Tăng quyền tự chủ cho nhà khoa học: Gợi mở từ Nghị quyết 57-NQ/TW và kinh nghiệm quốc tế trong quản lý nghiên cứu khoa học xã hội
TS. Trần Thị Thu Hương, ThS. Nguyễn Thị Ánh Vân
Tóm tắt: Nghị quyết số 57-NQ/TW
ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu đột phá trong quản lý khoa
học, công nghệ với các quan điểm mới về chấp nhận rủi ro, đổi mới tư duy pháp
luật và giao quyền tự chủ sử dụng kinh phí nghiên cứu. Các định hướng này đã được thể chế hóa thông qua Nghị
quyết số 193/2025/QH15, Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số
93/2025/QH15 cùng hệ thống Nghị định, Thông tư hướng dẫn có hiệu lực từ đầu năm
2026. Trên cơ sở phân tích ba mô hình quản lý kinh phí nghiên cứu của Châu Âu
(Horizon Europe), Nhật Bản (KAKENHI) và Trung Quốc, bài viết đối chiếu với
khung pháp lý hiện hành của Việt Nam và thảo luận về ba nội dung có thể tiếp tục nghiên cứu, hoàn
thiện, gồm cơ chế phân loại rủi ro theo tổ chức chủ trì, mức chi phí gián tiếp
và tính linh hoạt của niên độ ngân sách.
Từ khóa: quản lý khoa học, công
nghệ, quyền tự chủ, khoán chi, chi phí
gián tiếp
1. Đặt vấn đề
Nghị quyết
số 57-NQ/TW (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 57) đưa ra nhiều định hướng quan
trọng về quản lý khoa học. Thứ nhất, Nghị quyết đề cập “Chấp nhận rủi ro, đầu tư
mạo hiểm và độ trễ trong nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới
sáng tạo”. Điều này đặc biệt có ý nghĩa với khoa học xã hội, nơi mà nhiều
nghiên cứu mang tính khám phá, thực nghiệm chính sách và khó có thể dự báo
chính xác kết quả từ ban đầu. Thứ hai, về đổi mới tư duy pháp luật, Nghị quyết
chỉ rõ “Đổi mới tư duy xây dựng pháp
luật bảo đảm yêu cầu quản lý và khuyến khích đổi mới sáng tạo, loại bỏ tư duy “không
quản được thì cấm”. Thứ ba, Nghị quyết nêu rõ “Cải cách phương thức quản lý,
triển khai các nhiệm vụ khoa học và công nghệ phù hợp với từng loại hình nghiên
cứu; cải cách cơ chế quản lý tài chính trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đơn giản hoá tối đa các thủ tục
hành chính; giao quyền tự chủ trong sử dụng kinh phí nghiên cứu khoa học, phát
triển công nghệ”. Nghị quyết số 57 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thay đổi trong
việc quản lý các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học các cấp, trong đó chuyển dịch từ
cơ chế quản lý dựa trên tuân thủ sang quản lý dựa trên tin tưởng và hiệu quả là
một giải pháp hiệu quả cần được xem xét.
Quá trình thể chế hóa Nghị
quyết số 57 đã và đang diễn ra với tốc độ nhanh. Nhiều văn bản quy phạm
pháp luật đã được ban hành như: Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo số
93/2025/QH15; Nghị quyết số 193/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột
phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mưới sáng tạo về tài chính
và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; các Nghị định số:
263/2025/NĐ-CP, số 267/2025/NĐ-CP và số 268/2025/NĐ-CP ban hành cùng ngày
14/10/2025;.... Nhiều vướng mắc được phản ánh trước đây đã có hướng xử lý, tháo
gỡ từ các văn bản này.
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra hiện nay là mức độ thu hẹp
khoảng cách giữa quy định và thực tiễn triển khai, cùng với việc rà soát những
cấu phần mà thiết kế thể chế có thể cần tiếp tục bổ sung khi so sánh với thông
lệ quốc tế. Hơn thế nữa, Nghị quyết số 57 tập trung chủ yếu vào công nghệ chiến
lược, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn và khu vực doanh nghiệp; với các
quy định tài chính phần lớn được thiết kế theo logic của nghiên cứu có sản phẩm
hữu hình, thiết bị và vật tư đo đếm được. Trong khi đối với khoa học xã hội,
chi phí tập trung vào khảo sát, phỏng vấn sâu và tham vấn chuyên gia, mức độ phù
hợp giảm đi. Đây là lý do lĩnh vực này cần được quan tâm riêng trong quá trình
thể chế hóa Nghị quyết.
2. Kinh nghiệm quốc tế về
quản lý kinh phí nghiên cứu khoa học
Quản lý công luôn tồn tại hai loại chi phí quan trọng.
Thứ nhất là chi phí tuân thủ (compliance cost), được định nghĩa là gánh nặng về
thời gian và tiền bạc mà các bên phải chịu để chuẩn bị hồ sơ, chứng từ và tuân
theo các yêu cầu hành chính (Herd & Moynihan, 2018). Trong bối cảnh nghiên
cứu khoa học, chi phí tuân thủ bao gồm thời gian và công sức nhà nghiên cứu
phải dành cho các nhiệm vụ phi nghiên cứu như lập dự toán, báo cáo tài chính,
quản lý nhân sự và các yêu cầu về tuân thủ quy định (Schiller, 2022). Thứ hai
là chi phí giám sát (monitoring cost), tức là nguồn lực mà cơ quan quản lý nhà
nước bỏ ra để kiểm tra, thanh tra và kiểm toán các hoạt động nghiên cứu nhằm
đảm bảo tuân thủ và chất lượng (Petersen et al., 2024). Cả hai loại chi phí này
đều có thể tăng cao nếu hệ thống áp dụng các quy trình giám sát và kiểm tra
đồng đều cho tất cả dự án mà không phân biệt mức độ rủi ro thực tế. Các nghiên
cứu về gánh nặng hành chính trong nghiên cứu cho thấy nhà khoa học dành tới 44%
thời gian nghiên cứu của họ để tuân thủ các yêu cầu hành chính, nhiều trong số
đó xuất phát từ các quy định của nhà nước (Ngo et al., 2014)..
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nước phát triển đang
chuyển sang các mô hình kiểm soát linh hoạt hơn trong quản lý tài trợ nghiên
cứu. Các phương pháp này không chỉ giảm chi phí tuân thủ cho đa số tổ chức
nghiên cứu chân chính mà còn cho phép cơ quan quản lý tập trung nguồn lực giám
sát vào những khía cạnh thực sự quan trọng đối với chất lượng nghiên cứu và
tính minh bạch tài chính.
2.1. Kinh nghiệm của Châu
Âu
Liên minh Châu Âu và các quốc gia thành viên có rất nhiều
quỹ/ chương trình dành cho nghiên cứu khoa học, trong đó Horizon Europe là
chương trình tài trợ cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo lớn nhất hiện nay (European
Commission, 2021). Chương trình Horizon Europe đã triển khai giải pháp
"Kiểm toán theo hệ thống và quy trình" (System and Process Audit -
SPA) như một công cụ để tối ưu hóa quản lý tài chính dựa trên đánh giá rủi ro
của từng tổ chức. SPA thực hiện kiểm tra hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức
thông qua phương pháp "kiểm tra kiểm soát" (test of controls) kết hợp
với "kiểm tra giao dịch" (test of transactions), sau đó phân loại tổ
chức thành ba mức độ rủi ro: thấp, trung bình hoặc cao (European Commission,
2025). Các tổ chức được đánh giá là rủi ro thấp sẽ được hưởng những ưu đãi quan
trọng nhằm giảm gánh nặng hành chính: ngưỡng yêu cầu kiểm toán báo cáo tài chính
tăng từ 430.000 euro lên 725.000 euro, đồng thời giảm tần suất và mức độ của
các cuộc kiểm toán sau dự án. Cơ chế này cho phép Ủy ban Châu Âu tập trung
nguồn lực giám sát vào các tổ chức có rủi ro cao hơn, trong khi các tổ chức đã
chứng minh được năng lực quản lý tài chính tốt được giảm thiểu thủ tục hành
chính đáng kể (European Commission, 2025). Bên cạnh đó, Horizon Europe áp dụng
tỷ lệ chi phí gián tiếp cố định 25% trên tổng chi phí trực tiếp hợp lệ, giúp
các tổ chức nghiên cứu không cần phải tính toán chính xác chi phí gián tiếp
thực tế phát sinh hay lưu giữ tài liệu chứng minh cho các chi phí này.
2.2. Kinh nghiệm của Nhật
Bản
Hỗ trợ Nghiên cứu Khoa học (KAKENHI) là chương trình tài
trợ nghiên cứu cạnh tranh lớn nhất của Nhật Bản hướng đến tất cả các lĩnh vực
khoa học (MEXT&JSPS, 2025). Một trong những ưu điểm trong quản lý kinh phí
của KAKENHI là cho phép sự linh hoạt về thời gian sử dụng kinh phí thông qua
hai cơ chế: quỹ sử dụng trong nhiều năm (Multi-year Fund) và chuỗi tài trợ một
năm (Series of Single-year Grants). Đối với Multi-year Fund, kinh phí được cấp
và quản lý cho toàn bộ thời gian nghiên cứu nhiều năm và các nhà nghiên cứu có
thể điều chỉnh việc sử dụng kinh phí theo tiến độ thực tế, không nhất thiết
phải sử dụng hết kinh phí trong từng năm tài khóa. Kinh phí chưa sử dụng có thể
được sử dụng trong năm tài chính tiếp theo mà không cần thủ tục báo cáo với
chương trình. Ngay cả với Single-year Grants, các nhà nghiên cứu vẫn có thể
chuyển kinh phí sang năm sau nếu có lý do không thể lường trước và sử dụng các
quỹ dự phòng để điều chỉnh thời gian sử dụng (MEXT&JSPS, 2025). Sự linh
hoạt này công nhận thực tế rằng tiến độ nghiên cứu không phải lúc nào cũng diễn
ra theo tuyến tính và theo đúng dự toán ban đầu, đặc biệt là trong lĩnh vực
khoa học xã hội, cho phép các nhà nghiên cứu phân bổ nguồn lực theo nhu cầu
thực tế của dự án thay vì bị bó buộc bởi chu kỳ ngân sách hành chính. Bên cạnh
đó, KAKENHI trao cho các nhà nghiên cứu quyền tự chủ đáng kể trong việc điều
chỉnh kế hoạch nghiên cứu, cho phép thay đổi phân bổ chi phí trực tiếp (trong
phạm vi 50% tổng số tiền chi phí trực tiếp) và các mục như phân công vai trò,
chi phí trực tiếp, lịch trình thực hiện nghiên cứu, bảng phân tích các hàng
hóa/dịch vụ chính mà không cần đăng ký hoặc thông báo với Hiệp hội Xúc tiến
Khoa học Nhật Bản (Japan Society for the Promotion of Science) (MEXT&JSPS,
2025). Nói cách khác, việc thực hiện thay đổi một phần đối với kế hoạch nghiên
cứu đang diễn ra mà không cần đăng ký với JSPS miễn là không ảnh hưởng đến các
mục tiêu nghiên cứu được mô tả trong đơn đăng ký chính thức. Chỉ những thay đổi
lớn như: thay đổi phân bổ chi phí vượt quá 50%, thêm/bớt thành viên chính, hoặc
chuyển tổ chức nghiên cứu mới cần thực hiện thủ tục phê duyệt (MEXT&JSPS,
2025). Điều này thể hiện sự tin tưởng vào khả năng phán đoán của các nhà nghiên
cứu và công nhận tính năng động của quá trình nghiên cứu. Cuối cùng, KAKENHI áp
dụng chính sách bảo vệ các nhà nghiên cứu khỏi những hậu quả tiêu cực, trong đó
quy định “việc trả lại bất kỳ số tiền chưa sử dụng nào sẽ không gây bất lợi cho
các dự án ứng tuyển KAKENHI tiếp theo” (MEXT&JSPS, 2025). Chính sách này
loại bỏ áp lực phải chi tiêu hết kinh phí chỉ để tránh bị đánh giá tiêu cực,
một vấn đề phổ biến trong nhiều hệ thống tài trợ nghiên cứu.
2.3. Kinh nghiệm của
Trung Quốc
Những năm gần đây, Trung Quốc thực hiện nhiều cải cách
quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý kinh phí nghiên cứu khoa học. Chính
phủ Trung Quốc đã ban hành hai văn bản quan trọng, đó là: Cải cách và hoàn
thiện quản lý tài chính cho nghiên cứu khoa học trung ương (Văn bản số 32/2021)
và Quản lý kinh phí dự án Quỹ Khoa học xã hội quốc gia (Văn bản số 237/2021).
Thứ nhất, cơ chế khoán chi cho phép các nhà
nghiên cứu thuộc đối tượng là nhân tài và các dự án thuộc nghiên cứu cơ bản “không
cần lập dự toán dự án” và “tự chủ quyết định việc sử dụng kinh phí dự án” (Văn
phòng Quốc vụ viện, 2021). Văn bản số 237/2021 cho phép người chịu trách nhiệm
dự án chỉ cần cam kết tuân thủ đạo đức nghiên cứu và sử dụng kinh phí cho mục
đích liên quan đến dự án, sau đó có toàn quyền quyết định chi tiêu mà không bị
ràng buộc bởi dự toán chi tiết. Đây là bước chuyển từ “quản lý theo quy trình”
sang “quản lý theo kết quả” (Bộ Tài chính, 2021).
Thứ hai, chi phí gián tiếp (bao gồm chi phí
sử dụng cơ sở hạ tầng, chi phí quản lý và chi phí khen thưởng) được tính tự
động dựa trên tỷ lệ phần trăm của chi phí trực tiếp dựa trên định mức và không
cần lập dự toán chi tiết. Đối với các dự án nghiên cứu cơ bản, tỷ lệ chi phí
gián tiếp có thể lên đến không quá 40% tổng kinh phí tài trợ với mức kinh phí
dự án từ 500.000 NDT trở xuống (Văn phòng Quốc vụ viện, 2021). Đơn vị chủ trì
dự án có thể sử dụng toàn bộ chi phí gián tiếp cho chi phí khen thưởng, ưu tiên
đối với đội ngũ và cá nhân có sáng kiến xuất sắc (Văn phòng Quốc vụ viện,
2021), tạo động lực mạnh mẽ cho quá trình nâng cao chất lượng nghiên cứu.
Thứ ba, quyền điều chỉnh dự toán được phân
cấp triệt để, theo đó quyền điều chỉnh dự toán chi phí thiết bị được phân cấp
cho đơn vị chủ trì dự án, và quyền điều chỉnh các chi phí khác ngoài chi phí
thiết bị được phân cấp từ đơn vị chủ trì dự án xuống người chịu trách nhiệm dự
án, do người chịu trách nhiệm dự án tự chủ sắp xếp theo nhu cầu thực tế của
hoạt động nghiên cứu khoa học (Văn phòng Quốc vụ viện, 2021). Điều này có nghĩa
là các nhà nghiên cứu có thể tự do phân bổ lại kinh phí giữa các hạng mục chi
tiêu mà không cần xin phép, miễn là phục vụ mục tiêu nghiên cứu.
Thứ tư, về mặt quản lý, Văn bản số 32/2021 quy định việc lựa chọn một số đơn vị thí điểm là các trường
đại học, viện nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp có năng lực đổi mới và tiềm
năng nổi bật, đảm bảo trung thực trong nghiên cứu khoa học để trao quyền cho
các đơn vị này xuất trình bảng quyết toán kinh phí dự án nghiên cứu khoa học
làm căn cứ kết thúc dự án, được miễn kiểm toán tài chính khi kết thúc dự án
nghiên cứu khoa học. Chính sách này không chỉ tiết kiệm thời gian và chi phí mà
còn thể hiện sự chuyển đổi từ “quản lý chi tiết” sang “quản lý dựa trên uy tín
và hiệu quả:. Bên cạnh đó, đây là cơ sở để Chính phủ Trung Quốc xây dựng hệ
thống tính điểm tín nhiệm khoa học.
3. Kiến nghị
và kết luận
Mặc dù mô
hình quản lý kinh phí nghiên cứu khoa học của Châu Âu (Horizon Europe), Nhật
Bản (KAKENHI), và Trung Quốc không hoàn toàn giống nhau. Horizon Europe (Châu Âu) với cơ
chế kiểm toán theo hệ thống và quy trình phân loại tổ chức theo mức độ rủi ro;
KAKENHI (Nhật Bản) với quyền tự chủ điều chỉnh dự toán đến 50% và cơ chế bảo vệ
nhà nghiên cứu; và Trung Quốc với cơ chế khoán chi cho phép nhà nghiên cứu tự
quyết định sử dụng kinh phí mà không cần lập dự toán chi tiết. Tuy nhiên, các
quốc gia đang có sự chuyển hưởng rõ ràng, theo đó cả
ba quốc gia đang chuyển dịch từ mô hình “quản lý đầu vào” sang “quản lý đầu
ra”, từ “kiểm soát chi tiết từng khoản chi” sang “đánh giá kết quả nghiên cứu”,
và từ “nghi ngờ mặc định” sang “tin tưởng có điều kiện” dựa trên uy tín và năng
lực của tổ chức nghiên cứu. Một điểm chung khác là cả
ba đều vận hành theo cơ chế quỹ, điều kiện giúp cho khoán chi, chuyển kinh phí
qua năm và áp dụng chi phí gián tiếp theo tỷ lệ cố định trở nên khả thi về mặt
kỹ thuật ngân sách.
Đối chiếu
với khung pháp lý Việt Nam sau khi Nghị quyết số 57 được thể chế hóa, mặc dù đã có nhiều cởi trói, tăng quyền tự chủ
cho tổ chức khoa học, tuy nhiên kinh nghiệm của các nước nêu trên có thể gợi mở
cho quá trình tiếp tục hoàn thiện chính sách ở Việt Nam. Đó là:
Thứ nhất là
cơ chế phân loại rủi ro theo tổ chức chủ trì. Quy định hiện hành áp dụng một
chế độ chung cho các tổ chức, chưa phân biệt theo lịch sử tuân thủ và năng lực
quản trị. Trên cơ sở yêu cầu của Nghị quyết số 57 về quản lý “phù hợp với từng loại hình nghiên cứu” và chủ trương cho phép thí điểm, có thể nghiên cứu
triển khai thí điểm việc đánh giá, phân loại rủi ro ở cấp tổ chức chủ trì theo
hướng tiếp cận của SPA. Tổ chức xếp loại rủi ro thấp được giảm tần suất kiểm
tra và nâng ngưỡng yêu cầu kiểm toán, đồng thời chịu trách nhiệm giải trình đầy
đủ và chấp nhận kiểm tra xác suất. Việc thí điểm có thể bắt đầu từ nhiệm vụ
khoa học xã hội cấp cơ sở và cấp bộ, nơi quy mô kinh phí nhỏ nhưng số lượng
nhiệm vụ lớn nên chi phí giám sát trên mỗi đồng ngân sách tương đối cao. Với
chủ trương đầu tư, nâng cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã nêu trong
Nghị quyết số 57, đây là địa bàn thí điểm phù hợp.
Thứ hai là
mức chi phí gián tiếp. Tại Điều 25 Thông tư số 39/2025/TT-BKHCN quy định dự
toán kinh phí quản lý chung nhiệm vụ bằng 5% tổng dự toán, tối đa không quá 500
triệu đồng cho một nhiệm vụ. Mặc dù, mức trần tuyệt đối đã được nâng lên so với
các Thông tư trước, song so với mức 25% của Horizon Europe, 30% của KAKENHI và
30% (nâng lên đến 60% với nghiên cứu lý thuyết thuần túy) của Trung Quốc thì
mức 5% vẫn còn khá khiêm tốn. Trong điều kiện đó, tổ chức chủ trì gặp khó khăn
trong xây dựng bộ máy hỗ trợ hành chính, và phần công việc thủ tục có xu hướng
dồn về phía nhà khoa học. Do vậy, có thể xem xét nâng tỷ lệ chi phí gián tiếp
theo lộ trình và điều chỉnh trần tuyệt đối, đồng thời cho phép sử dụng một phần
chi phí gián tiếp cho khen thưởng tập thể và cá nhân có thành tích.
Thứ ba là
tính linh hoạt của năm tài chính. T theo điểm c khoản 4
Điều 41 Thông tư số 39/2025/TT-BKHCN, phần kinh phí tiết kiệm từ các nội dung
đã khoán chi được tổ chức chủ trì hạch toán là nguồn thu hợp pháp khác và sử
dụng theo quy chế chi tiêu nội bộ, trong khi phần tiết kiệm từ nội dung không
khoán chi phải nộp lại ngân sách nhà nước. Quy định này tạo động lực tiết kiệm
theo hướng tương tự cơ chế thưởng từ chi phí gián tiếp của Trung Quốc. Về chiều
thời gian, việc chuyển nguồn kinh phí trong thời gian thực hiện nhiệm vụ vẫn
theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn (khoản 5
Điều 41 Thông tư số 39/2025/TT-BKHCN). Kinh nghiệm quỹ sử dụng nhiều năm của
KAKENHI, cho phép kinh phí chưa sử dụng được dùng tiếp trong các năm sau thuộc
thời gian thực hiện nhiệm vụ mà không cần thủ tục chuyển nguồn, là một hướng có
thể tham khảo. Bên cạnh đó, có thể cân nhắc bổ sung quy định theo tinh thần của
KAKENHI, theo đó việc hoàn trả kinh phí chưa sử dụng không được coi là căn cứ
bất lợi khi xét duyệt các nhiệm vụ tiếp theo của cùng chủ nhiệm hoặc cùng tổ
chức.
Tóm lại, Nghị quyết số 57 đã được thể chế hóa nhanh và
đúng hướng ở nhóm giải pháp về khoán chi và tự chủ sử dụng kinh phí. Ba nội
dung được trao đổi trong bài viết, gồm cơ chế phân loại rủi ro theo tổ chức,
mức chi phí gián tiếp và tính linh hoạt của niên độ ngân sách, đều có thể triển
khai theo hình thức thí điểm, bắt đầu từ lĩnh vực khoa học xã hội - nơi thời
gian được giải phóng khỏi thủ tục hành chính có thể chuyển hóa trực tiếp thành
luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách.
Tài liệu tham
khảo
Báo điện tử Chính phủ. (2025). Nghị quyết 57:
Khơi dậy sức mạnh sáng tạo và trách nhiệm của giới khoa học [Phỏng vấn với
GS.TS. Trần Tuấn Anh]. https://baochinhphu.vn/nghi-quyet-57-khoi-day-suc-manh-sang-tao-va-trach-nhiem-cua-gioi-khoa-hoc-102250109184852877.htm
Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Tài chính. (2023). Thông tư số 03/2023/TT-BTC ngày
31/01/2023 hướng dẫn quản lý kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ
có sử dụng ngân sách nhà nước.
Bộ Tài chính Trung Quốc. (2021). Biện
pháp Quản lý kinh phí dự án Quỹ Khoa học xã hội quốc gia [国家社会科学基金项目资金管理办法] (Thông tư
[2021] số 237). http://www.nopss.gov.cn/n1/2021/1110/c431036-32278518.html
European Commission. (2021). Horizon Europe. https://research-and-innovation.ec.europa.eu/funding/funding-opportunities/funding-programmes-and-open-calls/horizon-europe_en
European
Commission. (2025). Horizon
Europe: Systems and process audit procedure (Version 1.0). Directorate-General for
Research and Innovation.
Herd,
P., & Moynihan, D. P. (2018). Administrative
burden: Policymaking by other means. Russell Sage Foundation. https://doi.org/10.7758/9781610448789
Huỳnh
Thành Đạt. (2023). Có lúc hồ
sơ thanh toán, quyết toán nhiều hơn hồ sơ khoa học. Tạp chí Kinh tế và Dự báo.
https://kinhtevadubao.vn/co-luc-ho-so-thanh-toan-quyet-toan-nhieu-hon-ho-so-khoa-hoc-27557.html
Ministry
of Education, Culture, Sports, Science and Technology (MEXT), & Japan
Society for the Promotion of Science (JSPS). (2025). KAKENHI handbook for grantees. https://www.jsps.go.jp/j-grantsinaid/index.html
Ngo, B., Frasco, S., Bak, S., Karahalios, K.,
Loui, M. C., & Choi, J. H. (2014). Administrative burden in academic research. Proceedings of the 45th ACM
Technical Symposium on Computer Science Education, 617-622. https://doi.org/10.1145/2538862.2538995
Petersen,
O. H., Houlberg, K., & Heinskou, L. (2024). The administrative burden of
doing business with the government: Learning and compliance costs in
business-government interactions. Public
Administration, 102(1),
140-158. https://doi.org/10.1111/padm.12904
Schiller,
J. L. (2022). A survey of
research administrators to identify areas of administrative burden in federal
research grant management [Doctoral
dissertation, University of North Dakota]. UND Scholarly Commons. https://commons.und.edu/theses/4373
Văn
phòng Quốc vụ viện Trung Quốc. (2021). Ý kiến về Cải cách và Hoàn thiện Quản lý Kinh
phí Nghiên cứu Khoa học Tài chính Trung ương [国务院办公厅关于改革完善中央财政科研经费管理的若干意见] (Nghị định [2021] số 32) https://www.gov.cn/zhengce/content/2021-08/13/content_5631102.htm