Tạp chí khoa học trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo
TS.
Nguyễn Đình Đáp
Viện
Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Tóm tắt: Chuyển
đổi số là xu thế khách quan và là con đường tất yếu đối với các cơ quan báo
chí, trong đó có các tạp chí khoa học. Chuyển đổi số trong hoạt động của tạp
chí khoa học là quá trình ứng dụng các công cụ, giải pháp công nghệ số để thay
đổi toàn diện và tổng thể mô hình hoạt động của tạp chí khoa học, từ quy trình
biên tập, xuất bản, phân phối nội dung đến văn hóa làm việc, phương thức tác
nghiệp, quản trị tòa soạn, nhằm cải tiến và tối ưu hóa hoạt động. Hiện nay, phần
lớn các tạp chí uy tín quốc tế đã chuyển sang phát hành trực tuyến, nhưng tại
Việt Nam, số lượng tạp chí khoa học phát hành trực tuyến còn hạn chế. Do vậy, cần
đẩy mạnh công tác chuyển đổi số thông qua nền tảng trực tuyến. Điều này sẽ tạo
lập cơ sở dữ liệu công bố và trích dẫn khoa học, góp phần nâng cao chất lượng
nghiên cứu và giúp tạp chí Việt Nam có thêm cơ hội vào danh mục cơ sở dữ liệu
trong khu vực.
Từ khoá: chuyển
đổi số, tạp chí khoa học, xuất bản số, cơ sở dữ liệu khoa học.
DIGITAL
TRANSFORMATION AND INNOVATION IN SCIENTIFIC JOURNALS:
CHALLENGES, CURRENT
STATUS AND POLICY RECOMMENDATIONS IN VIETNAM
Abstract:
Digital
transformation has become an inevitable trend and a strategic pathway for media
organizations, including scientific journals. In the context of rapid
technological advancement and innovation, digital transformation in scientific
publishing refers to the comprehensive application of digital technologies to
redesign editorial workflows, publishing processes, content dissemination,
editorial management, and organizational culture in order to improve
operational efficiency and publication quality. Worldwide, most reputable
scientific journals have shifted to online publishing and digital
dissemination, thereby enhancing accessibility, visibility, and international
scholarly communication. In contrast, the number of Vietnamese scientific journals
operating fully on digital publishing platforms remains relatively limited.
Accelerating digital transformation is therefore an urgent requirement for
improving editorial quality, modernizing publishing processes, strengthening
research integrity, and expanding the international visibility of Vietnamese
scholarly publications. Developing online publishing platforms integrated with
digital identifiers, citation databases, and international indexing standards
will contribute to establishing a robust national scientific publishing
ecosystem while creating greater opportunities for Vietnamese journals to be
included in regional and global citation databases.
Keywords:
digital transformation, scientific journals, digital publishing, research
databases.
1.
Một số vấn đề về tạp chí trong bối cảnh hiện nay
Tạp
chí, theo cách hiểu truyền thống là cơ quan nghiên cứu lý luận, học thuật, khoa
học của một cơ quan, tổ chức, đoàn thể, có chức năng nghiên cứu, hướng dẫn,
trao đổi nghiệp vụ khoa học về một lĩnh vực thuộc phạm vi ngành, địa phương.
Các tạp chí khoa học được xem là đại diện tiêu biểu cho nền khoa học của mỗi quốc
gia. Đó là nơi để phổ biến, giới thiệu và công bố các kết quả nghiên cứu khoa học,
tổng kết thực tiễn.
Ở
Việt Nam, với sự phát triển nhanh của các ngành khoa học, tạp chí khoa học ngày
càng phong phú về số lượng, nâng cao về chất lượng, phân bố trên nhiều lĩnh vực.
Luật Báo chí coi tạp chí khoa học là sản phẩm báo chí xuất bản định kỳ để
công bố kết quả nghiên cứu khoa học, thông tin về hoạt động khoa học chuyên
ngành [khoản 16, điều 3 Luật Báo chí 2016].
Theo
thống kê đến tháng 9-2024, cả nước có 809 cơ quan báo chí, trong đó có 671 cơ
quan tạp chí, trong đó có 319 tạp chí khoa học, 72 tạp chí văn học - nghệ thuật. Theo
tôn chỉ, mục đích và nội dung của tạp chí được chia thành các nhóm khác nhau, gồm:
Nhóm
tạp chí lý luận chính trị, nhóm tạp chí khoa học và nhóm tạp chí phổ
thông. Trong mỗi loại hình tạp chí lại có các phân hệ tạp chí khác nhau:
1)
Tạp chí lý luận chính trị gồm: Tạp chí lý luận chính trị (Tạp chí Cộng sản của
Ban Chấp hành Trung ương), tạp chí chính trị chuyên ngành (các đơn vị, vụ, viện,
học viện trực thuộc các đơn vị sự nghiệp ở Trung ương);
2)
Tạp chí khoa học gồm: Tạp chí khoa học thông tin lý luận, tạp chí khoa học
chuyên ngành và tạp chí khoa học ứng dụng mang tính đại chúng (tạp chí chính trị
học, kinh tế học, xã hội học, luật học, y học…);
3)Tạp
chí phổ thông gồm: Tạp chí thông tin - chỉ dẫn, tạp chí giải trí (tạp chí Thông
tin và Truyền thông, tạp chí Ngày Nay, tạp chí Du lịch, tạp chí Mốt, tạp chí
Văn nghệ…).
Đối
với nhóm tạp chí lý luận chính trị và tạp chí khoa học chuyên ngành chủ yếu sử
dụng các loại thể chính luận (gồm xã luận, bình luận, chuyên luận), bài báo
khoa học và một số thể loại báo chí thứ yếu khác, như điều tra khoa học, thông
tin khoa học, phỏng vấn chuyên gia. Đối với nhóm tạp chí phổ thông, loại thể gần
với nhật báo. Có những tạp chí là sự giao thoa giữa tạp chí lý luận chính
trị và tạp chí khoa học chuyên ngành; giữa tạp chí khoa học chuyên ngành và tạp
chí phổ thông.
So
với các hình thức phổ biến kiến thức khác thì loại hình phổ biến trên Tạp chí
khoa học có lợi thế là có đông đảo bạn đọc trong và nước ngoài. Đặc thù của Tạp
chí khoa học là thực hiện hoạt động thông tin, yêu cầu cơ bản của thông tin là
phải nhanh nhạy, kịp thời, cập nhật, nếu không thông tin sẽ trở nên lỗi thời,
không còn tính hấp dẫn. Do vậy, chuyển đổi số không chỉ là xu hướng tất yếu mà
còn mở ra cơ hội nâng cao chất lượng xuất bản, tăng cường kết nối quốc tế cho
các tạp chí khoa học.
2.
Tiêu chí chuyển đổi số của tạp chí khoa học
Hiện
nay, tạp chí in vốn được xếp hàng thứ yếu trong quan niệm phổ biến về chiến lược
phát triển của một số Tạp chí, nhưng thực tế vẫn có nhiều Tạp chí bản in
vẫn là một tài sản lưu giữ tri thức quan trọng. Nhiều tòa soạn phải đối diện với
thực tế khác thường: Phần lớn bạn đọc và danh tiếng của tờ báo đến từ bản
digital, nhưng phần lớn doanh thu lại đến từ bản in. Tờ Guardian sử dụng chiến
lược giá bán lẻ cao để khuyến khích bạn đọc vãng lai thành bạn đọc mua gói (để
được giảm giá), đồng thời đóng gói các bài báo in cung cấp cho các subscribers
của bản online.
Trong
bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển ngày càng mạnh mẽ hiện
nay, chuyển đổi số là xu thế tất yếu trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống
kinh tế - xã hội, trong đó có báo chí, truyền thông. Chuyển đổi số trở thành
yêu cầu cấp thiết để các cơ quan báo chí, trong đó có các tạp chí đổi mới
phương thức vận hành, nâng cao hiệu quả hoạt động, đáp ứng nhu cầu của độc giả
và cạnh tranh với các loại hình truyền thông khác.
Chuyển
đổi số trong hoạt động của tạp chí khoa học là quá trình ứng dụng các công cụ,
giải pháp công nghệ số để thay đổi toàn diện và tổng thể mô hình hoạt động của
tạp chí khoa học, từ quy trình biên tập, xuất bản, phân phối nội dung đến văn
hóa làm việc, phương thức tác nghiệp, quản trị tòa soạn, nhằm cải tiến và tối
ưu hóa hoạt động.
Chuyển
đổi số trong hoạt động của tạp chí khoa học bao gồm các nội dung chính:
1)
Đưa nội dung lên các nền tảng số sẵn có, hướng tới xuất bản tạp chí điện tử;
2)
Đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động của tòa soạn tạp chí; 3) Tăng cường ứng dụng
công nghệ trong hoạt động nghiệp vụ;
4)
Phát triển hạ tầng số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin;
5)
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng các yêu cầu của chuyển đổi số.
Chuyển
đổi số đối với tạp chí khoa học thể hiện trên các phương diện:
1)
Chuyển đổi số về quy trình xuất bản: tạp chí khoa học cần xây dựng phần mềm trực
tuyến đảm bảo toàn bộ quy trình xuất bản (nhận bài, sơ duyệt, chuyển phản biện,
phản biện gửi góp ý, tác giả sửa theo đề nghị của phản biện, chỉnh sửa, hiệu
đính… xuất bản) đều được xử lý trên phần mềm này;
2)
Website của tạp chí đảm bảo thuận tiện cho độc giả (đơn giản nhưng đầy đủ, thân
thiện, truy cập nhanh, dễ tìm kiếm, tương thích với hệ thống tìm kiếm, thống kê
phổ biến hiện nay về khoa học;
3)
Ứng dụng các công nghệ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 vào xuất bản: trí tuệ
nhân tạo, dữ liệu lớn, học máy…;
4)
Đảm bảo an toàn thông tin.
Theo
Quyết định số 1827/QĐ-BTTTT ngày 24/10/2024 của Bộ Thông tin và Truyền thông về
việc ban hành bộ chỉ số đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số
báo chí. Theo đó, Bộ Chỉ số đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số
báo chí được dùng để theo dõi, đánh giá được hiện trạng thực hiện chuyển đổi số
hàng năm của cơ quan báo chí, so sánh và xếp hạng mức độ chuyển đổi số của cơ
quan báo chí; so sánh giữa các năm với nhau thấy được các điểm mạnh cần phát
huy, những điểm yếu cần khắc phục và cung cấp thông tin hỗ trợ cho cơ quan báo
chí và các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp chuyển đổi số phù hợp nhằm
hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra tại Chiến lược chuyển đổi số báo chí đến năm
2025, định hướng đến năm 2030.
Tổng
thang điểm đánh giá đạt tối đa của Chỉ số đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi
số báo chí của các cơ quan báo chí là 100 điểm, được chia cho 5 trụ cột, trong
đó thang điểm tối đa của các trụ cột như sau:
(1)
Chiến lược: 18 điểm
(2)
Hạ tầng số, nền tảng số và an toàn thông tin: 24 điểm
(3)
Sự đồng nhất về tổ chức và chuyên môn: 20 điểm
(4)
Độc giả, khán giả, thính giả: 23 điểm
(5)
Mức độ ứng dụng công nghệ số: 15 điểm
Bảng
1. Thang điểm đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số của cơ quan báo chí
|
TT
|
Chỉ
số
|
Số
lượng tiêu chí
|
Thang
điểm tối đa
|
|
|
Đánh giá tổng thể
|
43
|
100
|
|
1
|
Chiến lược
|
06
|
18
|
|
|
Chiến lược/kế hoạch/chương trình tổng
thể/ giai đoạn và hằng năm
|
03
|
8
|
|
|
Tài chính
|
03
|
10
|
|
2
|
Hạ tầng số, nền tảng số và an toàn
thông tin
|
20
|
24
|
|
|
Hạ tầng số
|
03
|
4
|
|
|
Nền tảng số
|
11
|
12
|
|
|
Bảo đảm an toàn thông tin
|
06
|
8
|
|
3
|
Sự đồng nhất về tổ chức và chuyên
môn
|
07
|
20
|
|
|
Sự đồng nhất về tổ chức
|
03
|
10
|
|
|
Sự đồng nhất về chuyên môn
|
04
|
10
|
|
4
|
Độc giả, khán giả, thính giả
|
07
|
23
|
|
|
Quản lý trải nghiệm của độc giả,
khán giả, thính giả
|
03
|
11
|
|
|
Trải nghiệm của độc giả, khán giả,
thính giả
|
04
|
12
|
|
5
|
Mức độ ứng dụng công nghệ số
|
03
|
15
|
Tùy theo kết quả đánh giá
(điểm tổng đạt được của tất cả các tiêu chí) cơ quan báo chí sẽ được xếp loại.
Mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí của các cơ quan báo chí sẽ được xác định
căn cứ vào tổng điểm đạt được của 5 trụ cột/ chỉ số thành phần và được xếp hạng
như sau:
Mức 1: dưới 50 điểm - ở mức
Yếu
Mức 2: từ 50 đến dưới 60
điểm - ở mức Trung bình
Mức 3: từ 60 đến dưới 75
điểm - ở mức Khá
Mức 4: từ 75 đến dưới 90
điểm - ở mức Tốt
Mức 5: từ 90 điểm trở lên
- ở mức Xuất sắc
Bộ Chỉ số đánh giá, đo lường
mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí được dùng để theo dõi, đánh giá được
hiện trạng thực hiện chuyển đổi số hàng năm của cơ quan báo chí, so sánh và xếp
hạng mức độ chuyển đổi số của cơ quan báo chí; so sánh giữa các năm với nhau thấy
được các điểm mạnh cần phát huy, những điểm yếu cần khắc phục và cung cấp thông
tin hỗ trợ cho cơ quan báo chí và các cơ quan liên quan thực hiện các giải pháp
chuyển đổi số phù hợp nhằm hoàn thành các mục tiêu đã đặt ra tại Chiến lược
chuyển đổi số báo chí đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Việc đánh giá, đo lường mức
độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí của các cơ quan báo chí trước hết được thực
hiện theo từng tiêu chí, sau đó tính theo từng chỉ số thành phần/ trụ cột. Mỗi
trụ cột/chỉ số thành phần sẽ có các tiêu chí và điểm tối đa tương ứng của tiêu chí.
Nhằm đảm bảo tính toàn diện,
khách quan, việc đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí được Bộ Thông tin
và Truyền thông thành lập Hội đồng thẩm định thực hiện rà soát, đối chiếu, kiểm
tra số liệu các cơ quan báo chí cung cấp để đánh giá, xếp hạng mức độ trưởng
thành chuyển đổi số báo chí của các cơ quan báo chí. Căn cứ theo kết quả thẩm định,
điểm đánh giá từng tiêu chí của cơ quan báo chí có thể được điều chỉnh.
Đối
với các tiêu chí do các cơ quan báo chí cung cấp số liệu để đánh giá, nếu cơ
quan báo chí không cung cấp được thông tin, số liệu báo cáo đối với tiêu chí
nào thì giá trị điểm đối với tiêu chí tương ứng đó sẽ có thể bị chấm là 0 điểm.
Kết
quả đánh giá, xếp hạng là cơ sở để các cơ quan báo chí theo dõi lộ trình thực hiện chuyển đổi số hằng năm của đơn vị, phản
ánh một bức tranh rõ nét hơn về tình hình ứng dụng và phát triển CNTT, chuyển đổi
số, từ đó các cơ quan báo chí xây dựng phương án, kế hoạch phù hợp thúc đẩy hoạt
động CNTT nói chung và chuyển đổi số nói riêng phù hợp với đặc thù và mục tiêu
hướng tới của đơn vị.
3.
Thực trạng chuyển đổi số các tạp chí hiện nay
Ở
nước ta, báo chí là sản phẩm văn hóa, cũng là sản phẩm chính trị, không thể bằng
mọi giá để có nguồn thu. Các cơ quan báo chí đều thực thi nhiệm vụ kép, dù cơ
quan báo chí là đơn vị sự nghiệp có thu một phần hay tự chủ hoàn toàn thì nhiệm
vụ quan trọng hàng đầu là thực hiện nhiệm vụ chính trị theo tôn chỉ, mục đích
của tờ báo, tạp chí in hay điện tử. Tôn chỉ đó xác định vị trí, chức năng… của
cơ quan báo chí đó.
Tạp chí không phải tổ chức
thành doanh nghiệp sinh ra để kinh doanh lấy lợi nhuận kinh tế làm thước đo tồn
tại và phát triển. Đồng thời cũng phải xác định, Tạp chí không phải là báo,
không chạy theo cập nhật thời sự hàng ngày. Tạp chí phải làm nội dung tốt, với
những bài chuyên sâu, mang tính nghiên cứu chuyên ngành, thực hiện đúng chức
năng, nhiệm vụ được giao, tạo vị thế vững vàng, tạo nền tảng tốt trong dòng chảy
thông tin báo chí cách mạng…
Tuy nhiên, quá trình chuyển
đổi số tạp chí khoa học hiện nay gặp không ít thách thức. Các nghiên cứu đã thực
hiện cho thấy tại Việt Nam có gần 350 tạp chí khoa học, nhưng mới chỉ có 66 tạp
chí triển khai xuất bản trực tuyến với trang web độc lập, đa phần là các tạp
chí khoa học tự nhiên; còn lại là xuất bản bản in (Nguyễn Thị Minh Huế (2019).
Có khoảng 13% tạp chí khoa học được khảo sát không có website hoạt động, chỉ
39% website tạp chí có đủ các thông tin cơ bản về hội đồng biên tập và chính
sách hoạt động (Nguyễn Phúc Quân, 2024). Việc nghiên cứu, nhận diện các yếu tố ảnh
hưởng đến quá trình chuyển đổi số của các tạp chí khoa học là điều cần thiết nhằm
góp phần tìm kiếm những giải pháp phù hợp để thúc đẩy nhanh tiến trình này.
Với
sự phát triển của công nghệ số những năm gần đây, mô hình xuất bản của các tạp
chí khoa học đang dần biến đổi, xuất hiện những nền tảng xuất bản tạp chí điện
tử. Hầu hết các tạp chí khoa học hàng đầu trên thế giới đều được xuất bản và phổ
biến ở dạng điện tử hay còn gọi là dạng số. Tại Việt Nam, có trên 380 tạp chí
khoa học được Hội đồng chức danh nhà nước xét tính điểm công trình nghiên cứu,
trên tổng số 660 tạp chí và đã có nhiều tạp chí nâng cao chất lượng, tiệm cận
tiêu chuẩn quốc tế (ACI, ISI, Scopus...). Tuy nhiên, phần lớn các tạp chí được
xuất bản bởi các cơ quan chủ quản, các viện nghiên cứu, chứ không phải được xuất
bản bởi các nhà xuất bản như thông lệ của nước ngoài. Hiện nay, theo khảo sát của
Cục thông tin KH&CN quốc gia, trong tổng số 155 tạp chí, có 102 tạp chí xuất
bản tạp chí giấy (chiếm khoảng 66%), 52 tạp chí xuất bản cả bản giấy và bản điện
tử (chiếm khoảng 33%) và chỉ có 1 tạp chí xuất bản điện tử. Cũng theo khảo sát,
chỉ có khoảng 27% số tạp chí sử dụng mã định danh DOI cho các bài báo được xuất
bản điện tử.
Năm
2023, lần đầu tiên Cục Báo chí (Bộ TT&TT) công bố Báo cáo đánh giá mức độ
trưởng thành chuyển đổi số báo chí. Tuy nhiên, các cơ quan báo chí tham gia
đánh giá còn khá hạn chế. Năm 2024 (năm thứ hai đánh giá), mới chỉ có 282/873
đơn vị báo chí tham gia đánh giá. Báo cáo này cho thấy bức tranh tổng quan về
chuyển đổi số báo chí của Việt Nam hiện nay còn khá hạn chế và mờ nhạt (chỉ có
11/59 tiêu chí đạt trên 50%) (Bảng 2).
Bảng
2. Tiêu chí đạt được mề mức độ trưởng thành chyển đổi số báo chí
|
STT
|
Tiêu chí đạt được
|
Số đơn vị báo chí đạt được
|
Tỷ lệ đạt (%)
|
|
1
|
Cơ quan báo chí có chiến lược/kế hoạch/chương trình tổng
thể/giai đoạn chuyển đổi số báo chí của cơ quan
|
158
|
56,03
|
|
2
|
Kho lưu trữ dữ liệu chung để kết nối, chia sẻ và khai
thác dữ liệu số của cơ quan báo chí (video, hình ảnh, âm thanh…) và lưu trữ
trên 12 tháng
|
152
|
53,90
|
|
3
|
Cơ quan báo chí có kết nối Internet băng rộng cáp quang
|
171
|
60,64
|
|
4
|
Có ứng dụng các phần mềm để nâng cao tốc độ biên tập, sản
xuất tin, bài, đề dạng tác nghiệp tựa; hoặc có hoạt động theo mô hình tòa soạn
hội tụ, đa phương tiện; hoặc có ứng dụng phần mềm trực tuyến và các nền tảng
công nghệ ảo hóa, điện toán đám mây giúp phóng viên, biên tập viên dễ dàng xử
lý thông tin mọi lúc, mọi nơi
|
156
|
55,32
|
|
5
|
Có thực hiện phân phối nội dung báo chí trên các nền tảng
sẵn có (trang web, mạng xã hội uy tín và các nền tảng công nghệ số trong nước)
hoặc trên các nền tảng tự xây dựng, vận hành (trang web, ứng dụng trên
mobile, tablet, smartTV…)
|
169
|
59,93%
|
|
6
|
Có áp dụng hệ thống quản trị nội dung trong quá trình sản
xuất, phân phối nội dung
|
155
|
54,96%
|
|
7
|
Có các kênh thông tin riêng trên các mạng xã hội như:
Facebook, Twitter, YouTube…
|
159
|
56,38%
|
|
8
|
Ứng dụng các giải pháp/nền tảng hỗ trợ không gian làm việc
ảo/triển khai nền tảng họp trực tuyến xuống các cấp (phòng, ban, đơn vị trực
thuộc, thiết bị cá nhân…)
|
144
|
51,06%
|
|
9
|
100% máy chủ của cơ quan báo chí được cài đặt phòng, chống
mã độc
|
192
|
68,09%
|
|
10
|
100% máy trạm của cơ quan báo chí được cài đặt phòng, chống
mã độc
|
167
|
59,22%
|
|
11
|
Có đội ngũ chuyên trách bảo đảm an toàn thông tin
|
156
|
51,77%
|
Nguồn: Cục Báo chí (2024), Báo cáo
đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí 2024.
Năm 2024, theo ghi nhận của
Cục Báo chí,
- Tổng số cơ quan báo chí
cả nước: 873 đơn vị
- Tổng số cơ quan báo chí
hoàn thành chương trình tập huấn: 351 đơn vị
- Tổng đơn vị thực hiện
đánh giá, đo lường năm 2024: 282 đơn vị (trong đó: khối Báo trung ương: 40; Khối Báo địa phương:
62; Khối Tạp chí trung ương và địa phuong: 48; Khối Tạp chí khoa học: 67; Khối
Đài Phát thanh, truyền hình: 65)
Năm 2024 ghi nhận 351 cơ
quan báo chí tham gia và hoàn thành chương trình Tập huấn, hướng dẫn cơ quan
báo chí thực hiện đánh giá, đo lường mức độ trưởng thành chuyển đổi số do Trung
tâm Hỗ trợ Chuyển đổi số báo chí tổ chức trực tiếp và trực tuyến ngày
30-31/10/2024.
Kết quả cho thấy, có 28
cơ quan báo chí đạt mức Xuất sắc (tăng 6,27% so với năm 2023); 65 đơn
vị đạt mức Tốt (tăng 14,99% so với năm 2023); 55 đơn vị đạt mức Khá
(tăng 6.31% so với năm 2023); 25 đơn vị đạt mức Trung bình (giảm 3,22% so
với năm 2023); và 109 đơn vị đạt mức Yếu (giảm 24,35% so với năm
2023).
Cụ thể, ở khối Báo Trung
ương, có 10 cơ quan báo chí chuyển đổi số đạt mức Xuất sắc gồm: Báo Lao động (Tổng
Liên đoàn Lao động Việt Nam); Báo VnExpress (Bộ Khoa học và Công nghệ); Báo điện
tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam); Báo Tin tức (Thông tấn xã Việt Nam);
Báo Đại biểu nhân dân (Văn phòng Quốc hội); Báo Thanh niên (Trung ương Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh); Báo Nhân Dân (Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam); Báo Vietnamnet (Bộ Thông tin và Truyền thông); Báo Nhà báo và
Công luận (Hội Nhà báo Việt Nam); Báo điện tử VTCNews (Đài Tiếng nói Việt Nam).
Top 7 đơn vị dẫn đầu (mức
Tốt) ở khối Tạp chí Trung ương và địa phương là: Tạp chí Hải quan (Tổng cục Hải
quan, Bộ Tài chính); Tạp chí Ngân hàng (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam); Tạp chí
Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Bộ Khoa học và Công nghệ); Tạp chí Cửa Việt (Hội
Văn học Nghệ thuật tỉnh Quảng Trị); Tạp chí Công dân và Khuyến học (Hội Khuyến
học Việt Nam); Tạp chí Bảo hiểm xã hội (Bảo hiểm xã hội Việt Nam); Tạp chí Lao
động và Công đoàn (Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam).
Ví dụ, đối với tạp chí
khoa học: trong đánh giá chuyển đổi số báo chí 2024, Tạp chí Quản lý và Kinh tế
quốc tế (Trường Đại học Ngoại thương) xếp hạng KHÁ – mức thứ 2 trong khối tạp
chí khoa học. Đây là năm đầu tiên tham gia đánh giá, Tạp chí đã xuất sắc nằm
trong Top 9 cơ quan báo chí dẫn đầu khối Tạp chí khoa học, khẳng định những nỗ
lực bứt phá trong năm 2024. Trong đó, Tạp chí đã tối ưu hóa quy trình biên tập,
nâng cao trải nghiệm cho tác giả và bạn đọc, đồng thời mở rộng kết nối qua các
nền tảng trực tuyến. Báo cáo đánh giá cho thấy Tạp chí đáp ứng tốt cả 5 trụ cột
chuyển đổi số: Chiến lược, Hạ tầng số, Nền tảng số, Đồng nhất chuyên môn, và Mức
độ ứng dụng công nghệ.
Một số chỉ số trong Báo
cáo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí có tỷ lệ rất thấp như:
có thực hiện đo tỷ lệ độc giả, khán giả, thính giả trung thành và tỷ lệ độc giả,
khán giả, thính giả trung thành năm đánh giá giảm so với năm trước liền kề chiếm
tỷ lệ 1,42%; có thực hiện đo tỷ lệ độc giả, khán giả, thính giả mới và tỷ lệ độc
giả, khán giả, thính giả mới năm đánh giá giảm so với năm trước liền kề chiếm tỷ
lệ 1,77%; có đo lường thông qua khảo sát độc giả, khán giả, thính giả chiếm tỷ
lệ 3,55%...
4. Một số khó khăn, thách
thức đối với tạp chí khoa học trong chuyển dổi số
1) Chính sách về tài
chính khó áp dụng đối với tạp chí khoa học
Hiện nay, chính sách tài
chính đối với các tạp chí khoa học được đề cập với tính chất là chính sách tài
chính đối với hệ thống báo chí nói chung, cụ thể là ở 2 văn bản: Nghị định số
18/2014/NĐ-CP ngày 14/03/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận bút trong
lĩnh vực báo chí, xuất bản; và Thông tư số 18/2021/TT-BTTTT ngày 30/11/2021 của
Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành định mức kinh tế - kỹ thuật hoạt động báo
in, báo điện tử.
Phạm vi điều chỉnh của
Nghị định số 18/2014/NĐ-CP ngày 14/03/2014 của Chính phủ quy định về chế độ nhuận
bút trong lĩnh vực báo chí nêu rõ: “Nghị định này quy định về chế độ nhuận bút
cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm báo chí (gồm báo
in, báo nói, báo hình, báo điện tử), xuất bản phẩm theo quy định tại Khoản
4 Điều 4 Luật xuất bản; thù lao cho người tham gia thực hiện các công việc liên
quan đến tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm, người sưu tầm tài liệu, cung cấp
thông tin phục vụ cho việc sáng tạo tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm”. Nghị định
này áp dụng đối với tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, nhà
báo, phóng viên, biên tập viên, cơ quan báo chí, nhà xuất bản và các cơ quan
nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến tác phẩm báo chí, xuất bản phẩm.
Chế độ nhuận bút đã được
quy định rõ đối với bài viết nghiên cứu tại điểm 1 của Điều 7 của Nghị định 18
với hệ số tối đa là 30. Tuy nhiên, đối với một công trình nghiên cứu để được
công bố trên tạp chí khoa học còn đòi hỏi thù lao, chi phí đối với nhiều bên có
liên quan: kiểm tra sự trùng lặp, công biên tập, công cho chuyên gia phản biện,
công hiệu đính… nhưng Nghị định 18 chưa đề cập đến.
Năm 2021, Bộ Thông tin và
Truyền thông đã ban hành Thông tư số 18/2021/TT-BTTTT ngày 30/11/2021 định mức
kinh tế - kỹ thuật hoạt động báo in, báo điện tử. Thông tư này đã ban hành định
mức cụ thể cho một số nội dung sau: Công tác xây dựng bản thảo và biên tập bản
thảo tác phẩm báo chí; Định mức công tác thiết kế, chế bản báo in; Định mức
công tác thiết kế, chế bản, đăng tải báo điện tử; Định mức công tác in các loại
ấn phẩm báo in. Như vậy, Thông tư số 18/2021/TT-BTTTT cũng chỉ hướng dẫn định mức
kinh tế - kỹ thuật chung cho hệ thống báo chí nói chung, khó, thậm chí không thể
áp dụng đối với tạp chí khoa học.
2) Tiêu chí chuyển đổi số
báo chí dùng chung, tuy nhiên tính đặc thù của tạp chí chưa được xem xét khi
xây dựng và áp dụng tiêu chí
Kết quả đánh giá chuyển đổi
số của Cục Báo chí các năm qua cho thấy, không Tạp chí khoa học nào đạt mức xuất
sắc (trong tổng số 28 cơ quan báo chí năm 2024); trong khi đó, ở mức yếu lại
chiếm số lượng nhiều nhất: 52 đơn vị (trong tổng số 109). Như vậy, cơ quan báo
chí đánh giá đạt mức trưởng thành CĐS ở mức yếu, tập trung nhiều ở khối tạp chí
khoa học (47.71%), khối Tạp chí trung ương và địa phương (22,02%).
Điều này cho thấy, cần có
bộ tiêu chí, hướng dẫn mang tính chất riêng, có tính đến các yếu tố đặc thù, điều
kiện cụ thể để đảm bảo đồng bộ công tác chuyển đổi số các tạp chí khoa học
3) Khó khăn trong tiếp cận
đạt chuẩn quốc tế
Hiện nay, số lượng các tạp
chí khoa học của Việt Nam đạt chuẩn quốc tế còn rất hạn chế, tính đến tháng
04/2025, Việt Nam có 15 tạp chí trong cơ sở dữ liệu của Web of Science (WoS) và
Scopus. Mặc dù phần lớn các tạp chí đã xây dựng được hội đồng biên tập (chiếm
89,5%), nhưng thành viên hội đồng biên tập là các nhà khoa học trong nước vẫn
chiếm đa số (gần 2/3). Các tạp chí khoa học hiện nay không kiểm tra sự trùng lặp
của bài báo (62,8%). Phần lớn các tạp chí khoa học hiện nay không kiểm tra sự
trùng lặp của bài báo (62,8%); có 25,7% số các tạp chí khoa học chưa xây dựng
website...
Việc phát triển các tạp
chí khoa học trong nước hướng tới đạt chuẩn quốc tế là hết sức cần thiết, thể
hiện năng lực, trình độ và mức độ hội nhập của khoa học và công nghệ Việt Nam.
Tuy nhiên, điều này đang gặp một số khó khăn, thách thức như: hầu hết các tạp
chí khoa học của Việt Nam vẫn hoạt động theo một mô hình chung là thực hiện nhiệm
vụ xuất bản các bài báo khoa học thuộc lĩnh vực nghiên cứu, đào tạo của cơ quan
chủ quản, tác giả của các bài báo phần lớn cũng là các nhà khoa học thuộc cơ
quan chủ quản đó; chưa có sự đổi mới mạnh mẽ của bản thân các tạp chí khoa học
để phát triển theo chuẩn mực/thông lệ chung của quốc tế; các tổ chức tài trợ
cho nghiên cứu hiện nay thường yêu cầu đầu vào và đầu ra là các bài báo được
đăng tải trên các tạp chí thuộc hệ thống ISI hoặc Scopus mà chưa có sự khuyến
khích đối với các tạp chí trong nước (dù là có chất lượng); bất cập trong việc
đánh giá và quản lý chất lượng các tạp chí khoa học Việt Nam hiện nay.
5. Khuyến nghị một số giải
pháp chuyển đổi số tạp chí khoa học
1) Xây dựng chiến lược, kế
hoạch chuyển đổi số trên cơ sở sự định hướng của các cơ quan quản lý nhà nước,
sự lãnh đạo, chỉ đạo Viện Hàn lâm và cơ quan chủ quản
Xây dựng chiến lược, kế
hoạch chuyển đổi số là yêu cầu bắt buộc đối với các cơ quan báo chí trong quá
trình thực hiện chuyển đổi số. Đây là bước đi đầu tiên, quan trọng nhất, tạo cơ
sở nền tảng định hướng cho toàn bộ quá trình chuyển đổi số các tạp chí.
Trong quá trình xây dựng,
hoàn thiện kế hoạch chuyển đổi số, Ban Lãnh đạo các tạp chí cần tham khảo sự hỗ
trợ của các cơ quan quản lý nhà nước như Cục Báo chí, Trung tâm Hỗ trợ chuyển đổi
số báo chí, tham vấn chuyên gia trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, công nghệ
thông tin và học hỏi kinh nghiệm từ các tạp chí đã thực hiện hiệu quả chuyển đổi
số.
Liên Chi hội Nhà báo Viện
Hàn lâm và các tạp chí tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm, mời các
chuyên gia, các nhà khoa học uy tín, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực báo chí số
đến trao đổi, tư vấn, qua đó lãnh đạo và cán bộ các tạp chí có cơ hội cập nhật,
học hỏi kinh nghiệm nhằm vận dụng vào thực tiễn đơn vị.
2) Các tạp chí đẩy mạnh
đưa nội dung lên các nền tảng số sẵn có (trang web, mạng xã hội uy tín); tiến tới
xây dựng tạp chí điện tử
Các tạp chí cần tiến hành
số hóa các bài báo đã đăng trên tạp chí in dưới dạng bản PDF để đưa lên các nền
tảng sẵn có. Trước hết là tiếp tục triển khai giới thiệu bìa, mục lục, tóm tắt
nội dung bài viết các số trên Cổng thông tin điện tử của Viện Hàn lâm, các Viện
trực thuộc. Đăng tải toàn văn các bài tạp chí trên trang thư viện điện tử của của
Viện Hàn lâm, các Viện trực thuộc trực thuộc. Bên cạnh đó, các tạp chí đẩy mạnh
đưa nội dung lên các nền tảng công nghệ số trong nước, thí dụ VJOL.
Bên cạnh hình thức phát
hành bản in truyền thống, các tạp chí có thể số hóa các ấn phẩm dưới dạng PDF
(cho máy tính và mobile) và thực hiện phương thức phát hành điện tử thông qua nền
tảng phát hành số của Công ty Phát hành báo chí Trung ương (PostENP). Đây là
hình thức phát hành có thu phí, song dưới dạng bản số hóa thay vì bản in thông
thường.
Ngoài các nền tảng số
trong nước, các tạp chí cần nghiên cứu quy định, thể lệ để đăng ký cấp phép mã
số DOI. Bên cạnh đó, cần chú trọng tham gia vào các cơ sở dữ liệu uy tín của quốc
gia, khu vực (ACI), cũng như quốc tế (ISI, Scopus), tăng cường chỉ số trích dẫn,
từ đó tăng uy tín của tạp chí.
3) Các tạp chí hướng tới
xây dựng tạp chí điện tử
Đề án sắp xếp, phát triển
hệ thống tạp chí gắn với Đề án xây dựng Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam là cơ quan
nghiên cứu ngang tầm khu vực và quốc tế, xác định cần chú trọng đầu tư phát triển
loại hình tạp chí điện tử. Đây cũng là một trong bước tiến quan trọng trong quá
trình chuyển đổi số các tạp chí của Viện Hàn lâm trong bối cảnh hiện nay.
Bên cạnh việc phân phối nội
dung lên các nền tảng sẵn có, trong thời gian sắp tới, các tạp chí cần nghiên cứu
xây dựng tạp chí điện tử khi đủ điều kiện, qua đó thực hiện cơ chế hoạt động
báo chí đa nền tảng (tạp chí in, tạp chí điện tử, mạng xã hội). Các tạp chí cần
có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nhân lực, vật lực cần thiết; đào tạo, cập nhật kiến
thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, biên tập viên, chuẩn bị giải pháp thiết bị và
công nghệ, sẵn sàng thực hiện xuất bản điện tử. Kết cấu giao diện, kỹ thuật
công nghệ và vấn đề bảo mật và an toàn thông tin là những đặc trưng khác biệt của
tạp chí điện tử so với tạp chí in truyền thống mà các cơ quan báo chí cần chú
trọng.
4) Ưng dụng hệ thống quản
trị nội dung hiện đại, tối ưu hóa, nâng cao hiệu quả hoạt động, quản trị tòa soạn,
hướng tới xây dựng tòa soạn số
Các tạp chí trong Viện
Hàn lâm cần đẩy mạnh ứng dụng phần mềm quản lý tòa soạn, xuất bản trực tuyến hiện
đại, hệ thống quản trị nội dung tối ưu hóa cho lĩnh vực báo chí. Về cơ bản, quy
trình hoạt động của các tạp chí thực hiện biên tập - xuất bản trực tuyến trên
phần mềm CMS sẽ có những điểm tương đồng với quy trình xuất bản truyền thống hiện
nay đang được các tạp chí in sử dụng.
Toàn bộ bản thảo, ý kiến
thẩm định, phản biện, lịch sử biên tập, chỉnh sửa sẽ được lưu trữ trong cơ sở dữ
liệu của phần mềm.
Các tạp chí cần tích cực
nghiên cứu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong một số nghiệp vụ để nâng cao hiệu
quả hoạt động. Thí dụ, phần mềm quét trùng lặp, kiểm tra đạo văn (Turnitin,
doIT, iThenticate...); phần mềm hỗ trợ phát hiện vi phạm bản quyền báo chí
Media Hub; phần mềm xác định và sửa lỗi chính tả tự động; phần mềm biên tập -
xuất bản tích hợp AI để đề xuất từ khóa thích hợp, bài viết cùng chủ đề, phân
tích dữ liệu độc giả và trải nghiệm độc giả, cá nhân hóa nội dung cho từng độc
giả thông qua phân tích hành vi...
Các tạp chí cần đẩy mạnh
thực hiện chuyển/nhận văn bản điện tử thông qua hệ thống V-office, nghiên cứu ứng
dụng chữ ký điện tử để ký báo cáo/ ký giấy giới thiệu từ xa, thực hiện gửi văn
bản điện tử. Việc sử dụng chữ ký điện tử cần tuân thủ nghiêm các quy định của
pháp luật.
5) Giải pháp tài chính
cho chuyển đổi số tạp chí
Để thực hiện hiệu quả
chuyển đổi số, các tạp chí cần có sự đầu tư về kinh phí và nguồn lực tài chính
dài hạn. Trước hết, cần tranh thủ sự quan tâm, hỗ trợ của Viện Hàn lâm, trên cơ
sở kế hoạch chuyển đổi số của đơn vị và nhu cầu thực tiễn, các tạp chí đề xuất
phân bổ ngân sách qua đó bảo đảm cơ sở vật chất, nâng cấp hạ tầng, ứng dụng
công nghệ, đào tạo nhân lực phục vụ chuyển đổi số.
Các tạp chí đẩy mạnh hoạt
động kinh tế báo chí trong bối cảnh chuyển đổi số như: mở rộng phát hành qua nền
tảng phát hành số PostEnp của Công ty Phát hành báo chí Trung ương; nghiên cứu
thử nghiệm thu phí với một số nội dung hoặc tính năng đặc biệt... Bên cạnh đó,
cần tham gia các chương trình hỗ trợ, tài trợ của Cục Báo chí, như: cung cấp phần
mềm công nghệ số và tập huấn sử dụng miễn phí; chương trình kết nối, hợp tác với
các tổ chức, doanh nghiệp hỗ trợ, tài trợ cơ quan báo chí về công nghệ, viễn
thông, an toàn thông tin; các chương trình tập huấn nâng cao nhận thức về chuyển
đổi số...
Tài
liệu tham khảo
1.
Bộ
Thông tin và Truyền thông: Cẩm nang chuyển đổi số, Nxb Thông tin và
truyền thông, Hà Nội, 2020.
2.
Bùi
Chí Trung, Phạm Văn Kiền và Nguyễn Bá đồng chủ biên (2022), Chuyển đổi số báo
chí Việt Nam - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia Sự thật.
3.
Cục
Báo chí (2024), Báo cáo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí năm
2023.
4.
Cục
Báo chí (2024), Báo cáo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí năm
2024.
5.
Cục
Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia: Kỷ yếu Hội thảo Chuyển đổi số tạp
chí khoa học Việt Nam, 2021.
6.
Nguyễn
Phúc Quân: Chuyển đổi số tạp chí khoa học tại Việt Nam thực trạng và đề
xuất, 2024, http://diendanbaochi.vn
7.
Nguyễn
Thùy Linh (2024), Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hoạt động của các tạp chí Học viện
Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tạp chí Lý luận Chính trị, số tháng 11/2024.
8.
World
Association of News Publishers (2022), World Press Trends Report
2021-2022, https://wan-ifra.org/world-press-trends, truy cập ngày
20/11/2024.