĩnh Hy (xã Vĩnh Hải, tỉnh Khánh Hòa) vừa là di tích
quốc gia danh lam thắng cảnh, vừa nằm trong Khu dự trữ sinh quyển thế giới Núi
Chúa. Tại đây, hoạt động du lịch phát triển mạnh đã tạo ra sức ép môi trường
gay gắt lên rạn san hô, nguồn nước ven bờ và hạ tầng điểm đến.
Kết quả khảo sát thực địa cho thấy
người dân địa phương tham gia rộng rãi vào các chuỗi dịch vụ du lịch. Tuy
nhiên, khi đối chiếu với thang tham gia của Pretty và khung quản lý tài nguyên
chung của Ostrom, nhóm nghiên cứu chỉ ra một nghịch lý: người dân chỉ tự quyết
định được ở các hoạt động tự tổ chức mang tính cục bộ (cấp độ vận hành), trong
khi hoàn toàn đứng ngoài các khâu quy hoạch, phê duyệt dự án lớn và chia sẻ lợi
ích chung. Các tổ chức chính thức (đoàn thể) còn ít am hiểu về du lịch, trong
khi các nhóm trực tiếp làm nghề lại thiếu tư cách pháp lý và vị thế đại diện
chính thức. Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất các nhóm giải pháp, từ tập huấn kỹ
năng, nâng cao năng lực truyền thông số đến xây dựng cơ chế đối thoại định kỳ
và thiết lập mô hình hợp tác công - tư - cộng đồng.

Ảnh 2. ThS. Nguyễn Đức Hoàn thay
mặt nhóm nghiên cứu trình bày kết quả của nhiệm vụ
2.
Thúc đẩy thực hành ESG trong ngành cà phê tỉnh Lâm Đồng từ góc nhìn đa bên (mô
hình 4Ps)
Tiếp theo, ThS. Đỗ Thị Ngân và
ThS. Đỗ Thị Hải Vân đã trình bày báo cáo kết quả của nhiệm vụ “Giải pháp
thúc đẩy thực hành ESG trong ngành nông nghiệp tại tỉnh Lâm Đồng: Tiếp cận từ
vai trò các bên liên quan”.
Báo cáo nhấn mạnh rằng các thị
trường xuất khẩu trọng điểm đang ngày càng nâng cao yêu cầu về truy xuất nguồn
gốc và thẩm định tính bền vững. Riêng EU chiếm khoảng 45% kim ngạch xuất khẩu
cà phê của Việt Nam năm 2025 và đang triển khai Quy định về sản phẩm không gây
mất rừng (EUDR), dự kiến áp dụng từ ngày 30/12/2026, cùng Chỉ thị về thẩm định
chuyên sâu tính bền vững của doanh nghiệp (CSDDD). Trong bối cảnh đó, thực hành
ESG không còn chỉ là trách nhiệm tự nguyện mà đang trở thành điều kiện quan trọng
để duy trì khả năng tiếp cận thị trường. Lâm Đồng là địa phương có quy mô sản
xuất cà phê lớn nhất cả nước cả về diện tích và sản lượng. Mặc dù diện tích đạt
chứng nhận bền vững chiếm khoảng 38,4%, chuỗi giá trị cà phê của tỉnh vẫn bộc lộ
nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: tỷ lệ chế biến sâu mới ở mức khoảng 5%, nguy cơ
chồng lấn với đất lâm nghiệp còn lớn (khoảng 31.000 ha) và đặc biệt là tình trạng
“vùng tối dữ liệu”, khi 70 - 80% sản lượng vẫn được thu gom qua hệ thống đại lý
trung gian chưa được số hóa.
Nhóm nghiên cứu đã xây dựng khung
phân tích tương tác đa tầng và mô hình đối tác 4Ps (Public - Private - Producer
- Partners), từ đó đề xuất hệ thống giải pháp gắn với ma trận TOWS hướng tới
năm 2030. Các định hướng chiến lược gồm: số hóa và mở hệ thống dữ liệu
GIS/Polygon về vùng trồng; tháo gỡ vướng mắc về đất lâm nghiệp; thành lập trung
tâm kiểm định đạt chuẩn ISO/IEC 17025 tại địa phương; thúc đẩy nông nghiệp tuần
hoàn; và thiết lập chuỗi liên kết tài chính khép kín nhằm bảo đảm lợi ích bền vững
cho nông hộ.
3.
Thảo luận
Phiên thảo luận diễn ra sôi nổi với
nhiều ý kiến đóng góp sâu sắc của các nhà khoa học tham dự. Báo cáo về du lịch
tái tạo nhận được nhiều sự quan tâm của các đại biểu. Các đại biểu lưu ý không
nên nhìn nhận cộng đồng như một khối thống nhất, mà cần phân tầng rõ giữa các
nhóm xã hội có vị thế khác nhau. Nếu thiếu sự phân tầng này, các chính sách
thúc đẩy du lịch tái tạo rất dễ vô tình làm gia tăng bất bình đẳng xã hội và tập
trung lợi ích vào nhóm có nguồn lực. Việc tích hợp thang tham gia của Pretty và
khung quản lý tài nguyên chung của Ostrom được đánh giá cao về khía cạnh thể chế
xã hội; tuy nhiên, khung phân tích này vẫn còn thiếu các chỉ số đo lường sinh
thái cụ thể của du lịch tái tạo. Để mang đúng bản chất “tái tạo”, các ý kiến
cho rằng cần hướng tới cơ chế pháp lý về đồng quản trị chính thức, trao quyền
giám sát sinh thái thực chất cho người dân làng chài, đồng thời thiết lập cơ chế
trích lập tài chính minh bạch từ các doanh nghiệp nghỉ dưỡng lớn để hỗ trợ cộng
đồng trực tiếp tham gia bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái biển.
Đối với nhiệm vụ về ESG tại Lâm Đồng,
các ý kiến trao đổi gợi mở ba hướng hoàn thiện: xác định rõ các chủ thể chính
trong ngành hàng cà phê của tỉnh; bám sát hơn nữa đặc thù của từng thị trường
xuất khẩu mục tiêu (như bộ tiêu chuẩn kiểm định khắt khe của Nhật Bản, chứng nhận
4C, Rainforest Alliance); và làm rõ cơ chế giải quyết xung đột lợi ích giữa
nông hộ và các đại lý thu mua tư nhân.
Tọa đàm đã khép lại thành công
sau hơn ba giờ làm việc nghiêm túc, gợi mở nhiều góc nhìn lý luận và thực tiễn
có giá trị, giúp các nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện báo cáo khoa học.
Thông qua quá trình trao đổi, thảo luận, Tọa đàm đã góp phần nâng cao năng lực
nghiên cứu và tư vấn chính sách của viên chức Viện Địa lý nhân văn và Phát triển
bền vững, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nghiên cứu chuyên sâu trong thời gian tới.
ThS. NCVC. Nguyễn Thị Thục
Phòng Chiến lược và Chính sách
phát triển bền vững