Tháo gỡ những khó khắn trong nông nghiệp sinh thái trong chuyển đổi xanh tại Việt Nam
Ngày 9/1, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tổ chức "Hội nghị Toàn thể Chương trình Hỗ trợ quốc tế (ISG): Thúc đẩy chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm theo hướng xanh, ít phát thải và bền vững: Hợp tác và đổi mới sáng tạo".
Phát biểu khai mạc, Nguyễn Đỗ Anh Tuấn - Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng: "Chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm dần được tiếp nhận, ngày càng phổ biến dưới góc nhìn hệ sinh thái nông nghiệp - thực phẩm". Theo ông, năm 2025 đã khẳng định vai trò nổi bật của nông nghiệp sinh thái trong thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (như trong đóng góp NDC 3.0, Đề án 1 triệu ha, thu thập các mô hình tại địa phương). Ngoài ra, thúc đẩy đối tác công - tư và huy động nguồn lực tài chính cho nông nghiệp sinh thái.
Việt Nam đã và đang sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật để phù hợp với các yêu cầu mới của quá trình chuyển đổi xanh và sản xuất phát thải thấp. "Các mô hình sinh thái thành công tại địa phương là kế thừa nhiều kết quả từ sự phối hợp các tổ chức quốc tế và sẽ cần tăng cường kết nối, chia sẻ, kế thừa và chuyển giao những kết quả đó thành mô hình cấp quốc gia",
Tại Việt Nam giai đoạn 2010-2025 đã có 275 dự án toàn quốc, phân tích theo vùng sinh thái, do các tổ chức quốc tế như FAO, UNDP hỗ trợ triển khai. Ông Tuấn xác định, năm 2026, nhóm về dinh dưỡng và hành vi tiêu dùng sẽ là một trọng tâm, với mục tiêu đẩy mạnh bảo đảm an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc xuất xứ, tiêu dùng bền vững.
Theo ông Huỳnh Quốc Tịnh, Giám đốc chương trình Nông nghiệp và thực phẩm bền vững WWF-Việt Nam, nông nghiệp sinh thái không chỉ là kỹ thuật canh tác mà là một hệ thống mang lại lợi ích đa chiều: từ việc giảm đáng kể phát thải khí nhà kính, bảo vệ đa dạng sinh học, đến việc cải thiện trực tiếp sinh kế và tăng khả năng chống chịu cho người nông dân trước biến đổi khí hậu. Đây chính là nền tảng để chuyển đổi từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp bền vững.
Các mô hình Nông nghiệp sinh thái đa dạng được triển khai tại Việt Nam, cụ thể như : Hệ thống lúa mùa nổi – cá/sen; Mô hình nông lâm kết hợp; Hệ thống đa canh sinh thái; Canh tác lúa ngập – khô sen kẻ (AWD); Hệ thống kết hợp rừng – tôm, luân canh tôm - lúa .
Trong đó: Mô hình lúa – sen – cá ( Thuộc Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang) thuộc thượng nguồn đồng bằng Sông Cửu Long, đây là mô hình nông nghiệp Thuận Thiên ở Đồng bằng sông Cửu Long thể hiện những lợi ích của nông nghiệp sinh thái như: Giảm 46–73% lượng khí thải nhà kính, khôi phục hệ sinh thái bị ngập lụt, tăng lợi nhuận 78 triệu đồng/ha, thể hiện khả năng kinh tế và môi trường.
Mô hình Nông lâm kết hợp ( thuộc vùng tây Bắc, Tây Nguyên) mô hình nông lâm nghiệp tăng cường hấp thụ carbon và thu nhập và tăng hấp thụ CO₂ lên 4–6 tấn/ha/năm, Giảm xói mòn đất 43%, đa dạng hóa thu nhập gấp 2,4–3,5 lần so với độc canh, Cải thiện khả năng phục hồi của hệ sinh thái.
Mô hình đa canh sinh thái ( Cà phê – Ca cao – hạt tiêu) đây là mô hình đa canh thúc đẩy tuần hoàn và tiếp cận thị trường. Mô hình đã áp dụng dinh dưỡng tuần hoàn và sử dụng năng lượng mặt trời hiệu quả, đáp ứng tiêu chuẩn EUDR – EU Green Deal. Trong đó, hợp tác xã Lâm Sản là minh chứng cho kết nối thị trường bền vững. Bên cạnh đó, mô hình còn làm tăng cường đa dạng sinh học và sức khỏe của đất.
Đại diện tổ chức FAO khẳng định vai trò của tài chính xanh, bảo hiểm nông nghiệp, thị trường các-bon trong giai đoạn mới, đồng thời khuyến khích thu thập, chia sẻ và nhân rộng các mô hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp thuận thiên đã chứng minh hiệu quả tại Việt Nam như nuôi cá mùa lũ, lúa - sen, lúa - tôm, tôm rừng, nông lâm kết hợp.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy ODA là động lực chính, tài trợ cho 61,4% tổng số dự án, quy mô đầu tư lớn. Đóng vai trò dẫn dắt trong việc mang lại nguồn vốn, tri thức và các chuẩn mực quốc tế. Trong khi đó, ngân sách nhà nước chỉ chiếm 16% và khu vực tư nhân chỉ chiếm 9%. Cho thấy một sự mất cân đối và đặt ra yêu cầu cấp thiết để khơi thông và thu hút mạnh mẽ dòng vốn tư nhân. Sự thiếu hụt tài chính xanh, dữ liệu MRV (Công cụ đánh giá các hoạt động giảm phát thải khí nhà kính) chưa đồng bộ và cơ sở hạ tầng chưa tương thích là những rào cản lớn nhất ngăn cản việc mở rộng quy mô, dù Việt Nam có chính sách thuận lợi và xu hướng tiêu dùng xanh đang toàn cầu hóa.
Hội thảo cũng đưa ra được Việc triển khai nông nghiệp sinh thái mang đến cả cơ hội và thách thức: Cơ hội là những chính sách thuận lợi và xu hướng tiêu dùng xanh và tiềm năng phát triển các vùng sinh thái. Bên cạnh đó thách thức phát triển nông nghiệp sinh thái như: tài chính xanh hạn chế và thiếu dữ liệu MRV và cơ sở hạ tầng không tương thích cản trở tiến độ.
Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các cơ quan bn ngành khác cần có những chính sách ưu tiên cho giai đoạn năm 2026 – 2030 như sau: (i) Về chính sách, cần tích hợp nông nghiệp sinh thái vào khung quy hoạch vùng, tạo ra sự kết nối chặt chẽ giữa hạ tầng thủy lợi, logistics và đặc thù sinh thái địa phương. Các chính sách phải tập trung hỗ trợ xây dựng thương hiệu dựa trên giá trị vùng sinh thái, kết hợp với hệ thống MRV dựa vào cộng đồng để minh bạch hóa quy trình giảm phát thải, nâng cao giá trị cạnh tranh cho nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. (ii) Đối với Bộ NN&MT và cơ quan nhà nước: cần tập trung tháo gỡ “tầng trung gian” bộ công cụ địa phương hóa, khuyến nông linh động theo vùng, và nền tảng MRV; Ưu tiên đầu tư hạ tầng tương thích NNST: thủy lợi linh hoạt, logistics xanh. (iii) Đối với nhà tài trợ, đại sứ quán, các tổ chức phát triển: Ưu tiên ODA như vốn mồi “de-risking”, hỗ trợ kỹ thuật MRV, chuẩn hóa dữ liệu, đào tạo và mô hình trình diễn; thiết kế gói hỗ trợ mở rộng quy mô thay vì thí điểm rời rạc. (iv) Đối với doanh nghiệp tư nhân: dẫn dắt chuỗi giá trị thông qua việc đầu tư vào vùng nguyên liệu phát thải thấp, thiết lập hợp đồng liên kết chặt chẽ với nông dân và thúc đẩy quan hệ đối tác công tư (PPP).
Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững đang triển khai đề tài “Nghiên cứu thực trạng ô nhiễm đất vùng trồng cây ăn trái và đề xuất giải pháp bảo vệ, cải tạo, nâng cao độ phì đất phục vụ phát triển nông nghiệp hữu cơ vùng đồng bằng sông Cửu Long” thuộc Đề án phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020 – 2030. Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp với UBND các tỉnh An Giang, Kiên Giang và Đồng Tháp tổ chức các tọa đàm chuyên đề “Phát triển nông nghiệp hữu cơ với các vùng trồng cây ăn trái tỉnh An Giang” trong thời gian từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 12 năm 2025. Được biết, tình hình sản xuất hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên nông nghiệp thâm canh sử dụng nhiều phân bón và thuốc bảo vệ thực vật hóa học, dẫn đến nhiều hệ lụy như: thoái hóa đất, ô nhiễm môi trường, tồn dư hóa chất trong nông sản và giảm sức cạnh tranh của trái cây Việt Nam trên thị trường quốc tế. Trước yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong và ngoài nước về an toàn thực phẩm và sản phẩm thân thiện môi trường, cùng với mục tiêu phát triển nông nghiệp bền vững, nông nghiệp hữu cơ đang trở thành xu thế tất yếu và là hướng đi chiến lược của Việt Nam.
Trong đó, các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn Việt Nam gồm có: áp dụng quản lý hữu cơ trong dài hạn, bền vững, theo hướng sinh thái và có tính hệ thống; đảm bảo độ phì của đất trong dài hạn và dựa trên đặc tính sinh học của đất; giảm thiểu đầu vào và là chất tổng hợp trong mọi giai đoạn của chuỗi sản xuất hữu cơ, sự phơi nhiễm của con người và môi trường với các hóa chất; giảm thiểu gây ô nhiễm từ hoạt động sản xuất, chế biến đến môi trường xung quanh; hệ thống hữu cơ không sử dụng các công nghệ phi tự nhiên; tránh bị ô nhiễm từ môi trường xung quanh; duy trì tính chất hữu cơ trong suốt chuỗi cung ứng (sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối).
Vì vậy, nông nghiệp hữu cơ theo tiêu chuẩn Việt Nam là một phương thức canh tác "thuận tự nhiên", lấy việc bảo vệ hệ sinh thái đất và sức khỏe con người làm trọng tâm, thông qua việc kiểm soát khép kín và nghiêm ngặt mọi công đoạn từ trang trại đến bàn ăn.