image banner
VI | EN
Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viện hiện nay
Lượt xem: 6

ThS. Nguyễn Hồng Anh

Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững

 

Tóm tắt

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh giữa truyền thống dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và trải nghiệm cách mạng phong phú. Bài viết này phân tích cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh từ bối cảnh Việt Nam và thế giới, làm rõ ý nghĩa sâu sắc của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên hiện nay. Việc học tập không chỉ phục vụ nâng cao lý luận và năng lực nghiên cứu, mà còn là nền tảng đạo đức để hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng Đảng và đất nước phát triển bền vững.

 

Từ khóa: Tư tưởng Hồ Chí Minh, cán bộ đảng viên.

 

Mở đầu

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam, là kim chỉ nam cho sự nghiệp cách mạng và phát triển đất nước. Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh càng trở nên quan trọng, đặc biệt đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên – những người giữ vai trò then chốt trong việc triển khai đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Tư tưởng Hồ Chí Minh không hình thành trong điều kiện lý tưởng hay sách vở, mà được chắt lọc từ thực tiễn sôi động của dân tộc và thế giới đầu thế kỷ XX. Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình quốc tế và trong nước có nhiều biến động, việc quay trở lại nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ mang ý nghĩa lý luận, mà còn mang tính thực tiễn sâu sắc nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực công tác của cán bộ, đảng viên.

 

1. Cơ sở thực tiễn hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

 

1.1. Thực tiễn Việt Nam

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ nỗi đau mất nước, cảnh lầm than của nhân dân Việt Nam dưới ách thực dân, phong kiến. Sinh ra trong thời kỳ đất nước bị đô hộ, Hồ Chí Minh chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX như phong trào Cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế, phong trào Đông Du... Những thất bại ấy cho thấy sự khủng hoảng đường lối cứu nước.

 

Nguyễn Tất Thành sớm nhận thức được rằng, muốn giải phóng dân tộc không thể đi theo con đường cũ, mà phải tìm một con đường mới. Chính vì vậy, Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước (năm 1911), bắt đầu hành trình tiếp xúc với thực tiễn quốc tế để tìm lời giải cho độc lập dân tộc và tự do cho nhân dân.

 

Cùng với phong trào đấu tranh yêu nước của nhân dân, sự ra đời và phong trào đấu tranh của giai cấp mới là giai cấp công nhân Việt Nam sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã làm cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở nước ta thêm những yếu tố mới. Đặc biệt, từ đầu những năm 20 của thế kỷ XX, giai cấp công nhân Việt Nam ngày càng trưởng thành về số lượng và chất lượng lại chịu tác động của phong trào cách mạng thế giới đã làm cho phong trào đấu tranh mang đặc trưng riêng của giai cấp công nhân càng được thể hiện rõ nét. Đây là nguồn gốc thực tiễn xã hội cực kỳ quan trọng cho sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh. Phong trào yêu nước và phong trào cồng nhân Việt Nam là cơ sở thực tiễn trong nước cho sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh.

 

1.2. Thực tiễn thế giới

 

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản phương Tây chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa tư bản độc quyền - giai đoạn đế quốc chủ nghĩa - đã chuyển từ mở thị trường buôn bán sang việc các nước đế quốc tiến hành tranh giành, đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa, nhằm khai thác nguyên liệu, bóc lột và nô dịch các dân tộc ở hầu hết các nước Á, Phi và Mỹ Latinh. Tình hình đó đã làm sâu sắc thêm mâu thuẫn vốn có trong lòng chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản với giai cấp vô sản ở các nước tư bản chủ nghĩa và mâu thuẫn giữa các nước tư bản, đế quốc với nhau, làm nảy sinh mâu thuẫn giữa nhân dân các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc thực dân. Mâu thuẫn này càng phát triển và trở thành một mâu thuẫn hết sức sâu sắc của thời đại. Yêu cầu giải phóng, đem lại độc lập cho các dân tộc thuộc địa không chỉ là đòi hỏi riêng của các dân tộc thuộc địa mà còn là yêu cầu chung của các dân tộc, góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

 

Các mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản, chủ yếu là do tranh giành thị truờng giữa các nước đế quốc, đã dẫn tới Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (từ tháng 8-1914 đến tháng 11-1918) nhằm chia lại các khu vực ảnh hưởng làm xuất hiện phong trào của nhân dân thế giới đấu tranh đòi hòa bình, chấm dứt chiến tranh đế quốc và đó cũng là một trong những nguyên nhân bùng nổ Cách mạng Tháng Mười Nga. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, với sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới, đã mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bàn lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi quốc tế, đã cổ vũ và thúc đẩy sự phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

 

Trong quá trình bôn ba hơn 30 năm tại nhiều quốc gia, Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với các học thuyết tiến bộ như dân chủ tư sản phương Tây, phong trào công nhân, và đặc biệt là chủ nghĩa Mác - Lênin. Những thực tiễn cách mạng ở Nga, Pháp, Trung Quốc và nhiều nơi khác đã giúp Người nhận ra con đường cách mạng vô sản là con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc.

 

Ngoài ra, thực tiễn đấu tranh của các dân tộc thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh cũng góp phần hình thành tư tưởng về giải phóng dân tộc, tự do, bình đẳng, bác ái trong hệ thống tư tưởng của Hồ Chí Minh. Người kết tinh giữa trí tuệ phương Đông, phương Tây, giữa tinh thần yêu nước Việt Nam với lý luận cách mạng của thời đại.

 

Trước đòi hỏi của dân tộc, nhân loại vả thời đại, tư tưởng Hồ Chí Minh hình thảnh. Sự ra đời cửa tư tưởng Hồ Chí Minh trên cơ sở thực tiễn của cách mạng trong nước và thế giới là sự giải đáp và là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới, không phải là ý muốn chủ quan hay một sự áp đặt nào.

 

2. Ý nghĩa của việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên hiện nay

 

2.1. Học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động lý luận và thực tiễn

 

Việc nghiên cứu, học tập và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động lý luận và thực tiễn là rất quan trọng. Nắm vững tư tưởng Hồ Chí Minh là nắm vững những vấn đề căn bản liên quan tới sự đúng đắn trong xây dựng đường lối, phương pháp, trong xây dựng lực lượng cách mạng...và trong tổ chức thực hiện để hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong hiện tại và tương lai. Đó chính là giá trị nền tảng và kim chỉ nam của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với Đảng và cách mạng Việt Nam.

 

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh chính là việc nghiên cứu và vận dụng hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh, bao gồm các tư tưởng chủ yếu. Cán bộ, đảng viên phải nắm bắt được yếu tố cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đó là: tư tưởng về độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh giúp cán bộ, đảng viên có cơ sở lý luận vững chắc để nhận diện các vấn đề của thời đại và đất nước. Trong bối cảnh Đảng ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp soi rọi đường lối phát triển, giữ vững bản lĩnh chính trị và thái độ kiên định trong đổi mới và hội nhập quốc tế.

 

2.2. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh để noi theo tấm gương sáng, tạo nền tảng phát triển bản thân và đất nước

 

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp ta khám phá và hiểu rõ hơn những phẩm chất, quan niệm sâu sắc của Người, cũng là qua đó tìm ra cho mình một tấm gương sáng để noi theo và những bài học bổ ích để vận dụng trong cuộc sống. Đối với Hồ Chí Minh, giữa tư tưởng với đạo đức – phong cách - lối sống là luôn thống nhất nên việc nghiên cứu tư tưởng của Người không chỉ cho ta cái nhìn giản đơn về những quan niệm của Người trong các lĩnh vực, mà mặt khác còn cho ta cảm nhận được phẩm chất, đạo đức cao đẹp của Người. Hồ Chí Minh là con người “bằng xương bằng thịt” nhưng Người làm được những việc phi thường, to lớn không phải bất cứ một ai cũng làm được. Hồ Chí Minh cùng thành quả của Người chính là tấm gương sáng “người thực việc thực” cho những ai am hiểu sâu sắc về những tư tưởng của Người có thể học tập, làm theo.

 

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh còn là một trong những con đường để nhận thức đầy đủ và sâu sắc hơn về công lao to lớn của Người đối với nhân dân, đất nước Việt Nam và nhân dân của các nước thuộc địa trên thế giới. Thấm thía công lao của Người cũng sẽ khơi gợi trong mỗi một người dân Việt Nam lòng biết ơn, lòng tự hào dân tộc, thể hiện được nét đẹp truyền thống của dân tộc - đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”.

 

Thấm nhuần được các tư tưởng chủ đạo, ta sẽ có nền tảng vững chắc về mục đích lao động, mục tiêu đúng đắn để phát triển đất nước đi lên xã hội chủ nghĩa và có bản sắc riêng. Từ đó ta sẽ tìm ra đường hướng cụ thể để phát triển năng lực của bản thân, xây dựng đất nước.

 

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là chuẩn mực để mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa. Việc học tập tư tưởng Người giúp nuôi dưỡng hoài bão, lý tưởng cách mạng, từ đó phát huy vai trò gương mẫu, trách nhiệm trước nhân dân, Đảng và đất nước.

 

Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về ý thức tu dưỡng, rèn luyện và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh sâu rộng trong toàn xã hội, đặc biệt trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, thanh niên, học sinh... nâng cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trong điều kiện thực tiễn hiện nay, mặt trái của cơ chế thị trường tác động mạnh mẽ, tạo nên sự phân hóa giàu nghèo, phần tầng xã hội, sự suy đồi về đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đã gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin, tư tưởng và tình cảm của quần chúng nhân dân vào Đảng. Vì vậy, việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, noi gương đạo đức của Người trở nên cần thiết, cấp bách và quan trọng hơn bao giờ hết giúp đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội.

 

Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là việc học tập có ý nghĩa về mặt định hướng giá trị, tạo nên sức mạnh đồng thời là kim chỉ nam, là nền tảng tư tưởng cho mọi hành động của cả dân tộc, nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo.

 

2.3. Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng định hướng nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh thần dân tộc Việt Nam, và trí tuệ văn hóa nhân loại. Trong nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn (KHXHNV), tư tưởng của Người đóng vai trò: Kim chỉ nam cho việc xác định mục tiêu nghiên cứu: Phục vụ con người, vì lợi ích của dân tộc và nhân loại tiến bộ; Định hướng giá trị trong các lĩnh vực: đạo đức học, chính trị học, lịch sử, văn hóa, xã hội học, nhân học...; Nguồn cảm hứng khoa học: Khuyến khích các nhà khoa học nhìn nhận con người và xã hội bằng cái nhìn nhân văn, tiến bộ, gắn với thực tiễn dân tộc.

 

 Nắm rõ được bản chất của tư tưởng Hồ Chí Minh giúp cho cán bộ nghiên cứu nâng cao được khả năng tư duy lý luận sắc bén và cải tiến phương pháp lao động hiệu quả và khoa học hơn. Thay đổi được tư duy nhận thức đúng đắn cũng chính là loại bỏ, bài trừ những suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực, phiến diện, phản động, hướng con người đến những tư tưởng đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển. Nếu đổi mới tư duy có vai trò dẫn dắt khởi nguồn cho sự tiến bộ thì cải tiển phương pháp cũng quan trọng không kém trong việc hiện thực hóa những dự định, quan điểm đổi mới đó.

 

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh trong nghiên cứu KHXHNV giúp các cán bộ nghiên cứu tạo lập được nền tảng tư tưởng vững chắc, tránh lệch hướng nghiên cứu; Góp phần nâng cao tính thực tiễn, ứng dụng của các công trình KHXHNV; Giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa. Đặc biệt đối với các nghiên cứu viên trẻ học để làm người trước khi làm nghề: Làm nghiên cứu không chỉ là hành động tri thức, mà còn là hành động đạo đức, trách nhiệm với xã hội; Học để đổi mới tư duy khoa học: Tránh lối mòn, kinh viện, học thuật hóa mà xa rời thực tiễn; Học để gắn kết lý luận với thực tiễn: Như Hồ Chí Minh từng nói, lý luận phải “xuất phát từ thực tế, trở lại phục vụ thực tế”.

 

Vậy các cán bộ nghiên cứu học tập tư tưởng Hồ Chí Minh bằng cách nào?.

 

Các cán bộ nghiên cứu trẻ có thể nghiên cứu các tác phẩm của Bác: Như “Đường Kách mệnh”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”… để thẩm thấu phương pháp, tư duy, và đạo đức khoa học của Người; Gắn học tập tư tưởng Hồ Chí Minh với hoạt động chuyên môn; Vận dụng tư tưởng Người trong việc xây dựng đề tài, lựa chọn cách tiếp cận nghiên cứu; Lồng ghép tư tưởng của Người trong bài viết, báo cáo, hội thảo, giảng dạy; Thông qua tự rèn luyện và thực hành đạo đức nghiên cứu; Trung thực khoa học, không đạo văn, không chạy theo thành tích; Tham gia các hoạt động sinh hoạt chính trị, học tập chuyên đề: Tổ chức học tập chuyên đề về tư tưởng Hồ Chí Minh tại đơn vị, chi bộ, hội đồng khoa học; Học qua gương sống và phong cách làm việc của Bác: Cần – kiệm – liêm – chính – chí công vô tư, sâu sát thực tiễn, giản dị nhưng sâu sắc.

 

Đối với cán bộ nghiên cứu, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội, tăng cường gắn kết giữa khoa học với cuộc sống. Thái độ khoa học, cầu thị, và tinh thần phục vụ nhân dân là giá trị cốt lõi cần được thấm nhuần. Việc nghiên cứu không chỉ để công bố mà còn phục vụ phát triển đất nước, địa phương, con người Việt Nam – đúng như Hồ Chí Minh từng nói: “Học để hành”.

 

3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả học tập tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cán bộ, đảng viên hiện nay.

 

- Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.

 

+ Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

 

+ Trong đó, tập trung xây dựng đạo đức cách mạng cho CBĐV: tuyệt đối trung thành, kiên định lý tưởng cách mạng, đặt lợi ích của Đảng, của đất nước, dân tộc lên trên hết; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, thật sự là công bộc của Nhân dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội. Mỗi CBĐV cần nhận thức rõ, đạo đức cách mạng sẽ tạo cơ sở vững chắc để người cán bộ giữ vững phẩm cách của mình trước mọi cám dỗ tầm thường, giúp người cán bộ hình thành và củng cố phương pháp, tác phong làm việc khoa học, nâng cao chất lượng công việc đảm nhiệm.

 

- Hai là, mỗi cán bộ đảng viên cần không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

 

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”. Do đó, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi cán bộ đảng viên vừa phải tích cực, thường xuyên, liên tục, đồng thời phải được gắn liền với mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng và kết quả hoàn thành nhiệm vụ của mỗi người trên cương vị, chức trách được giao.

 

- Ba là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy đảng các cấp và người đứng đầu trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ đảng viên.

 

+ Cấp ủy đảng và người đứng đầu phải luôn quán triệt và thực hiện tốt việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cho đội ngũ cán bộ đảng viên ở mọi nơi, mọi lúc, mọi công việc và trong các mối quan hệ.

 

+ Đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, thẳng thắn chỉ rõ khuyết điểm, đề cao tinh thần “tự soi”, “tự sửa” trong mỗi cán bộ đảng viên và tổ chức đảng. Cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, đảng viên làm gương trước quần chúng.

 

+ Tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII), Đảng ta đã ban hành Quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương (Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018), trong đó yêu cầu cán bộ đảng viên, nhất là người đứng đầu phải “không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng. Mẫu mực về đạo đức, lối sống. Thực sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; trung thực, giản dị, thẳng thắn, chân thành”.

 

+ Như vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên có lập trường, quan điểm vững vàng; luôn gương mẫu về phẩm chất đạo đức, lối sống, phát huy tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực công tác, phong cách lãnh đạo, sâu sát quần chúng, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân là vô cùng cần thiết. Chú trọng rèn luyện cho cán bộ tinh thần chủ động khắc phục mọi khó khăn, gian khổ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

 

+ Bên cạnh đó, cần sớm xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ đảng viên với tổ chức đảng và với Nhân dân, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới để mỗi cán bộ đảng viên lấy đó làm tiêu chí tự giác phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện theo chuẩn mực đạo đức cách mạng. Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII).

 

- Bốn là, chú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực toàn diện cho đội ngũ CBĐV, giúp họ vươn lên chiếm lĩnh tri thức, làm chủ khoa học công nghệ, vững vàng chuyên môn nghiệp vụ.

 

Trong một xã hội vận động và biến đổi nhanh chóng, đất nước hội nhập sâu rộng với thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu, đòi hỏi rất cao về năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất, đạo đức, bản lĩnh chính trị đối với mỗi người cán bộ đảng viên, công chức, viên chức. Do vậy, để tránh tụt hậu, đáp ứng được yêu cầu của công việc, tiến tới có đủ năng lực làm việc được trong môi trường quốc tế, mỗi người cần có tinh thần cầu thị, không ngừng cố gắng, nỗ lực học tập, rèn luyện để tự hoàn thiện bản thân. Có như vậy, chúng ta mới xây dựng được một đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững.

 

- Năm là, kết hợp kỷ luật, kỷ cương của Đảng, đề cao pháp luật của Nhà nước với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách cho cán bộ, đảng viên.

 

KẾT LUẬN

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh trí tuệ của dân tộc và nhân loại, là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam. Trong thời đại ngày nay, khi đất nước đang đổi mới mạnh mẽ và hội nhập sâu rộng, việc học tập, vận dụng tư tưởng của Người không chỉ là nhiệm vụ chính trị mà còn là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là đối với các cán bộ nghiên cứu.

 

Học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp chúng ta không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực chuyên môn, từ đó góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và đất nước phát triển phồn vinh. Đây là con đường tất yếu để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc mà Đảng và nhân dân ta đang hướng tới.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.     Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 1–15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

2.     Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, II, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

3.     Ban Tuyên giáo Trung ương (2021), Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

4.     Võ Văn Thưởng (2019), “Giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, Tạp chí Cộng sản, số 925.

5.     Nguyễn Mạnh Hùng (2020), “Tư tưởng Hồ Chí Minh và sự phát triển tư duy lý luận của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6.

Nguồn bài viết: Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com