Kinh tế số, đổi mới sáng tạo và động lực tăng trưởng mới cho các địa phương
Năm 2025, kinh tế số đóng góp khoảng 14,02% GDP của Việt Nam, tương đương hơn 72 tỷ USD. Mục tiêu đặt ra cho năm 2030 là khoảng 30% GDP - tức gần gấp đôi tỷ trọng hiện nay chỉ trong 5 năm. Khoảng cách đó không thể lấp đầy bằng nỗ lực của một vài trung tâm lớn, mà phụ thuộc vào việc các địa phương có chuyển hóa được công nghệ số thành năng lực sản xuất thực hay không.
1. Bức tranh chung: tăng đều nhưng
chưa đột phá
Theo số liệu của cơ quan thống kê quốc gia, tỷ trọng
giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đã tăng từ 12,87% năm 2021 lên
14,02% năm 2025, tương ứng quy mô khoảng 72,1 tỷ USD, gấp hơn 1,6 lần so với
năm 2020. Kế hoạch năm 2026 đặt mục tiêu đưa tỷ trọng này lên 14,5%, đồng thời
phấn đấu đóng góp của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
trong GDP đạt 17,5%. Ở tầm trung hạn, Chương trình phát triển kinh tế số và xã
hội số giai đoạn 2026 - 2030 được phê duyệt tại Quyết định số 1033/QĐ-TTg đặt mục
tiêu kinh tế số chiếm khoảng 30% GDP vào năm 2030 và hỗ trợ ít nhất 500.000
doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số.
Nhìn vào chuỗi số liệu, có thể thấy một đặc điểm đáng
lưu ý: tỷ trọng kinh tế số tăng khá đều nhưng với biên độ khiêm tốn, trung bình
khoảng 0,3 điểm phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2025. Để đạt mức 30%
vào năm 2030, tốc độ này phải tăng lên nhiều lần. Điều đó hàm ý rằng mục tiêu
đề ra không thể đạt được bằng cách tiếp tục quỹ đạo hiện tại, mà đòi hỏi một sự
thay đổi về phương thức.
2. Phân hóa giữa các địa phương -
vấn đề cốt lõi
Con số trung bình toàn quốc che giấu một thực tế phân
hóa rất sâu. Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu kinh tế số đóng góp 30% GRDP
ngay trong năm 2026 và hướng tới 40% vào năm 2030; Hà Nội đặt mục tiêu tối thiểu
22% GRDP trong năm 2026. Trong khi đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026
của Bộ Chính trị xác định chỉ tiêu đến năm 2030 cho vùng trung du và miền núi
phía Bắc cũng như vùng đồng bằng sông Cửu Long chỉ ở mức 25 - 30%, so với 35 -
40% của vùng Đông Nam Bộ.
Khoảng cách này phản ánh sự khác biệt về cơ cấu kinh tế
hơn là về nỗ lực chính sách. Kinh tế số có xu hướng tập trung ở nơi đã có mật
độ doanh nghiệp cao, nhân lực kỹ thuật dồi dào và hạ tầng kết nối tốt - tức là
ở các cực tăng trưởng. Đối với các địa phương còn lại, bài toán không phải là
sao chép mô hình của các đô thị lớn, mà là tìm ra những phân khúc số hóa phù
hợp với cơ cấu kinh tế của mình: số hóa chuỗi nông sản, số hóa dịch vụ du lịch,
số hóa quản lý tài nguyên và môi trường. Đặt mục tiêu phát triển công nghiệp
phần mềm hay trung tâm dữ liệu ở những nơi thiếu nền tảng nhân lực thường dẫn
đến đầu tư kém hiệu quả.
3. Từ ứng dụng công nghệ đến động
lực tăng trưởng
Một điểm cần làm rõ về mặt khái niệm: ứng dụng công
nghệ số và kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng là hai mức độ khác nhau.
Việc một cơ quan xử lý văn bản trên môi trường điện tử hay một doanh nghiệp sử
dụng phần mềm kế toán là ứng dụng công nghệ - cần thiết, nhưng chưa tạo ra tăng
trưởng. Kinh tế số chỉ trở thành động lực khi công nghệ làm thay đổi hàm sản
xuất, tức là nâng năng suất các nhân tố tổng hợp, mở ra sản phẩm và thị trường
mới, hoặc giảm đáng kể chi phí giao dịch trong nền kinh tế.
Phân biệt này có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác
đánh giá ở địa phương. Nếu kết quả chuyển đổi số chủ yếu được đo bằng tỷ lệ hồ
sơ trực tuyến, số nền tảng được triển khai hay số lớp tập huấn đã tổ chức, thì
các chỉ số này phản ánh mức độ ứng dụng chứ không phản ánh đóng góp vào tăng
trưởng. Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng đặt chỉ tiêu đóng góp của năng suất các
nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng ở mức 45 - 60% tùy vùng đến năm 2030 - đây mới
là thước đo phản ánh đúng kỳ vọng về chuyển đổi mô hình tăng trưởng.
4. Đổi mới sáng tạo ở cấp địa
phương: nút thắt nằm ở hệ sinh thái
Đổi mới sáng tạo hiếm khi là kết quả của nỗ lực đơn lẻ.
Nó hình thành từ sự tương tác giữa doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, cơ sở đào
tạo và chính quyền trong một không gian địa lý đủ gần để các chủ thể gặp gỡ và
trao đổi tri thức thường xuyên. Đây là lý do Nghị quyết số 27-NQ/TW nhấn mạnh
việc hình thành các trung tâm nghiên cứu - phát triển, khu công nghệ cao, khu
công nghệ số tập trung và chuỗi liên kết giữa chúng theo từng vùng.
Thực tế cho thấy nhiều địa phương đã thành lập trung
tâm đổi mới sáng tạo hoặc khu làm việc chung nhưng chưa phát huy hiệu quả,
nguyên nhân thường không nằm ở thiếu kinh phí mà ở chỗ thiếu mật độ chủ thể
tham gia. Một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo cần số lượng doanh nghiệp tối thiểu
để tạo ra dòng chảy ý tưởng và nhân lực; dưới ngưỡng đó, cơ sở vật chất dù hiện
đại cũng khó vận hành. Từ góc độ địa lý kinh tế, điều này gợi ý rằng cách tiếp
cận hợp lý hơn là tổ chức hệ sinh thái ở quy mô vùng hoặc tiểu vùng, với sự
tham gia của nhiều địa phương, thay vì mỗi tỉnh xây dựng một mô hình riêng.
5. Bốn hàm ý chính sách
-
Xác định phân khúc số hóa dựa trên lợi thế thực tế của địa phương, thay vì lựa
chọn theo xu hướng chung hoặc theo mô hình của các đô thị lớn.
-
Ưu tiên số hóa các ngành có tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế địa phương, vì
tác động lan tỏa tới tăng trưởng lớn hơn nhiều so với việc phát triển một ngành
số hoàn toàn mới từ quy mô nhỏ.
-
Tổ chức hạ tầng và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở quy mô vùng, chia sẻ giữa
các địa phương để đạt ngưỡng quy mô tối thiểu.
-
Bổ sung các chỉ tiêu đo lường đóng góp thực của kinh tế số vào tăng trưởng và
năng suất, bên cạnh các chỉ tiêu về mức độ ứng dụng.
6. Hướng nghiên cứu cần được quan
tâm
Đối với nghiên cứu địa lý kinh tế và phát triển bền
vững, chủ đề này đặt ra một số câu hỏi có giá trị thực tiễn cao: các yếu tố nào
quyết định mức độ phát triển kinh tế số của một địa phương; tác động lan tỏa
của kinh tế số từ các cực tăng trưởng tới vùng phụ cận diễn ra qua những kênh
nào và trong phạm vi bao xa; và liệu quá trình số hóa đang thu hẹp hay mở rộng
chênh lệch phát triển giữa các vùng. Việc có được câu trả lời dựa trên bằng
chứng sẽ giúp các khuyến nghị chính sách tránh được hai thái cực thường gặp là
kỳ vọng quá mức vào công nghệ và đánh giá thấp vai trò của điều kiện kinh tế -
xã hội tại chỗ.
Phòng Địa lý kinh
tế và Phát triển bền vững
Ghi chú cho: bài viết tham chiếu số liệu của Cục Thống
kê, Quyết định số 1033/QĐ-TTg về Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội
số giai đoạn 2026 - 2030, và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính
trị.