Tọa đàm khoa học: Liên kết du lịch, chuỗi nông sản hữu cơ và sinh kế đô thị trong phát triển vùng và địa phương
TS. Trần Thị Thu Huyền và ThS. Vũ Thị
Chanh
Phòng Phát triển Vùng và Địa phương
Ngày 09/10/2026, Phòng Phát triển Vùng và Địa phương, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững đã tổ chức buổi tọa đàm khoa học của nhóm nghiên cứu thuộc nhiệm vụ cơ sở. Các kết quả nghiên cứu tập trung vào các vấn đề liên kết du lịch, quản lý chuỗi cung ứng nông sản hữu cơ và sinh kế của lao động phi chính thức trong không gian công cộng. Các báo cáo cùng hướng tới nâng cao hiệu quả quản trị, phát huy nguồn lực địa phương và bảo đảm lợi ích của cộng đồng trong phát triển bền vững.
1. Các điểm nhấn trong các nghiên cứu
- Nhiệm vụ “Vai trò của cơ sở lưu trú tại Mai Châu trong mạng lưới liên kết du lịch” – ThS. Nguyễn
Thị Ánh Vân chủ nhiệm
Báo cáo “Vai
trò của cơ sở lưu trú tại Mai Châu trong mạng lưới liên kết du lịch” đã làm rõ
vị trí của cơ sở lưu trú trong kết nối du khách với dịch vụ ăn uống, vận
chuyển, hoạt động văn hóa và trải nghiệm tại địa phương. Thông qua sử dụng lao
động, mua thực phẩm và phối hợp cung ứng dịch vụ, các cơ sở lưu trú góp phần
đưa nguồn thu từ du lịch đến hộ gia đình và cộng đồng.

Ảnh 01: ThS. Nguyễn Thị Ánh Vân trình
bày tóm tắt kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu
cũng chỉ ra rằng quan hệ hợp tác còn chủ yếu dựa trên các mối quan hệ quen
biết, anh em họ hàng, thiếu đầu mối điều phối và sản phẩm chung của điểm đến.
Những hạn chế này đã làm giảm khả năng kết nối giữa các nhóm dịch vụ và mở rộng
lợi ích từ du lịch. Báo cáo đề xuất tăng cường phối hợp liên xã, hình thành tổ
chức nghề nghiệp của các cơ sở lưu trú và xây dựng tiêu chí homestay phù hợp
với đặc điểm địa phương.
- Nhiệm vụ “Kinh nghiệm quốc tế về
quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng nông sản hữu cơ và bài học cho Việt Nam” do ThS
Vũ Thị Chanh làm chủ nhiệm, TS. Trần Thị Thu Huyền là thành viên chính
Báo cáo phân
tích các phương thức quản lý chuỗi và điều kiện vận dụng tại Việt Nam. Trong đó
nhấn mạnh yêu cầu bảo vệ tính toàn vẹn hữu cơ từ đầu vào, sản xuất đến bảo
quản, chế biến, phân phối và tiêu dùng. Các điểm nghẽn được nhận diện gồm giám
sát chứng nhận chưa hiệu quả, dữ liệu truy xuất phân tán, chi phí đưa sản phẩm
ra thị trường cao và liên kết thiếu ổn định. Từ kinh nghiệm quốc tế của liên
minh châu Âu, Nhật Bản, Thái Lan, Úc và Ấn Độ, nhóm nghiên cứu đề xuất tăng
cường giám sát chứng nhận, liên thông dữ liệu, hỗ trợ tổ chức sản xuất theo
vùng và phát triển hạ tầng dùng chung. Việc tạo lập thị trường cần đồng thời
bảo đảm năng lực cung ứng, khả năng tuân thủ và lợi ích của người sản xuất.

Ảnh 02: ThS. Vũ Thị Chanh trình bày
tóm tắt kết quả nghiên cứu
- Nhiệm vụ “Sinh kế của lao động phi
chính thức tại không gian công cộng ở Hà Nội”do ThS., NCVC. Lương Thùy
Dương chủ nhiệm
Báo cáo đã
phân tích mối quan hệ giữa địa điểm làm việc, hoạt động mưu sinh và quản lý đô
thị. Kết quả khảo sát 153 lao động phi chính thức cho thấy không gian công cộng
là nguồn lực sinh kế thiết yếu của nhiều người lao động; 43,8% người được hỏi
lo ngại mất nơi làm việc khi việc kiểm soát được siết chặt.

Ảnh 03: ThS.NCVC Lương Thuỳ Dương
trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu
Nghiên cứu đề
xuất xem xét mô hình sử dụng không gian công cộng có điều kiện, phù hợp với
từng địa điểm, khung giờ và nhóm nghề. Các giải pháp đặt trong yêu cầu bảo đảm
an toàn giao thông, lối đi cho người đi bộ và vệ sinh môi trường, đồng thời chú
trọng tham vấn cư dân, công khai điều kiện sử dụng và hỗ trợ người lao động
thích ứng.
2. Thảo
luận:
2.1. Cơ chế phối hợp và điều kiện thực hiện các nghiên cứu
Từ những vấn
đề được nêu trong ba báo cáo, nội dung thảo luận đặt trọng tâm vào cơ chế phối
hợp giữa chính quyền, các chủ thể kinh tế và cộng đồng. Vấn đề xuyên suốt là
làm thế nào để các quan hệ liên kết tạo ra lợi ích thực chất, có trách nhiệm rõ
ràng và duy trì được trong điều kiện cụ thể của từng địa phương.
Đối với du
lịch Mai Châu, những vấn đề cần trao đổi gồm cơ chế phối hợp liên xã tại vùng
lõi du lịch, vai trò của tổ chức nghề nghiệp và khả năng xây dựng sản phẩm
chung của điểm đến. Các cơ sở lưu trú có nhiều loại hình như homestay, resort,
khách sạn,… thì đối tượng nghiên cứu chính tập trung vào nhóm nào, nếu nghiên
cứu hết các cơ sở lưu trú thì cũng cần có những liên kết riêng cho từng nhóm cụ
thể. Cụm từ mạng lưới liên kết cũng rất lớn, vượt qua cả vấn đề địa lý khi
trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, liên kết số như thế nào,... Hiện nay với
việc đánh giá hiệu quả liên kết cần chú trọng đến mức chi tiêu, thời gian lưu
trú và phần lợi ích đến với cộng đồng, bên cạnh số lượt khách.
Đối với chuỗi
nông sản hữu cơ, trọng tâm là phân định trách nhiệm quản lý nhà nước với trách
nhiệm tổ chức, vận hành chuỗi của doanh nghiệp và hợp tác xã. Các đề xuất về
chứng nhận, truy xuất nguồn gốc, hạ tầng dùng chung và tạo cầu thị trường cần
được xem xét cùng chi phí thực hiện, năng lực của nông hộ nhỏ và điều kiện duy
trì sản xuất sau hỗ trợ. Nghiên cứu có thể bổ sung thêm các mô hình cụ thể của
các nước, khu vực gắn với sản phẩm cụ thể như chè, trái cây,… để thấy được bên
cạnh các quy định của các nước thì các tập đoàn dẫn dắt chuỗi cung ứng này như
thế nào.
Đối với sinh
kế đô thị, vấn đề đặt ra là xác định những địa điểm và hoạt động có thể tổ chức
sử dụng có điều kiện, bảo đảm chức năng chính của không gian công cộng. Việc
lựa chọn địa bàn thí điểm cần dựa trên khảo sát thực tế và tham vấn các bên
liên quan; kết quả cần được đánh giá đồng thời về trật tự, an toàn, sinh kế và
mức độ hài lòng của cộng đồng.
2.2. Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
phát triển địa phương
Ba báo cáo
cho thấy hiệu quả phát triển địa phương phụ thuộc chặt chẽ vào cách tổ chức
quan hệ giữa các chủ thể và khả năng bảo đảm lợi ích của người dân. Liên kết du
lịch cần tạo thêm giá trị cho điểm đến và cộng đồng; quản lý chuỗi hữu cơ cần
bảo vệ niềm tin thị trường và thu nhập của người sản xuất; quản trị không gian
công cộng cần hài hòa trật tự đô thị với nhu cầu mưu sinh.
Các góp ý cho
các nội dung báo cáo cũng gợi mở yêu cầu hoàn thiện phương pháp nghiên cứu: xác
định rõ phạm vi áp dụng của kết quả khảo sát, phân biệt phát hiện thực chứng
với đề xuất chính sách và làm rõ nguồn lực.
Tọa đàm đã
khép lại thành công, góp phần kết nối các hướng nghiên cứu của Phòng Phát triển
Vùng và Địa phương, đồng thời gợi mở những vấn đề lý luận và thực tiễn có giá
trị, các báo cáo khoa học hoàn thiện. Các kết quả nghiên cứu là cơ sở để xây
dựng khuyến nghị chính sách sát với điều kiện địa bàn, hướng tới phát triển bền
vững và nâng cao chất lượng sống của cộng đồng.