Gắn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng với nâng cao vốn con người trong giảm nghèo bền vững: Nghiên cứu trường hợp xã Tây Yên Yử, tỉnh Bắc Ninh
Tóm tắt: Bài
viết phân tích việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng từ thực tiễn nâng cao vốn
con người gắn với mục tiêu giảm nghèo bền vững tại xã Tây Yên Tử, tỉnh Bắc
Ninh. Trên cơ sở khung sinh kế bền vững, nghiên cứu chỉ ra rằng vốn con người
giữ vai trò quyết định trong chuyển dịch từ nông nghiệp truyền thống sang các
sinh kế phi nông nghiệp có giá trị cao. Dữ liệu thực tiễn cho thấy sự chênh lệch
đáng kể về trình độ chuyên môn, với 62,2% lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo,
qua đó làm gia tăng nguy cơ rơi vào bẫy nghèo đói. Đáng chú ý, hạn chế về tri
thức không chỉ tác động đến năng lực sinh kế mà còn tạo ra những khoảng trống
trong nhận thức chính trị, khiến một bộ phận người dân dễ bị tác động bởi các
quan điểm sai trái, thù địch. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp nâng cao vốn
con người, coi đây là nền tảng để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng,
góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Vốn con
người, Giảm nghèo bền vững, Tây Yên Tử
MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ lý luận mà còn gắn chặt với
việc củng cố “thế trận lòng dân” thông qua nâng cao đời sống kinh tế – xã hội.
Tại xã Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Ninh), yêu cầu này đặc biệt cấp thiết trong quá
trình thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, khi nghèo đói và hạn chế về tri
thức vẫn là những yếu tố dễ bị lợi dụng để tác động đến nhận thức của người
dân. Theo khung sinh kế bền vững, vốn con người (trình độ học vấn, kỹ năng và
năng lực thích ứng) là nền tảng quyết định hiệu quả sinh kế và khả năng tiếp cận
thông tin. Tuy nhiên, khảo sát cho thấy mặc dù tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt
75,08%, nhưng kỹ năng chuyên môn của người lao động vẫn còn hạn chế; riêng
trong nhóm lao động nông, lâm nghiệp, có hơn 62% chưa qua đào tạo, đồng thời tồn
tại khoảng cách rõ rệt giữa các nhóm sinh kế. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng
đến thu nhập mà còn tiềm ẩn rủi ro về nhận thức trong bối cảnh thông tin đa chiều.
Từ đó, bài viết tập trung phân tích vai trò của vốn con người trong phát triển
sinh kế gắn với củng cố nền tảng tư tưởng, qua đó khẳng định nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực là giải pháp căn cơ để thúc đẩy giảm nghèo bền vững và tăng cường
niềm tin của người dân trong giai đoạn hiện nay.
1. Thực trạng vốn con người
tại xã Tây Yên Tử
Theo cách tiếp cận của khung sinh kế bền vững, vốn
con người (trình độ học vấn, kỹ năng nghề, kinh nghiệm, sức khỏe…) giữ vai trò
nền tảng trong nâng cao năng lực sinh kế của người dân. Kết quả khảo sát năm
2025 (xem Bảng 1) cho thấy vốn con người tại xã Tây Yên Tử còn tồn tại những hạn
chế và sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm sinh kế.
Bảng
1: So sánh trình độ học vấn và trình độ chuyên môn
của 2 nhóm hộ ở xã Tây Yên
Tử
|
Trình
độ học vấn
|
Nông
lâm nghiệp (%)
|
Phi
nông nghiệp (%)
|
|
Không biết chữ
|
0
|
2,8
|
|
Tiểu học
|
24,3
|
8,3
|
|
THCS
|
47,3
|
25,0
|
|
THPT
|
23,0
|
38,9
|
|
Trên THPT
|
5,4
|
25,0
|
|
Trình
độ chuyên môn
|
Nông
lâm nghiệp (%)
|
Phi
nông nghiệp (%)
|
|
Chưa qua đào tạo
|
62,2
|
17,1
|
|
Lớp bồi dưỡng, khóa ngắn hạn
|
17,6
|
34,3
|
|
Trung cấp, cao đẳng
|
13,5
|
20,0
|
|
Đại học, sau đại học
|
5,4
|
28,6
|
|
Tổng
|
100,0
|
100,0
|
Nguồn: Số liệu khảo sát
thực hiện năm 2025
Trước hết, mặc dù tỷ lệ lao động qua
đào tạo đạt 75,08%, nhưng tỷ lệ có văn bằng, chứng chỉ chính quy chỉ đạt 45,6%,
phản ánh chất lượng đào tạo chưa cao, chủ yếu vẫn là đào tạo ngắn hạn hoặc phi
chính quy, ảnh hưởng đến khả năng ứng dụng kỹ thuật và thích ứng thị trường.
Bên cạnh đó, Bảng 1 cho thấy sự chênh
lệch đáng kể về trình độ học vấn và chuyên môn giữa hai nhóm sinh kế. Nhóm nông
lâm nghiệp có trình độ học vấn và kỹ năng nghề thấp hơn, trong khi nhóm phi
nông nghiệp có lợi thế rõ rệt về học vấn và tỷ lệ lao động qua đào tạo. Sự khác
biệt này không chỉ tác động đến hiệu quả sản xuất mà còn ảnh hưởng đến khả năng
tiếp cận và xử lý thông tin trong quá trình ra quyết định sinh kế.
Đáng chú ý, mặc dù số lao động trong
hộ nông nghiệp cao hơn, thu nhập của nhóm này vẫn thấp hơn đáng kể so với nhóm
phi nông nghiệp và đa dạng sinh kế, cho thấy hiệu quả kinh tế phụ thuộc chủ yếu
vào chất lượng vốn con người hơn là số lượng lao động.
Nhìn chung, vốn con người tại xã Tây
Yên Tử bộc lộ ba vấn đề chính: (i) chất lượng đào tạo chưa tương xứng với tỷ lệ
lao động qua đào tạo; (ii) tồn tại khoảng cách rõ rệt về trình độ giữa các nhóm
sinh kế; và (iii) chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quyết định hiệu quả sinh
kế. Những hạn chế này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nâng cao trình độ học vấn
và kỹ năng nghề nhằm thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững tại địa phương.
2. Mối tương quan
giữa chất lượng lao động và hiệu quả giảm nghèo bền vững
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại xã
Tây Yên Tử cho thấy, quy mô hộ gia đình không phải là yếu tố tạo ra sự khác biệt
đáng kể trong khả năng cải thiện sinh kế; thay vào đó, chất lượng và cơ cấu lao
động mới là nhân tố đóng vai trò quan trọng.
Phân tích phương sai (ANOVA) cho thấy
quy mô hộ giữa các nhóm sinh kế tương đối đồng đều, dao động từ 4,52 đến 4,73
thành viên/hộ, với giá trị Sig. = 0,830 (không có ý nghĩa thống kê). Điều này
cho thấy số lượng thành viên trong hộ không phải là yếu tố quyết định sự khác
biệt về kết quả kinh tế giữa các nhóm. Tuy nhiên, số lao động trong độ tuổi giữa
các nhóm có xu hướng khác biệt (Sig. = 0,052), dù chưa đạt mức ý nghĩa thống kê
5%, nhưng gợi ý sự khác nhau nhất định về cơ cấu lao động.
Sự khác biệt về hiệu quả sinh kế được
thể hiện rõ hơn khi xem xét các chỉ báo về tài sản vật chất (Bảng 2). Cụ thể,
các nhóm có chất lượng vốn con người cao hơn, đặc biệt là nhóm phi nông nghiệp
và nhóm đa dạng nghề, có mức sở hữu các phương tiện phục vụ sản xuất và tiếp cận
thông tin cao hơn. Nhóm đa dạng nghề có số xe máy trung bình đạt 2,67 chiếc/hộ,
cao hơn so với nhóm nông lâm nghiệp (2,02 chiếc/hộ) và phi nông nghiệp (1,81
chiếc/hộ), với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,013). Tương tự, số máy
vi tính/laptop trung bình của nhóm đa dạng nghề đạt 1,75 thiết bị/hộ, cao hơn
so với mức 1,00 của hai nhóm còn lại (Sig. = 0,010). Các chỉ số khác như số quạt
điện cũng cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa (Sig. = 0,024). Những kết quả này phản
ánh khả năng tích lũy tài sản và mức độ tiếp cận công nghệ có sự khác biệt đáng
kể giữa các nhóm sinh kế.
Bảng
2: So sánh các chỉ số về quy mô hộ và tài sản vật chất (Kết quả ANOVA)
|
Chỉ
số (Giá trị trung bình)
|
Nông
lâm nghiệp
|
Phi
nông nghiệp
|
Đa
dạng nghề
|
Mức
ý nghĩa (Sig.)
|
|
Số thành viên hộ
|
4,73
|
4,52
|
4,67
|
0,830
|
|
Số lao động trong độ tuổi
|
2,87
|
2,24
|
2,87
|
0,052
|
|
Số xe máy sở hữu
|
2,02
|
1,81
|
2,67
|
0,013
|
|
Số máy vi tính/laptop
|
1,00
|
1,00
|
1,75
|
0,010
|
|
Số quạt điện
|
2,43
|
3,40
|
3,00
|
0,024
|
Nguồn: Số liệu khảo sát
thực hiện năm 2025
Sự chênh lệch về thu nhập và khả năng
tiết kiệm tiếp tục củng cố vai trò của vốn con người trong phát triển sinh kế.
Nhóm nông lâm nghiệp, chủ yếu dựa vào lao động giản đơn và kinh nghiệm truyền
thống, có mức thu nhập trung bình thấp nhất (105,7 triệu đồng/năm). Trong khi
đó, nhóm phi nông nghiệp đạt 188,9 triệu đồng/năm và nhóm đa dạng nghề đạt
208,9 triệu đồng/năm. Đáng chú ý, khả năng tiết kiệm của nhóm đa dạng nghề đạt
143,4 triệu đồng/năm, cao hơn đáng kể so với nhóm thuần nông (41,2 triệu đồng/năm).
Sự khác biệt này cho thấy các nhóm có trình độ học vấn và kỹ năng nghề cao hơn
không chỉ có thu nhập tốt hơn mà còn có khả năng tích lũy và ổn định tài chính
cao hơn.
Từ các kết quả phân tích cho thấy, chất
lượng vốn con người – thể hiện qua trình độ học vấn, kỹ năng nghề và khả năng
tham gia vào các hoạt động sinh kế đa dạng – có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu
quả kinh tế và khả năng tích lũy của hộ gia đình. Điều này không chỉ góp phần
nâng cao thu nhập mà còn tăng cường khả năng chống chịu trước các rủi ro kinh tế
và biến động thị trường, qua đó đóng vai trò quan trọng trong quá trình giảm
nghèo bền vững tại địa phương.
Dựa trên kết quả thực nghiệm và tiếp
cận khung sinh kế bền vững, nghiên cứu cho thấy vốn con người giữ vai trò then
chốt trong nâng cao năng lực thích ứng và phát triển sinh kế tại xã Tây Yên Tử.
Trình độ học vấn có mối liên hệ rõ rệt với khả năng tiếp cận và xử lý thông
tin, thể hiện qua nhóm lao động phi nông nghiệp với 63,9% đạt trình độ từ trung
học phổ thông trở lên, có lợi thế hơn so với nhóm thuần nông trong thích ứng với
bối cảnh kinh tế – xã hội. Đồng thời, sự khác biệt về kỹ năng nghề cũng phản ánh
rõ trong cấu trúc sinh kế: nhóm thuần nông với 62,2% lao động chưa qua đào tạo
chuyên môn có thu nhập và khả năng tích lũy thấp hơn, trong khi các nhóm phi
nông nghiệp và đa dạng nghề đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nhờ trình độ và kỹ
năng tốt hơn, cho thấy chuyển dịch sinh kế gắn liền với quá trình tích lũy vốn
con người. Bên cạnh đó, tỷ lệ 28,6% lao động có trình độ đại học và sau đại học
trong nhóm phi nông nghiệp đã hình thành một lực lượng có khả năng lan tỏa tri
thức, thúc đẩy liên kết sản xuất và hỗ trợ cộng đồng nâng cao năng lực tiếp cận
thông tin. Nhìn chung, phát triển vốn con người không chỉ giúp cải thiện thu nhập
mà còn góp phần giảm tính dễ bị tổn thương, tăng khả năng thích ứng và hướng tới
sinh kế bền vững, qua đó thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các nhóm hộ trong
cộng đồng.4. Giải pháp nâng cao vốn con người gắn với phát triển sinh kế bền vững
và củng cố nền tảng tư tưởng tại Tây Yên Tử
3. Giải pháp
Để phát huy vai trò của vốn con người
như một động lực phát triển kinh tế gắn với củng cố nền tảng xã hội tại cơ sở,
cần triển khai đồng bộ các giải pháp theo hướng nâng cao năng lực và giảm tính
dễ bị tổn thương của người dân. Trước hết, cần chú trọng đào tạo nghề gắn với
chuyển dịch sinh kế, đặc biệt đối với nhóm lao động nông lâm nghiệp còn hạn chế
kỹ năng (62,2% chưa qua đào tạo), theo hướng tăng cường thực hành, bám sát nhu
cầu thị trường và điều kiện địa phương, đồng thời nâng tỷ lệ lao động có bằng cấp,
chứng chỉ nghề (hiện 45,6%) thông qua các chương trình đào tạo linh hoạt và
liên kết với doanh nghiệp. Song song với đó, cần nâng cao năng lực tiếp cận và
xử lý thông tin cho người dân bằng cách lồng ghép kỹ năng số, phổ biến pháp luật
và khả năng nhận diện thông tin trong bối cảnh truyền thông đa chiều hiện nay.
Đối với nhóm lao động có trình độ cao (28,6% đạt đại học và sau đại học), cần
phát huy vai trò lan tỏa tri thức, dẫn dắt các mô hình sản xuất – kinh doanh hiệu
quả và thúc đẩy liên kết cộng đồng thông qua tổ hợp tác, hợp tác xã, qua đó
nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất và chia sẻ thông tin thị trường. Bên cạnh
đó, các chính sách hỗ trợ sinh kế cần được thiết kế theo hướng gắn hỗ trợ nguồn
lực với yêu cầu nâng cao vốn con người, ưu tiên nhóm hộ nghèo và dễ bị tổn
thương nhằm tăng khả năng thích ứng trước biến động kinh tế. Nhìn chung, việc cải
thiện kỹ năng, nhận thức và cơ hội sinh kế không chỉ góp phần nâng cao thu nhập
mà còn tạo nền tảng củng cố niềm tin, tăng cường sự đồng thuận xã hội và bảo đảm
phát triển bền vững tại địa phương.
KẾT LUẬN
Trên cơ sở phân tích thực trạng sinh
kế và chất lượng nguồn nhân lực tại xã Tây Yên Tử, nghiên cứu khẳng định rằng vốn
con người giữ vai trò trung tâm trong quá trình phát triển bền vững ở cấp cơ sở.
Các thành tố như trình độ học vấn, kỹ năng nghề và khả năng tiếp cận thông tin
không chỉ quyết định hiệu quả sinh kế mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực
thích ứng của người dân trước những biến động kinh tế – xã hội.
Kết quả thực nghiệm cho thấy sự khác
biệt rõ rệt giữa các nhóm sinh kế: nhóm lao động phi nông nghiệp, với hơn 63% đạt
trình độ từ trung học phổ thông trở lên, có khả năng tiếp cận cơ hội việc làm
và đạt thu nhập cao hơn; trong khi đó, nhóm lao động nông nghiệp vẫn còn hạn chế
về kỹ năng, với 62,2% chưa qua đào tạo chuyên môn. Sự chênh lệch này cho thấy
thiếu hụt vốn con người chính là một trong những nguyên nhân cốt lõi làm gia
tăng tính dễ bị tổn thương của hộ gia đình, không chỉ về kinh tế mà còn về khả năng
tiếp cận và xử lý thông tin trong bối cảnh hiện nay.
Từ góc độ phát triển, nâng cao vốn
con người không chỉ là giải pháp cải thiện sinh kế mà còn góp phần củng cố nền
tảng xã hội theo hướng ổn định và bền vững. Khi người dân có tri thức, kỹ năng
và khả năng tự chủ về kinh tế, họ sẽ chủ động hơn trong việc tiếp cận thông
tin, nâng cao năng lực phân tích và hạn chế các tác động tiêu cực từ môi trường
bên ngoài. Đây chính là cơ sở để tăng cường sự đồng thuận xã hội và củng cố niềm
tin vào các chủ trương, chính sách phát triển.
Do đó, quá trình phát triển vốn con
người tại xã Tây Yên Tử cần được tiếp cận như một chiến lược tổng hợp, kết hợp
giữa đào tạo nghề, nâng cao trình độ học vấn và tăng cường năng lực tiếp cận
thông tin. Việc triển khai hiệu quả các giải pháp này không chỉ giúp cải thiện
thu nhập và ổn định sinh kế mà còn góp phần xây dựng một cộng đồng dân cư có
năng lực thích ứng cao, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài
của địa phương.
Tóm lại, đầu tư cho vốn con người là
hướng đi mang tính nền tảng, vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, vừa góp phần củng
cố niềm tin và sự ổn định xã hội tại cơ sở. Đây chính là điều kiện quan trọng để
đảm bảo quá trình phát triển bền vững và nâng cao chất lượng đời sống của người
dân trong bối cảnh chuyển dịch kinh tế hiện nay./.
TÀI
LIỆU THAM KHẢO
1. Đinh
Thị Hà Giang (2017), Nghiên cứu đề xuất
giải pháp tăng cường tính bền vững cho hoạt động sinh kế của cộng đồng cư dân tại
vườn quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Luận văn thạc sĩ khoa học bền vững,
Khoa các khoa học liên ngành, Đại học quốc gia Hà NộiNgân hàng Thế giới (2012),
Báo cáo đánh giá hiệu quả chính sách giảm nghèo và cơ chế khuyến khích nội lực
tại Việt Nam
2. Nguyễn
Thị Hòa (2025), Đa dạng hóa các loại hình
sinh kế góp phần giảm nghèo bền vững cho dân cư huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang,
Báo cáo tổng hợp nhiệm vụ cơ sở 2025, Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
3. Trịnh
Thị Hạnh (2021), Phát triển bền vững dưới
góc nhìn của khung sinh kế, Đại học Công nghiệp Hà Nội.
4. UBND
thị trấn Tây Yên Tử (2024), Báo cáo số
239/BC-UBND về Kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024;
Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2025
5.
UBND thị trấn Tây Yên Tử
(2025), Báo cáo số 32/BC-UBND về Tổng kết
kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (5 năm) giai đoạn 2021–2025, kết quả thực
hiện các kế hoạch chuyên đề phát triển kinh tế xã hội
6. World
Bank (2012), Báo cáo đánh giá nghèo Việt
Nam 2012. Khở đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt
Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới. Hà Nội, Ngân hàng Thế giới tại
Việt Nam
7. World
Bank (2018), Bước tiến mới giảm nghèo và
thịnh vượng chung ở Việt Nam. Báo cáo cập nhật về đói nghèo và thịnh vượng
chung ở Việt Nam
Thông
tin nhóm tác giả:
ThS. Nguyễn Thị
Hòa, TS. Nguyễn Xuân Hòa, ThS. Lê Thu Quỳnh