Kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất thải nhựa và bài học cho Việt Nam
Bùi Thị Cẩm Tú
Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Sự phổ biến và ứng
dụng rộng rãi của các sản phẩm nhựa đã tạo ra những thách thức lớn về môi trường
và chất thải đối với nhân loại. Ô nhiễm từ chất thải nhựa (CTN) được coi là một
trong những khủng hoảng môi trường đang gia tăng nhanh nhất trên toàn cầu. Nghiên
cứu của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc Nghiên cứu của Chương trình Môi
trường Liên hợp quốc (UNEP) cho thấy mỗi năm thế giới sản xuất 400 triệu tấn nhựa,
một nửa trong số đó được sản xuất chỉ để sử dụng một lần. Ước tính khoảng 79%
thải ra bãi rác/bãi chôn lấp hoặc thải ra môi trường, 12% đốt tại các lò rác và
chỉ 9% được tái chế [3]. Trước tình trạng này, vấn đề quản lý CTN đang nhận được
sự quan tâm đặc biệt của Liên Hợp Quốc, các tổ chức, khu vực và các quốc gia
trên thế giới. Nhiều công ước, cam kết, chính sách, cơ chế và tổ chức quản lý
CTN đã được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề này ở nhiều cấp độ, từ toàn cầu tới
khu vực và ở từng quốc gia.
Việt Nam cũng
đang đứng trước những thách thức lớn về vấn đề này. Việt Nam xếp thứ 20 trên thế
giới về phát sinh CTN với 3,27 triệu tấn mỗi năm và nằm trong top đầu những quốc
gia có tỷ lệ CTN được xử lý không đầy đủ, chiếm 5,76% trong tổng lượng CTN
không được xử lý đầy đủ trên toàn thế giới. Lượng CTN và túi nylon ở Việt Nam
hiện ở mức rất cao, chiếm khoảng 8-12% trong chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH).
Tuy nhiên, chỉ có 10% rác thải nhựa được đem đi tái chế, còn lại hơn 90% được
đem đi chôn, lấp hoặc xả ra môi trường [4].
Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc
tế trong quản lý CTN từ cấp độ
toàn cầu đến cấp độ khu vực và tại một số quốc gia, đồng thời chỉ ra những khó khăn, thách thức trong việc
quản lý CTN tại Việt Nam. Từ đó, một số bài học về quản lý CTN cho Việt Nam được
đưa ra nhằm nâng cao năng lực quản lý và giải quyết hiệu quả các vấn đề về ô
nhiễm CTN ở Việt Nam.
1. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI NHỰA
Ô nhiễm CTN là vấn đề toàn cầu, được Liên Hợp Quốc, các
quốc gia, tổ chức và cộng đồng quốc tế triển khai nhiều hành động và nỗ lực để
giải quyết. Các quốc gia, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế đã ban hành các
tuyên bố, công ước và cam kết để giảm thiểu ô nhiễm chất thải nói chung và CTN
nói riêng. Chính sách và sáng kiến quản lý CTN thông qua các hình thức tự nguyện
và ràng buộc về mặt pháp lý đã và đang được thực hiện đồng bộ ở cấp toàn cầu,
khu vực và quốc gia.
Hình 1. Các cấp độ của quản lý chất thải nhựa [8]
1.1. Cấp toàn cầu
Hội đồng Môi trường Liên Hợp Quốc đã tổ chức phiên họp đầu
tiên (UNEA-1) vào năm 2014 đề cập đến vần đề CTN và thông qua Nghị quyết 1/6 về
các mảnh nhựa và vi nhựa trên biển. Tại phiên họp UNEA-5 (năm 2022) tại
Nairobi, đại diện của 175 quốc gia đã cam kết tạo ra một thỏa thuận ràng buộc về
mặt pháp lý để chấm dứt ô nhiễm CTN. Ủy ban Đàm phán Liên Chính phủ
(Intergovernmental Negotiating Committee) được thành lập để hỗ trợ chuẩn bị các
thỏa thuận nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi sang nền kinh tế tuần hoàn, giúp giảm 25% lượng phát thải khí nhà kính và CTN. Bên cạnh đó, nhiều cam
kết, công ước, hiệp định quốc tế về quản lý CTN thông qua các hình thức tự nguyện
và ràng buộc về mặt pháp lý đã được ban hành. Chương trình Đối tác Hành động
Toàn cầu về Nhựa (GPAP) được thành lập năm 2018 bởi Diễn đàn Kinh tế Thế giới để
tập hợp các Chính phủ, doanh nghiệp và xã hội dân sự nhằm biến các cam kết
thành hành động giải quyết các vấn đề ô nhiễm nhựa cấp quốc gia và toàn cầu.
Bảng 1. Một số công ước, hiệp định
quốc tế liên quan đến giảm chất thải nhựa [3]
|
Cam kết
|
Công
ước, hiệp định quốc tế
|
Nội dung chính
|
|
Các thỏa thuận ràng buộc
|
|
Giảm
thiểu ô nhiễm
|
Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển (UNCLOS)
|
Đặt khung pháp lý cho các
hoạt động trên biển, bao gồm trách nhiệm của các bên về thực hiện các giải pháp ngăn chặn, giảm thiểu và quản lý ô nhiễm
(gồm CTN). Công ước có hiệu lực từ 16/11/1994.
|
|
Công ước Luân Đôn năm 1972 và Nghị định thư Luân
Đôn năm 1996 về ngăn chặn ô nhiễm đại dương do nhận chìm chất thải và các chất
khác.
|
Cấm đổ hoặc thải trực tiếp CTN ra biển.
|
|
Hạn chế
sử dụng
hóa chất
|
Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó
phân hủy năm 2004
|
Quy định việc sản xuất, sử dụng và thải bỏ các chất phụ gia trong sản
xuất nhựa. Công ước có hiệu lực vào năm 2004.
|
|
Buôn bán
chất thải
|
Công ước Basel về kiểm soát sự di chuyển xuyên
biên giới của các chất thải nguy hại và việc thải bỏ chúng
|
Đặt ra các yêu cầu và cấm đối với việc buôn bán các chất thải nguy hại
và chất thải (nhựa) khác. Có hiệu lực từ năm 1992, với những sửa đổi đối với
buôn bán CTN vào năm 2020.
|
|
Chấm dứt
ô nhiễm
nhựa
|
Nghị quyết Đại hội đồng Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEA–5) về chấm dứt ô
nhiễm nhựa
|
Công cụ ràng buộc pháp lý, nêu ra các lựa chọn thay thế khác nhau để giải
quyết các vấn đề môi trường liên quan vòng đời của nhựa; thiết kế các sản phẩm
và vật liệu có thể tái sử dụng và tái chế; tăng cường hợp tác quốc tế để tạo
điều kiện tiếp cận công nghệ, xây dựng năng lực, khoa học và hợp tác kỹ thuật
trong giảm thiểu CTN.
|
|
Các thỏa thuận không ràng buộc
|
|
Phòng chống
ô nhiễm
|
Bộ quy tắc ứng xử của FAO về nghề cá có trách nhiệm
|
Cung cấp các nguyên tắc
pháp lý để đánh bắt có trách nhiệm, bao gồm các biện pháp giải quyết ngư cụ trôi nổi. Được thông qua vào năm 1995.
|
|
Cung cấp các nguyên tắc
pháp lý để đánh bắt có trách nhiệm, bao gồm các biện pháp giải quyết ngư cụ trôi nổi. Được thông qua vào năm 1995.
|
Diễn đàn liên chính phủ về
các hướng dẫn về cách giải quyết các nguồn ô nhiễm biển (trong đó có nhựa) trên đất liền. Được thông qua vào năm
1995.
|
|
Quan hệ đối tác toàn cầu về chất thải biển (GPML)
|
Nền tảng
hợp tác và chia sẻ các thực tiễn tốt nhất về các công cụ để giải quyết ô nhiễm nhựa biển. Được đưa ra tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (Rio +
20) năm 2012.
|
|
Chiến
lược Honolulu năm 2011
|
Đặt khung toàn cầu để khuyến
nghị chiến lược và các hành động để giảm khối lượng và tác động của CTN.
|
|
Buôn bán
chất thải
|
Đối tác về CTN (PWP) của Công ước Basel. Được ra mắt vào năm 2019.
|
Diễn đàn nhằm thúc đẩy quản
lý CTN lành mạnh với môi trường.
|
1.2. Cấp khu vực
Ở các khu vực, các
sáng kiến, hiệp định của khu vực cũng được ban hành để giải quyết các vấn đề về
ô nhiễm CTN. Các quốc gia thuộc nhóm G7 và G20 đã đưa ra các sáng kiến, tuyên bố
và cam kết liên quan đến quản lý các nguồn CTN trên đất liền và trên biển.
Trong đó, sáng kiến Tầm nhìn đại dương xanh Osaka được công bố năm 2019 đã đặt
mục tiêu chiến lược giảm thất thoát nhựa ra đại dương xuống mức không vào năm
2050.
Các quốc gia
thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đã công
bố khung hành động về rác thải biển nhằm thúc đẩy nghiên cứu, đổi mới các
phương pháp, giải pháp để quan trắc, ngăn ngừa và giảm rác thải biển nói chung,
CTN nói riêng, tăng khả năng tiếp cận tài chính cùng với tạo điều kiện cho khu
vực tư nhân tham gia đầu tư, tạo lập thị trường trong các ngành công nghiệp và
hoạt động phòng ngừa, quản lý rác thải biển. Các quốc gia khu vực Biển Đông Á
đã thông qua khung hành động và kế hoạch phát triển bền vững giai đoạn 2018 -
2022 gồm chương trình giảm thiểu ô nhiễm và quản lý chất thải, trong đó có nội
dung về quản lý CTN. Khung hành động về CTN đại dương của ASEAN được hình thành
vào năm 2017 và được chính thức thông qua bởi các Bộ trưởng và các đại diện của
các cơ quan quản lý về môi trường và biển đảo [1].
1.3. Cấp quốc gia
Các công cụ
chính sách và pháp luật
Nhiều quốc gia
trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng các công cụ chính sách và pháp luật để
giải quyết vấn đề ô nhiễm CTN bao gồm: ban hành lệnh cấm, giới hạn số lượng
phát sinh, khuyến khích thu hồi các sản phẩm nhựa dùng một lần hoặc không còn
khả năng sử dụng (ngư cụ, …). Trong đó, hầu hết các quốc gia thành viên EU và
các quốc gia khác như Hoa Kỳ, Canada, New Zealand, Australia và Ấn Độ đã đưa ra
lệnh cấm đối với sản phẩm nhựa dùng một lần hoặc đã ban hành các biệp pháp thỏa
thuận tự nguyện hoặc bắt buộc với doanh nghiệp để loại bỏ chúng.
Các công cụ kinh tế trong quản lý CTN
Công cụ kinh tế
(CCKT) trong quản lý môi trường nói chung và quản lý CTN nói riêng được thực hiện
dựa trên hai nguyên tắc: (i) người gây ô nhiễm phải trả tiền và (ii) người hưởng
lợi từ môi trường phải trả phí. Mục đích của CCKT trong quản lý CTN là tạo nguồn
thu cho ngân sách nhà nước và điều chỉnh hành vi của các tổ chức, cá nhân trong
xã hội. Các CCKT trong quản lý CTN được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế
giới và đạt được những kết quả tích cực. Hiện nay, CCKT được chia thành 3 nhóm
chính, bao gồm: nhóm tạo nguồn thu, nhóm tạo lập thị trường và nhóm thay đổi
hành vi, nâng cao nhận thức. Một số quốc gia trên thế giới đã áp dụng thành
công CCKT trong quản lý CTN gồm: Đan Mạch, Ireland, Hàn Quốc, Phần Lan, Nhật Bản,
Indonesia, Singapore, …
Hình 2. Công cụ kinh tế trong quản lý CTN [8]
Các
biện pháp giảm thiểu, tái chế và tái sử dụng CTN
Kinh nghiệm của các quốc gia
trên thế giới cho thấy, một trong những biện pháp mang lại hiệu quả và được áp
dụng rộng rãi để quản lý CTN được thực hiện theo nguyên tắc 3Rs - giảm thiểu,
tái sử dụng và tái chế. Một số quốc gia đã thực hiện thành công biện pháp này gồm:
Sri Lanka, Indonesia, Thái Lan, Bangladesh, Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản,
Hàn Quốc.
|
|
|
|
|
•
Kiểm soát tất cả các nguồn nhập và xuất khẩu nhựa của quốc gia.
•
Giảm lượng các sản phẩm nhựa chỉ sử dụng một lần.
•
Giải quyết các nguồn rác thải
nhựa
phát sinh.
•
Thu gom phân loại CTN.
|
•
Thúc đẩy thị trường tái sử dụng.
• Cải
thiện thiết kế sản phẩm để có thể tái sử dụng một cách hiệu quả nhất.
|
• Cải thiện việc thu gom riêng CTN.
• Có những hoạt động đối với nhựa có thể ủ phân và phân
huỷ sinh học.
• Cơ chế chính sách thúc đẩy việc tiêu thụ các sản phẩm
từ tái chế.
• Đưa ra các chính sách khuyến khích, ưu đãi về thuế… đối
với các sản phẩm tái chế để có cơ hội cao thâm nhập thị trường.
|
Hình 3. Mô hình 3Rs - giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế
trong quản lý CTN [8]
Trách nhiệm mở rộng
của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility - EPR) là một công cụ quản
lý, bắt buộc hoặc tự nguyện đối với các nhà sản xuất có trách nhiệm với sản phẩm
từ giai đoạn thiết kế, sản xuất, thu hồi, phân loại và tái chế chất thải. EPR sẽ
thúc đẩy nhà sản xuất tìm cách giảm khối lượng chất thải ra môi trường và tăng
khả năng tái chế và tái sử dụng các bao bì đóng gói. Đến nay có nhiều chính
sách về EPR đã được thông qua tại Châu Âu và các nước phát triển ở Châu Á. EPR
sẽ giúp tăng tỉ lệ CTN được tái chế, tiết kiệm tài nguyên, phát triển lĩnh vực
tái chế và xử lý CTN, nâng cao nhận thức của người tiêu dùng trong phân loại và
xử lý CTN tại nguồn.
2. NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC TRONG QUẢN LÝ CTN Ở VIỆT NAM
Cơ chế, chính sách
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản
lý CTN, thời gian qua Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách và văn bản
pháp luật để quản lý sản phẩm nhựa dùng một lần, CTN và túi ni-lông khó phân hủy
(được thể hiện trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, Nghị Định 08/2022/NĐ-CP
ngày 10/01/2022). Mặc dù vậy, các cơ chế, chính sách chưa giải quyết được hiệu
quả vấn đề CTN và ô nhiễm CTN tại Việt Nam:
- Các quy định về giảm sử dụng sản phẩm bao bì nhựa dùng một lần,
khó phân hủy đã được ban hành nhưng chưa được quy định rõ ràng nên việc kiểm
soát lượng sản phẩm nhựa dùng một lần còn nhiều bất cập. Các làng nghề tái chế
sản xuất túi ni-lông, sản phẩm nhựa dùng một lần giá thành rẻ chưa được quản lý
chặt chẽ. Việc thực hiện đánh thuế đối với sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần
chưa được quy định và hướng dẫn cụ thể đối với người dân, cơ sở sản xuất kinh
doanh, nhà hàng, khách sạn và khu du lịch. Túi ni-lông, hộp xốp và các sản phẩm
nhựa dùng một lần vẫn được cung cấp miễn phí từ phía người bán cho người tiêu
dùng.
- Trách nhiệm của các nhà sản xuất trong thiết kế bao bì, đóng
gói, tái chế và xử lý chất thải đã được quy định trong Luật BVMT năm 2020 nhưng
chưa được triển khai đồng bộ đến các doanh nghiệp sản xuất để giảm phát thải nhựa.
- Các chính sách phân loại và xử lý CTRSH đã được quy định rõ
trong Luật BVMT năm 2020 và các văn bản trước đó. Tuy nhiên, trong thực tế triển
khai lại chưa có quy định kỹ thuật đồng bộ để phân loại, lưu giữ, vận chuyển và
xử lý sau phân loại; chưa quy định rõ về các loại CTN khác nhau cho mục đích xử
lý, tái chế và tái sử dụng.
- Các hoạt động thu gom, tái chế CTN chủ yếu dựa vào khu vực phi
chính thức gồm người nhặt phế liệu, cơ sở thu mua và kinh doanh phế liệu để bán
cho các cơ sở tái chế. Các cơ sở tái chế CTN ở các làng nghề có quy mô nhỏ, máy
móc thiết bị cũ gây phát thải khối lượng lớn CTN ra môi trường xung quanh.
Bộ máy quản lý
Hiện nay, trách nhiệm quản lý Nhà nước về CTN do Bộ Tài nguyên và
môi trường và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, ở các cấp
địa phương chưa có nhân sự chuyên trách để thực hiện quản lý CTN. Việc quản lý
CTN được quản lý đồng thời với CTRSH, gây khó khăn cho công quản lý, kiểm soát,
thu gom, tái chế và tái sử dụng CTN ở cấp địa phương. Do thiếu nguồn lực thực
hiện trong quản lý CTN nên các thông tin về tình hình phát sinh CTN, tác động của
CTN đến sức khỏe người dân, môi trường sinh thái và thiệt hại đến KT-XH chưa được
đánh giá đầy đủ.
Công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất
thải nhựa
Các nguồn lực thực hiện quản lý CTN chưa thực hiện phân biệt rõ
ràng với công tác quản lý CTRSH. Các địa phương chưa có nguồn nhân lực chuyên
trách về quản lý CTN. Ở các đô thị, lực lượng thu gom do các Công ty Môi trường
Đô thị thực hiện, nên CTN là một thành phần trong CTRSH được thu gom và chuyển
đến bãi rác hợp vệ sinh để xử lý bằng phương pháp chôn lấp, đốt hoặc phân loại,
tái chế. Ở các vùng nông thôn, việc thu gom được giao cho các tổ môi trường hoặc công ty tư
nhân thực hiện với quy mô nhỏ lẻ, trang thiết bị thô sơ, cơ sở vật chất thiếu
thốn. Biện pháp xử lý CTRSH như vậy làm phát tán túi ni-lông mỏng, nhẹ trong những
ngày gió to ra các vùng xung quanh. Việc đốt rác gồm thành phần túi ni-lông có
nguy cơ phát thải khí nhà kính và các hóa chất độc, bốc mùi khó chịu gây ảnh hưởng
tới người dân lân cận.
Kinh phí thu gom, vận chuyển và xử lý CTN từ hộ gia đình chưa được
quy định mà tính chung trong giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH.
Nguồn kinh phí này chưa căn cứ vào thành phần các loại CTRSH phát sinh của hộ
gia đình và cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ. Nguyên nhân này làm cho người
dân chưa ý thức được việc giảm sử dụng các sản phẩm nhựa hàng ngày.
Nhận thức cộng đồng
Các nghiên cứu, khảo sát cộng đồng đã chỉ ra nhận thức cộng đồng về
tác động của CTN gây ô nhiễm môi trường và tác động đến các hệ sinh thái ở mức
khá cao. Tuy nhiên, nhận thức về quy định pháp luật về quản lý CTN còn hạn chế.
Đa số người dân sẵn sàng thực hiện phân loại rác thải sinh hoạt tại hộ gia
đình, tuy nhiên tỉ lệ hộ gia đình thực hiện phân loại rác trên thực tế còn thấp.
Phần lớn người dân thực hiện phân loại rác là để bán các loại CTN có giá trị
cho người thu mua phế liệu. Tỉ lệ hộ gia đình thực hiện việc giảm thiểu sử dụng
sản phẩm nhựa dùng một lần và túi ni-lông còn thấp, đặc biệt là ở các vùng nông
thôn. Do tính thuận tiện của túi ni-lông và các sản phẩm nhựa dùng một lần, nên
người dân vẫn chưa có thói quen từ chối việc các cửa hàng sử dụng các loại bao
bì nhựa để đóng gói sản phẩm.
3. BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và quản lý CTN
từ khâu sản xuất, tiêu dùng, thu gom, xử lý CTN đến việc quy định trách nhiệm của
người dân, doanh nghiệp và cần có cơ chế giám sát các hoạt động sản xuất, tiêu
dùng của người dân, doanh nghiệp.
Để giảm thiểu
CTN, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ từ khâu sản xuất, tiêu dùng và
thu gom, xử lý CTN. Các nguyên tắc chính để xây dựng chính sách, pháp luật để
giảm thiểu CTN là thúc đẩy nền kinh tế tuần hoàn và trung hòa nhựa.
Xây dựng các quy
định pháp luật để giám sát và xử lý vi phạm hành chính, xử lý bằng các biện
pháp phù hợp đối với sử dụng túi ni-lông, sản phẩm nhựa dùng một lần và hành vi
vứt rác bừa bãi. Đặc biệt là các khu vực tập trung đông người, các khu du lịch,
làng nghề tái chế phế liệu, cảng biển, ngư trường đánh bắt hải sản.
Xây dựng các hướng
dẫn để thực hiện các quy định của Luật BVMT 2020 trong phân loại, thải bỏ chất
thải là sản phẩm nhựa dùng một lần và bao bì nhựa khó phân hủy. Có chính sách
phát triển hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải đã được phân loại,
quy định việc thu gom các loại CTN. Thực hiện thu phí CTRSH của hộ gia đình và
cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ dựa trên khối lượng và cơ cấu thành phần rác
thải phát sinh.
Thứ hai, rà soát và hoàn thiện quy định về thuế, phí và xử lý
vi phạm liên quan đến CTN. Cần nghiên cứu, sửa đổi Luật thuế BVMT năm 2010 để mở
rộng danh mục sản phẩm nhựa chịu thuế, quy định mức thuế BVMT phù hợp, góp phần
khuyến khích sản xuất, sử dụng hàng hóa thân thiện với môi trường; hạn chế việc
sản xuất và sử dụng sản phẩm nhựa gây tác động xấu đến môi trường.
Thứ ba, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong sản xuất, phân
phối, sử dụng, thu gom, tái chế CTN. Đối với người dân, cần nâng cao ý thức của
cộng đồng trong phân loại CTN tại nguồn, tạo điều kiện cho công tác thu gom, vận
chuyển, tái sử dụng, tái chế CTN được thuận lợi và dễ dàng.
Thứ tư, tăng
cường việc triển khai quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR). Cần coi việc tăng cường việc
cần sử dụng sử quy định về Trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (Extended
Producer Responsibility - EPR) như một công cụ quản lý bắt buộc hoặc tự nguyện
đối với các nhà sản xuất. Trong khâu sản xuất các sản phẩm nhựa cần triển khai
đồng bộ trách nhiệm mở rộng của các nhà sản xuất (EPR) trong thu gom, tái chế,
xử lý chất thải các sản phẩm do họ sản xuất ra, qua đó giảm gánh nặng tài chính
quản lý chất thải và tăng tỉ lệ tái chế. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn về sử dụng
các vật liệu thay thế bao bì nhựa (để tăng khả năng tái chế). Thực hiện từng bước
từ khuyến khích sử dụng các vật liệu nhựa sinh học có khả năng phân hủy để thay
thế cho vật liệu nhựa truyền thống trong sản xuất túi ni-lông, đồ nhựa dùng một
lần đến cấm sản xuất túi ni-lông và sản phẩm nhựa dùng một lần. Mặc dù, EPR được
áp dụng ở nhiều nước trên thế giới để kiểm soát chất thải thải ra môi trường
nhưng Việt Nam là một trong những quốc gia Đông Nam Á đầu tiên áp dụng công cụ
này (chính sách chính thức có hiệu lực từ 1/1/2024). Chính vì vậy, cần triển
khai một cách đồng bộ từ việc quản lý nhà nước; vận hành quy trình sản xuất của
doanh nghiệp đến sự đồng hành của các cơ quan báo chí, truyền thông nhằm nâng
cao nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng trong phân loại và xử lý CTN
tại nguồn.
Thứ năm, tăng cường việc trao đổi, hợp tác với các tổ chức quốc
tế về thực hiện cam kết, thỏa thuận toàn cầu cũng như học hỏi kinh nghiệm trong
quản lý CTN. Tăng cường trao đổi và hợp tác với các tổ chức quốc tế và các tổ
chức phi chính phủ về thực hiện cam kết, thỏa thuận toàn cầu trong giảm phát thải
CTN, tiến tới chấm dứt ô nhiễm nhựa. Tăng cường hợp tác quốc tế trong đào tạo
nâng cao năng lực, học tập kinh nghiệm về các mô hình thu gom, phân loại, tái
chế và tái sử dụng CTN. Tăng cường hợp tác quốc tế để thu hút các tổ chức, cá
nhân và các nguồn tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu và chuyển
giao công nghệ trong tái chế và sản xuất các sản phẩm nhựa thân thiện với môi
trường, sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường để thay thế nhựa. Tăng
cường hợp tác với các nước để quản lý các dòng phế liệu nhựa nhập khẩu trái
phép vào Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
ASEAN (2019). Bangkok declaration on combating marine debris in ASEAN region.
2. Nguyễn Hồng Thao (2022). Nâng
cao năng lực quản lý ô nhiễm rác thải nhựa ở Việt Nam. Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 2+3 (450+451) - tháng1+2/2022.
3. Nguyễn
Tài Tuệ và cộng sự (2023). Báo cáo tình
hình phát sinh chất thải nhưa năm 2022. NXB Thanh Niên.
4. Nguyễn Thị Hằng (2022). Bình
luận một số quy định về kiểm soát chất thải nhựa ở Việt Nam hiện nay. Tạp chí Công thương, số tháng 10/2022.
5. Nguyễn Trung Thắng (2019). Tổng quan về quản lý chất thải rắn trên thế
giới và một số giải pháp cho Việt Nam. Tạp chí Môi trường, số
9/2019.
6. Nhật Nam (2023). Hóa giải thách thức rác thải nhựa ở Việt Nam. Tạp chí Điện tử Tài chính. https://tapchitaichinh.vn/hoa-giai-thach-thuc-rac-thai-nhua-o-viet-nam.html. Truy cập ngày 2/11/2024.
7. Tạ Đình
Thi, Lưu Anh Đức, Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Chí Công (2021). Ô nhiễm chất thải
nhưa là vấn đề toàn cầu được Liên hiệp quốc, các quốc gia, tổ chức và các cộng
đồng quốc tế đặc biệt quan tâm. Tạp chí
Tài nguyên và Môi trường, số tháng 9/2021.
8.
Xuân Lộc (2024). Rác
thải nhựa - thực trạng và thách thức. https://dangcongsan.vn/xa-hoi/rac-thai-nhua-thuc-trang-va-thach-thuc-667423.html, truy cập ngày 2/11/2024.