Cảnh báo sớm và quản lý rủi ro lũ quét, sạt lở đất tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc: thực trạng, khoảng trống và khung giải pháp chính sách
Nguyễn Đức Hoàn
Phòng Chiến lược và Chính sách phát triển bền vững
Vùng
Trung du và Miền núi phía Bắc đang đối mặt với tần suất, cường độ thiên tai địa
chất vượt các mốc lịch sử, gần nhất là đợt mưa lớn tháng 7 năm 2026 khiến Thủ
tướng Chính phủ ban hành Công điện khẩn số 49 ngày 17 tháng 7 năm 2026 (Chính
phủ, 2026). Bài viết tổng hợp bằng chứng từ khung pháp lý kỹ thuật hiện hành
(Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025a; Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam,
2025), các đề án cấp quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020, 2021), một dự
án thí điểm tại Lào Cai, Sơn La (JICA và Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên
tai, 2026) và một số công bố khoa học (Trần Văn Tư, 2012; Nguyễn Tiếp Tân và
cộng sự, 2020), nhằm trả lời ba câu hỏi: thực trạng thiên tai, năng lực cảnh
báo ra sao; chính sách đã và chưa xử lý khoảng trống nào; và khung giải pháp
nào vừa khả thi về ngân sách, thể chế vừa trung thực về giới hạn khoa học.
Khoảng trống kỹ thuật cốt lõi, mô hình hóa định lượng nguy cơ lũ quét, đã có
lời giải ở cấp quy chuẩn quốc gia. Ba khoảng trống thể chế vẫn tồn tại: phối
hợp vận hành với khí tượng thủy văn mới dừng ở tham vấn văn bản; cập nhật bản
đồ định kỳ chưa luật hóa; giải ngân địa phương, kể cả khẩn cấp, còn nhiều vướng
mắc. Bài viết đề xuất mở rộng có chọn lọc mô hình cảnh báo đã thí điểm tại Lào
Cai, thêm nguyên tắc phòng ngừa cụ thể như hạn chế xây dựng ở vùng nguy cơ cao,
bổ sung nhánh giải ngân khẩn cấp, và kết nối thiết bị bay không người lái, quét
la de và bản đồ nguy cơ thành một chuỗi từ khảo sát đến cứu hộ cứu nạn.
Tháng
7 năm 2026, mưa lớn kéo dài gây lũ quét, sạt lở nghiêm trọng tại Lào Cai, Lai
Châu, Điện Biên, Sơn La, buộc Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện khẩn số 49
ngày 17 tháng 7 năm 2026 (Chính phủ, 2026; Báo Chính phủ, 2026), biểu hiện mới
nhất của xu hướng kéo dài nhiều năm, khi cả nước trung bình hứng chịu 10 đến 15
sự kiện lũ quét, sạt lở đất mỗi năm, tập trung tại miền núi phía Bắc (Cục Địa
chất và Khoáng sản Việt Nam, 2025). Mức độ nghiêm trọng thể hiện rõ nhất qua
bão Yagi tháng 9 năm 2024, khiến hơn 330 người thiệt mạng, mất tích, riêng vụ
lũ bùn đá tại thôn Làng Nủ, xã Phúc Khánh, tỉnh Lào Cai làm 67 người chết, 37
nhà bị phá hủy (JICA và Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, 2026).
Chu kỳ tái diễn thiên tai cực đoan đang rút ngắn so với các mốc lịch sử, đòi
hỏi rà soát lại năng lực dự báo, ứng phó hiện có thay vì vận hành theo quán
tính của các đề án đã phê duyệt từ nhiều năm trước.
Diễn
biến của chính đợt thiên tai vừa nêu minh họa mức độ cấp thiết này. Rạng sáng
ngày 17 tháng 7 năm 2026, tại xã Mường Than, tỉnh Lai Châu, một khối trượt kèm
đất đá từ thượng lưu suối đã gây lũ quét ảnh hưởng trực tiếp gần 900 hộ với hơn
4.000 nhân khẩu (Tiền Phong, 2026). Tính đến ngày 20 tháng 7 năm 2026, Lai Châu
ghi nhận 6 người chết, 2 người mất tích, 28 nhà sập hoàn toàn, thiệt hại toàn
tỉnh trên 270 tỷ đồng, tính chung bốn tỉnh đã vượt 400 tỷ đồng (VTC News, 2026;
Dân trí, 2026; Tiền Phong, 2026). Tỉnh đã công bố tình huống khẩn cấp về thiên
tai, ban hành lệnh xây dựng công trình khẩn cấp tái định cư cho 24 hộ mất nhà,
huy động hơn 1.000 người tìm kiếm cứu nạn (BNews, 2026). Cảnh báo tiếp tục được
phát cho nhiều tỉnh lân cận những ngày sau đó, cho thấy rủi ro vẫn đang tiếp
diễn; các khuyến nghị dưới đây cần đặt trong bối cảnh một tình huống ứng phó
còn đang mở.
Về
căn nguyên vật lý, sạt lở đất là hệ quả suy giảm sức kháng cắt trong tầng đất
phong hóa khi mưa lớn làm nước thấm sâu, gia tăng áp lực nước lỗ rỗng, nên
Thông tư 97 bắt buộc lấy mẫu đất đá hiện trường thay vì chỉ quan sát địa hình
từ xa (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025a). Lũ quét mang bản chất khác biệt,
là dòng chảy hỗn hợp nước, bùn, đá ở quy mô toàn tiểu lưu vực chứ không phải
mất ổn định cục bộ một điểm, nên mô hình dựa trên mực nước sông lớn từng tạo
sai số đáng kể khi áp dụng máy móc cho lũ quét miền núi; thuật ngữ và cách phân
loại các dạng lũ quét đến nay vẫn chưa thống nhất cả trong nước lẫn quốc tế
(Trần Văn Tư, 2012).
Bài
viết đặt ba mục tiêu: tổng hợp có hệ thống thực trạng thiên tai, chính sách và
triển khai kỹ thuật, đối chiếu hồ sơ góp ý với bản chính thức của Thông tư 97;
xác định khoảng trống nào đã xử lý, khoảng trống nào còn tồn tại, phân biệt
bằng chứng văn bản với suy luận cần kiểm chứng thêm; và đề xuất khung giải pháp
bám sát thực tiễn đã, đang triển khai. Phạm vi phân tích giới hạn ở các tỉnh
miền núi thuộc các đề án bản đồ đã ban hành, trọng tâm là vùng Trung du và Miền
núi phía Bắc.
Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc
không bước vào một giai đoạn bất thường mà đang tiếp diễn một xu hướng đã kéo
dài, với 10 đến 15 sự kiện lũ quét, sạt lở đất mỗi năm trên toàn quốc (Cục Địa
chất và Khoáng sản Việt Nam, 2025). Nguyễn Tiếp Tân và cộng sự (2020) ước tính
gần một phần tư diện tích miền núi phía Bắc có nguy cơ cao trước ba loại hình
trượt lở, lũ quét và nứt sụt đất, tập trung tại Lai Châu, Sơn La, Lào Cai; đây
là số liệu tổng hợp toàn vùng cho cả ba loại hình, khác phạm vi, đơn vị tính
với số liệu chi tiết theo tỉnh ở nguồn khác nên cần đối chiếu trước khi trích
dẫn kèm nhau.
Tại xã Đồng Phúc, tỉnh Thái Nguyên,
lũ quét ngày 17 tháng 5 năm 2025 trên lưu vực chỉ 1,8 km² với lượng mưa 280 mm
đã khiến 4 người thiệt mạng (JICA và Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên
tai, 2026), xác nhận đặc điểm đã nêu ở phần đặt vấn đề: lũ quét miền núi phía
Bắc thường phát sinh ở tiểu lưu vực rất nhỏ, nơi có ít trạm quan trắc và thường là quy mô nhỏ.
Trường hợp Mường Than càng củng cố nhận định này, khi cùng đợt mưa còn ghi nhận
314 mm tại Nậm Păm, xã Mường La, tỉnh Sơn La (Nhân Dân, 2026). Tại thời điểm
hoàn thiện bài viết, chưa có nguồn cho biết Mường Than có nằm trong phạm vi đã
lập bản đồ nguy cơ chi tiết trước đó hay không, nên bài viết không kết luận bản
đồ hiện có đã bao phủ hay bỏ sót khu vực này.
Chính sách trong lĩnh vực
này là kết quả một quá trình phát triển nhiều năm. Quyết định cuối năm 2020 (Bộ
Tài nguyên và Môi trường, 2020) lập bản đồ cảnh báo lũ, ngập lụt cho các lưu
vực sông lớn, chủ yếu miền Trung, không bao trùm lũ quét miền núi; Quyết định
số 1740, ban hành chưa đầy chín tháng sau (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2021),
mới là nền tảng riêng cho lũ quét, sạt lở đất, sụt lún đất tại các tỉnh miền
núi. Tại phiên thẩm định đề án này giữa năm 2025, giới chuyên gia chỉ ra hạn
chế mang tính hệ thống: thiếu cập nhật dữ liệu thời gian thực, thiếu năng lực
vận hành cấp xã, thiếu kết nối truyền thông đại chúng, thiếu tích hợp bản đồ
rủi ro vào quy hoạch sử dụng đất (Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 2025).
Công tác lập bản đồ khi đó do nhiều cơ quan thực hiện độc lập, dẫn đến phân mảnh;
ngay cả đề án kế nhiệm mở rộng phạm vi vẫn chưa xác lập một đầu mối chịu trách
nhiệm cao nhất (Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 2025).
Bước chuyển biến rõ rệt
diễn ra năm 2025 và 2026. Văn bản hợp nhất số 33 (Bộ Nông nghiệp và Môi trường,
2026) lần đầu quy định bắt buộc lồng ghép bản đồ rủi ro vào kế hoạch phát triển
kinh tế xã hội, phân cấp rõ vai trò cấp tỉnh, cấp xã. Ở giai đoạn dự thảo, mô
hình đánh giá nguy cơ lũ quét còn dừng ở chồng lớp định tính năm yếu tố, không
có công thức định lượng (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025b). Đến bản chính
thức, Thông tư 97, hiệu lực từ 15 tháng 2 năm 2026, đã bổ sung công thức chỉ số
tiềm năng lũ quét định lượng (FFPI, giải thích cụ thể ở Mục 3), đồng thời lần
đầu yêu cầu đồng bộ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia và mở rộng chuỗi mưa
lịch sử tối thiểu lên 30 năm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025a). Sự khác
biệt giữa hai phiên bản cho thấy quá trình lập quy đã thực sự tiếp thu phản
biện khoa học.
Một điểm cần trình bày
cẩn trọng liên quan đến quan hệ giữa cơ quan lập bản đồ và cơ quan khí tượng
thủy văn: hai bên có tham vấn khi soạn thảo Thông tư 97, nhưng cơ quan chủ trì
đã xác nhận việc kết nối bản đồ nguy cơ với hệ thống cảnh báo sớm vận hành theo
thời gian thực không thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản này (Cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam, 2025). Ý nghĩa thực tiễn của giới hạn này được phân tích
cụ thể ở Mục 3.
Đối chiếu văn bản
với thực tiễn cho thấy một số khoảng trống còn nguyên vẹn, song cũng đã có nỗ
lực thí điểm thu hẹp. Trước Thông tư 97, chỉ một số huyện thí điểm có bản đồ
chi tiết đến cấp xã (Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 2025). Thông tư 97
chuẩn hóa định mức điều tra theo độ phức tạp địa chất, giao thông, từ 3 đến 8
km lộ trình và 8 đến 15 điểm quan sát mỗi km² tùy mức độ phức tạp (Bộ Nông
nghiệp và Môi trường, 2025a), khối lượng công việc lớn khiến triển khai phụ
thuộc mạnh vào năng lực tài chính từng tỉnh, thể hiện qua giải ngân chậm do
thiếu định mức kinh tế kỹ thuật cho khảo sát bay đo hiện đại (Cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam, 2025). Ngoài ra, lũ quét không được lập bản đồ ở tỷ lệ chi
tiết nhất 1:2.000, chỉ dành cho sạt lở đất; văn bản cũng không quy định chu kỳ
bắt buộc cập nhật bản đồ, và công tác chuyển giao chưa có chỉ tiêu xác nhận năng
lực vận hành của cán bộ cấp xã (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025a, 2025b).
Dự án JICA đã thí
điểm một hệ thống cảnh báo sớm trượt lở tại thôn Lừu 01, xã Hạnh Phúc, tỉnh Lào
Cai (JICA và Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, 2026). Hệ thống lắp
đặt từ tháng 5 năm 2023 gồm giãn kế, máy đo mưa, còi báo động, ngưỡng cảnh báo
tạm thời là dịch chuyển 10 mm trong 24 giờ theo tiêu chí Nhật Bản. Đến hết năm
2025, hệ thống sáu lần ghi nhận vượt ngưỡng, mỗi lần gửi tin nhắn đến cán bộ
tỉnh, xã và trưởng thôn. Kể cả đợt bão Yagi 2024 khi dịch chuyển vượt 20 mm
trong 24 giờ, không có lệnh sơ tán chính thức, dù người dân dường như đã tự sơ
tán trước đó dựa trên kinh nghiệm (JICA và Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống
thiên tai, 2026), cho thấy việc phát tin hiện chỉ giới hạn ở danh sách hẹp cán
bộ, chưa phải cơ chế diện rộng.
Giữa năm 2025,
phía chuyên gia Nhật Bản trong dự án còn đề xuất thành lập một cơ quan chuyên
trách phòng chống thiên tai trầm tích; đại diện cơ quan quản lý trong nước cho
biết việc này hiện khó khả thi do chủ trương tinh gọn bộ máy nhà nước, nhưng có
thể khả thi trong tương lai (JICA và Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên
tai, 2026), cho thấy vấn đề đầu mối thể chế đã được nhận diện ở cấp thực thi.
Từ
thực trạng trên, các khoảng trống thuộc phạm vi một thông tư kỹ thuật đơn
ngành, như mô hình hóa, chuẩn dữ liệu, phương pháp điều tra, đã được xử lý
tương đối triệt để. Các khoảng trống liên ngành hoặc phụ thuộc nguồn lực thực
thi, như phối hợp khí tượng thủy văn, giải ngân địa phương, truyền tin chặng
cuối, vẫn tồn tại dai dẳng vì nằm ngoài thẩm quyền một văn bản kỹ thuật. Khung
giải pháp dưới đây gồm bốn nhóm:
Bốn nguyên tắc
chỉ đạo được đề xuất, mỗi nguyên tắc gắn với một số việc làm cụ thể để dễ hình
dung khi áp dụng.
Một, phân quyền
có kiểm soát chất lượng: tỉnh được chủ động thuê khảo sát địa hình theo nhu cầu
riêng, nhưng dữ liệu thu về phải đúng chuẩn kỹ thuật của Thông tư 97 (hệ tọa
độ, định dạng, chỉ tiêu đo đạc) mới được ghép vào bản đồ chung của vùng và cơ
sở dữ liệu quốc gia; nếu không, tỉnh sẽ có bản đồ riêng nhưng không nối được
với hệ thống cảnh báo liên tỉnh.
Hai, ưu tiên khả
thi ngân sách hơn tối ưu công nghệ: nên thuê dịch vụ khảo sát bay đo khi cần,
thay vì mua đứt thiết bị đắt tiền rồi không dùng hết công suất; chỉ đầu tư
thiết bị riêng khi đã tính được số lần sử dụng đủ hoàn vốn.
Ba, trung thực về
giới hạn khoa học: không hứa “báo trước 24 giờ” cho mọi loại thiên tai, vì với
lũ quét, khoa học hiện chỉ cảnh báo được khu vực nguy cơ cao trong khoảng thời
gian đó, chưa thể chỉ đúng con suối và thời điểm cụ thể sẽ xảy ra lũ.
Bốn, ưu tiên
phòng hơn tránh: thay vì chỉ trông chờ vào việc cảnh báo kịp để sơ tán khi sự
việc đã xảy ra, cần đầu tư trước vào các biện pháp làm giảm khả năng thiệt hại
ngay từ đầu. Cụ thể, cần cấm cấp phép xây dựng nhà ở mới trong các khu vực đã
xác định nguy cơ cao, rất cao trên bản đồ, bằng cách gắn bản đồ nguy cơ vào quy
trình cấp phép xây dựng và giao đất ở cấp xã; với các khu dân cư hiện hữu nằm
trong vùng nguy cơ cao, ưu tiên di dời có lộ trình thay vì chỉ lắp thiết bị
cảnh báo tại chỗ; xây dựng công trình kiểm soát trầm tích, như đập Sabo hay
kênh dẫn dòng, tại các suối đã xác định có khối trượt lớn còn hoạt động ở thượng
nguồn, trước khi dân cư hạ lưu tăng thêm; và bắt buộc quy hoạch sử dụng đất cấp
xã phải tham chiếu bản đồ nguy cơ khi phê duyệt, không để việc này chỉ mang
tính khuyến nghị như hiện nay.
Vấn đề kết nối
dữ liệu giữa các cơ quan chức năng: cơ quan làm bản đồ nguy cơ (Cục Địa
chất và Khoáng sản Việt Nam) và cơ quan đo mưa theo thời gian thực (Cục Khí
tượng Thủy văn) hiện chưa có một đường kết nối kỹ thuật trực tiếp với nhau. Bản
đồ nguy cơ cho biết nơi nào dễ xảy ra lũ quét khi mưa đủ lớn, thông qua chỉ số
tiềm năng lũ quét, gọi tắt là FFPI, một con số được tính bằng cách chấm điểm
bảy đặc điểm của địa hình và lớp phủ đất tại từng khu vực (độ dốc, độ ẩm và độ
cong mặt đất, mức độ xói mòn, khả năng giữ nước của rừng và đất, năng lượng
dòng chảy), rồi cộng lại theo trọng số; điểm càng cao thì khu vực đó càng dễ
xảy ra lũ quét khi gặp mưa lớn (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025a). Nhưng số
liệu mưa đang rơi từng giờ lại nằm ở một hệ thống khác, do cơ quan khác quản
lý; muốn biết một khu vực có đang vượt ngưỡng nguy hiểm hay không, hiện phải có
người thủ công đối chiếu hai nguồn dữ liệu này, thay vì máy tính tự động so
sánh và phát cảnh báo ngay khi ngưỡng bị vượt. Hai cơ quan có trao đổi khi soạn
Thông tư 97, nhưng cơ quan chủ trì đã xác nhận việc kết nối dữ liệu vận hành
theo thời gian thực không thuộc phạm vi của Thông tư này (Cục Địa chất và
Khoáng sản Việt Nam, 2025). Do đó cần một quy chế phối hợp liên ngành riêng,
quy định rõ cơ quan khí tượng thủy văn phải cung cấp dữ liệu mưa của trạm nào, cập
nhật bao lâu một lần, cho ai, và bên nhận dữ liệu phải tự động so sánh với
ngưỡng mưa tính theo FFPI để phát cảnh báo mà không cần chờ con người can
thiệp.
Về giải ngân
thường xuyên, cần ban hành đơn giá dự toán mẫu cho khảo sát bay đo cấp tỉnh;
chuyển từ mua sắm thiết bị sang thuê dịch vụ khảo sát; đặt hàng gói thầu liên
vùng để đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô; giải ngân theo mốc nghiệm thu thay vì
năm tài khóa cứng nhắc; và quy định chu kỳ cập nhật bản đồ bắt buộc, đề xuất 5
năm một lần hoặc sau mỗi sự kiện thiệt hại nghiêm trọng.
Bằng chứng thực
địa cho thấy các địa phương nguy cơ cao cần được ưu tiên trang bị cảnh báo sớm
hơn mặt bằng chung, bằng cách mở rộng có chọn lọc mô hình đã kiểm chứng tại Lừu
01 sang các vị trí thuộc cấp nguy cơ cao và rất cao theo bản đồ hiện có, ưu
tiên khu vực dân cư, tài sản tập trung. Việc mở rộng cần khắc phục hai hạn chế
đã bộc lộ tại thí điểm: kênh phát tin còn giới hạn ở cán bộ, cần thêm tầng phát
tin diện rộng qua loa truyền thanh cơ sở và nghiên cứu khả thi hình thức nhắn
tin quảng bá theo khu vực; và thiếu quy trình sơ tán chính thức đi kèm ngưỡng
cảnh báo, nên mỗi điểm cần một kế hoạch sơ tán được diễn tập định kỳ, trong đó
chủ tịch xã hoặc trưởng thôn được trao quyền ra lệnh sơ tán ngay khi nhận cảnh
báo mức cao nhất, không chờ phê duyệt nhiều cấp.
Lộ trình ba bước
cho từng tỉnh: thí điểm, thuê khảo sát bay đo cho 1 đến 2 huyện nguy cơ cao
nhất, lắp quan trắc cảnh báo tại chỗ theo mô hình Lào Cai, mức đầu tư thấp; mở
rộng có chọn lọc, khảo sát toàn bộ huyện nguy cơ cao và rất cao, mức đầu tư
trung bình; tự chủ một phần, chỉ đầu tư thiết bị riêng khi có phân tích hoàn
vốn rõ ràng. Dữ liệu tỉnh phải tuân thủ hệ tọa độ quốc gia, áp dụng khung FFPI
chuẩn, có thể hiệu chỉnh trọng số theo đặc thù địa phương nhưng phải báo cáo cơ
sở khoa học.
Cần kết nối ba
nhóm công nghệ hiện đang sử dụng rời rạc, gồm thiết bị bay không người lái,
quét la de từ trên không, và bản đồ phân vùng nguy cơ, thành một chuỗi liên
tục. Kinh nghiệm thí điểm tại Sơn La cho thấy kết hợp ảnh chụp từ thiết bị bay
với xử lý ảnh dựng mô hình địa hình ba chiều là cách tiếp cận chi phí thấp, khả
thi ngay cả khi cán bộ chưa có kinh nghiệm (JICA và Cục Quản lý đê điều và
Phòng, chống thiên tai, 2026). Quét la de có độ chính xác cao hơn ảnh quang
học, phát hiện được vết nứt kéo giãn, bậc trượt nhỏ mà mắt thường khó nhận ra,
là dữ liệu đầu vào giá trị nhất cho mô hình số độ cao dùng tính FFPI.
Chuỗi kết nối đề
xuất gồm sáu công đoạn (Bảng 1).
Bảng 1. Chuỗi
tích hợp thiết bị bay không người lái, công nghệ quét la de và bản đồ nguy cơ
|
Công đoạn
|
Nội dung chính
|
Vai trò công nghệ bay không
người lái và quét la de
|
|
Khảo sát nền
|
Lập bản đồ hiện
trạng, phân vùng nguy cơ theo Thông tư 97
|
Quét la de dựng
mô hình số độ cao, đầu vào tính FFPI
|
|
Giám sát định
kỳ theo mùa
|
So sánh biến
động địa hình qua các mùa mưa
|
Bay chụp ảnh
định kỳ, đối chiếu dữ liệu nền
|
|
Giám sát thời
gian thực tại điểm trọng điểm
|
Giãn kế, máy đo
mưa tại vị trí nguy cơ cao, rất cao
|
Bay chụp bổ
sung khi có dấu hiệu bất thường
|
|
Cảnh báo đa
tầng
|
Phát tin theo
ba tầng xác suất, theo dõi sát, khẩn cấp
|
Dữ liệu địa
hình cập nhật là cơ sở hiệu chỉnh ngưỡng cảnh báo
|
|
Cứu hộ cứu nạn
|
Xác định vị trí
nạn nhân, vùng nguy hiểm thứ cấp
|
Camera ảnh
nhiệt dò tìm người, quét nhanh tránh khối trượt chưa ổn định
|
|
Phục hồi, tái
định cư
|
Thẩm định địa
điểm tái định cư an toàn
|
Quét la de
trước khi xây dựng, tránh dựng nhà đúng vị trí cũ (JICA và Cục Quản lý đê
điều và Phòng, chống thiên tai, 2026)
|
Công đoạn cứu hộ
cứu nạn là mắt xích thiếu vắng nhất hiện nay. Kinh nghiệm Mường Than, khi Lai
Châu phải huy động hơn 1.000 người trong hai ngày đầu để tìm người mất tích
giữa địa hình chia cắt, nguy cơ sạt lở thứ cấp (BNews, 2026), cho thấy nếu có
thiết bị bay gắn camera ảnh nhiệt tại chỗ hoặc điều động nhanh từ tỉnh lân cận,
lực lượng cứu hộ có thể rút ngắn thời gian xác định vị trí nạn nhân, giảm rủi
ro khi di chuyển qua khu vực chưa được khảo sát lại. Đội phản ứng nhanh cấp
huyện, và ở địa bàn đông dân thuộc vùng nguy cơ rất cao thì cả cấp xã, cần được
trang bị tối thiểu một thiết bị bay có camera ảnh nhiệt cùng người vận hành đã
qua huấn luyện.
Khuyến nghị ưu
tiên hoàn thiện hai công đoạn đầu, khảo sát nền và giám sát định kỳ theo mùa,
trong giai đoạn 2026 đến 2028 do đã có khung pháp lý, thí điểm ba công đoạn sau
tại 2 đến 3 tỉnh trọng điểm trước khi nhân rộng, tránh mở rộng đồng loạt khi
chưa đủ bằng chứng về hiệu quả, chi phí vận hành.
Thiết kế cảnh báo
cần phân theo nhiều tầng để tránh cam kết vượt giới hạn khoa học (Bảng 2).
Bảng 2. Thiết
kế cảnh báo đa tầng
|
Tầng
|
Thời gian trước sự kiện
|
Bản chất
|
|
Xác suất
|
24 đến 48 giờ
|
Cảnh báo nguy cơ
khu vực, dựa trên dự báo mưa số trị kết hợp FFPI và độ ẩm đất nền
|
|
Theo dõi sát
|
6 đến 12 giờ
|
Dựa trên mưa thực
đo tích lũy tiệm cận ngưỡng
|
|
Khẩn cấp
|
Thời gian thực
đến vài giờ
|
Vượt ngưỡng kích
hoạt hoặc dấu hiệu quan trắc trực tiếp, như tại thí điểm Lào Cai (JICA và Cục
Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai, 2026)
|
Mục tiêu cảnh báo
trước 24 giờ chỉ có cơ sở khoa học vững chắc ở tầng xác suất, mang tính khu
vực, vì chưa có mô hình nào bảo đảm dự báo chính xác vị trí, thời điểm một sự
kiện lũ quét cụ thể trước một ngày (Trần Văn Tư, 2012). Chính sách truyền thông
cần phòng ngừa cả hai vấn đề: chủ quan khi chỉ nhận cảnh báo khả năng xảy ra
thiên tai, và chủ quan khi sự kiện xảy ra nhanh hơn dự kiến; mở rộng cảnh báo
cần song hành xây dựng kế hoạch sơ tán cụ thể.
Ngân sách trung ương
nên là vốn mồi cho khảo sát nền quy mô vùng, hạ tầng cảnh báo liên tỉnh, giải
ngân theo mốc nghiệm thu; ngân sách tỉnh đối ứng theo tỷ lệ giảm dần với tỉnh
khó khăn hơn. Khung giám sát đề xuất năm chỉ số: tỷ lệ giải ngân theo quý; số
xã có cơ chế kích hoạt cảnh báo vận hành ổn định; thời gian phản ứng qua diễn
tập; tỷ lệ sự kiện có cảnh báo xác suất phát trước ít nhất 24 giờ; số tỉnh đạt
chuẩn liên kết cơ sở dữ liệu quốc gia.
Kinh nghiệm ứng phó
Mường Than cho thấy cần thêm một nhánh giải ngân riêng cho tình huống khẩn cấp.
Sau khi công bố tình huống khẩn cấp thiên tai, Lai Châu đã ban hành lệnh xây
dựng công trình khẩn cấp để tái định cư, rút gọn đáng kể thời gian từ quyết
định đến thi công (BNews, 2026), một tiền lệ pháp lý đáng nghiên cứu mở rộng
sang các hạng mục cảnh báo sớm, cứu hộ trong khi thiên tai diễn ra, vốn hiện
chưa được cơ chế này bao trùm.
Nhánh giải ngân
khẩn cấp nên bao trùm ba nhóm hạng mục: trang thiết bị kỹ thuật huy động ngay
sau sự cố (máy đo mưa, giãn kế bổ sung, đèn tín hiệu, còi báo động, thiết bị
bay không người lái, vật tư cứu hộ), được chỉ định thầu rút gọn trong hạn mức
quy định kèm hậu kiểm; dịch vụ khoa học công nghệ thời vụ, đặc biệt bay quét la
de khẩn cấp khảo sát khu vực vừa xảy ra sự cố để đánh giá nguy cơ tái diễn của khối
trượt còn sót lại phía thượng nguồn; và chi phí vận hành lực lượng phản ứng
nhanh cấp huyện, xã. Thẩm quyền chi cho ba nhóm này nên trao cho chủ tịch tỉnh
trong hạn mức quy định trước, không chờ trình duyệt nhiều cấp, kèm kiểm toán
bắt buộc sau khi tình huống khẩn cấp kết thúc.
Bài
viết tổng hợp từ văn bản pháp quy, dự thảo, một báo cáo dự án hợp tác kỹ thuật,
một số bài báo chuyên ngành và tin tức thời sự, không dựa trên khảo sát thực
địa hoặc phỏng vấn cán bộ địa phương. Các định mức chi phí, tỷ lệ đối ứng ngân
sách và hạn mức giải ngân khẩn cấp mang tính khung nguyên tắc, chưa có số liệu
định lượng theo tỉnh, cần nghiên cứu tài chính riêng trước khi luật hóa. Số
liệu diện tích nguy cơ cao theo tỉnh, nếu trích dẫn ở nguồn khác, cần đối chiếu
phạm vi loại hình tai biến, đơn vị tính trước khi đặt cạnh số liệu toàn vùng đã
nêu ở Mục 2. Đề xuất nhắn tin quảng bá theo khu vực và các biện pháp phòng ngừa
cụ thể ở Mục 3 là khuyến nghị dựa trên suy luận nhu cầu thực tiễn, chưa có bằng
chứng đã được nghiên cứu áp dụng cụ thể tại Việt Nam, cần đánh giá khả thi kỹ
thuật, pháp lý riêng. Số liệu Mường Than tổng hợp từ tin tức đến ngày 20 tháng
7 năm 2026, khi tìm kiếm người mất tích vẫn tiếp diễn, có thể thay đổi so với
tổng kết chính thức sau này.
Báo
Chính phủ (2026), Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo chủ động ứng phó với mưa lớn
khu vực miền núi Bắc Bộ, 17 tháng 7 năm 2026.
BNews
(2026), Cảnh báo lũ quét, sạt lở đất ở Lai Châu, Điện Biên, Sơn La và Lào
Cai (17 tháng 7 năm 2026) và Mường Than (Lai Châu) tan hoang sau lũ
quét, sạt lở đất (20 tháng 7 năm 2026).
Bộ
Nông nghiệp và Môi trường (2025a), Thông tư số 97/2025/TT-BNNMT quy định kỹ
thuật công tác lập bản đồ hiện trạng, bản đồ phân vùng nguy cơ, phân vùng rủi
ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000 và 2.000, ban hành 31 tháng 12 năm
2025, hiệu lực từ 15 tháng 2 năm 2026.
Bộ
Nông nghiệp và Môi trường (2025b), Dự thảo Thông tư quy định kỹ thuật điều tra,
thành lập bản đồ hiện trạng, phân vùng nguy cơ, phân vùng rủi ro do sạt lở đất,
lũ quét tỷ lệ 1:10.000 và 1:2.000.
Bộ
Nông nghiệp và Môi trường (2026), Văn bản hợp nhất số 33/VBHN-BNNMT.
Bộ
Tài nguyên và Môi trường (2020), Quyết định số 3084/QĐ-BTNMT phê duyệt Đề án
Phân vùng rủi ro thiên tai và lập bản đồ cảnh báo lũ, ngập lụt, 31 tháng 12 năm
2020.
Bộ
Tài nguyên và Môi trường (2021), Quyết định số 1740/QĐ-BTNMT phê duyệt Đề án
Phân vùng rủi ro thiên tai và lập bản đồ cảnh báo lũ quét, sạt lở đất, sụt lún
đất do mưa tại khu vực Trung du và miền núi, 9 tháng 9 năm 2021.
Chính
phủ (2026), Công điện số 49/CĐ-TTg về việc chủ động ứng phó với mưa lớn khu vực
miền núi Bắc Bộ, 17 tháng 7 năm 2026.
Cục
Địa chất và Khoáng sản Việt Nam (2025), Báo cáo tổng hợp ý kiến Bộ, ngành về
góp ý Thông tư quy định kỹ thuật công tác lập bản đồ hiện trạng, bản đồ phân
vùng nguy cơ, phân vùng rủi ro do sạt lở đất, lũ quét tỷ lệ 1:10.000 và 2.000,
28 tháng 5 năm 2025.
Dân
trí (2026), Mường Than thiệt hại hơn 190 tỷ đồng do lũ quét, 2 người đang
mất tích, 20 tháng 7 năm 2026.
Hoàng
Ngọc Tuấn và Võ Thị Tuyết (2011), Nghiên cứu xây dựng bản đồ phân vùng nguy
cơ sạt lở đất cho khu vực miền núi tỉnh Quảng Nam, Tạp chí Khoa học và Công
nghệ Thủy lợi, số 68.
JICA
và Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (2026), Báo cáo hoàn thành
Dự án Nâng cao năng lực giảm thiểu rủi ro lũ quét và sạt lở đất ở khu vực miền
núi phía Bắc.
Nguyễn
Tiếp Tân và cộng sự (2020), nghiên cứu bản đồ nguy cơ trượt lở khu vực miền núi
phía Bắc bằng mô hình thống kê.
Nhân
Dân (2026), Chủ tịch tỉnh Sơn La ban hành Công điện ứng phó với mưa lũ,
18 tháng 7 năm 2026.
Tiền
Phong (2026), Thiệt hại do mưa lũ tăng mạnh và Người dân vùng lũ quét
Mường Than khóc nức nở khi về nhà, 20 tháng 7 năm 2026.
Trần
Văn Hưng và Bùi Văn Chanh (2023), Xây dựng bản đồ chi tiết cấp độ rủi ro do
ngập lụt hạ lưu Sông Ba, Tạp chí Khoa học Biến đổi khí hậu, số 25.
Trần
Văn Tư (2012), Cơ sở khoa học và phương pháp lập bản đồ lũ quét, Tạp chí
Các Khoa học về Trái đất, tập 34, số 3, trang 217 đến 222.
VTC
News (2026), Mưa lũ ở Lai Châu làm 6 người tử vong, thiệt hại trên 270 tỷ
đồng, 20 tháng 7 năm 2026.