Phát triển văn hóa số trong cơ quan nghiên cứu khoa học: Từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam
Đặt vấn đề
Trong kỷ nguyên số, chuyển đổi số không còn dừng lại ở việc
trang bị phần mềm hay số hóa tài liệu hành chính, mà đã trở thành động lực then
chốt tái cấu trúc phương thức vận hành của các tổ chức. Đối với cơ quan nghiên
cứu khoa học – tri thức vừa là đầu vào, vừa là sản phẩm cốt lõi thì chuyển đổi
số đóng vai trò rất quan trọng, đòi hỏi sự thay đổi sâu sắc từ cách thức thu
thập, quản trị, chia sẻ dữ liệu đến phương thức hợp tác và công bố kết quả.
Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của nhiều dự án công nghệ không nằm ở hạ tầng hay
vốn đầu tư, mà ở "khoảng trống" về tư duy và thói quen của con người.
Công nghệ tạo ra khả năng, nhưng chính “văn hóa số” lại quyết định khả năng đó có được khai thác để tạo ra giá trị
mới hay không. Trong Nghị quyết số
57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa
học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đã xác định nhà
khoa học là nhân tố then chốt, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển năng lực
số và xây dựng văn hóa số. Việc xây dựng văn hóa số trong các tổ chức nghiên
cứu chính là chiếc cầu nối chuyển hóa các mục tiêu chiến lược thành hành động
thực tiễn hằng ngày.
1. Cơ sở lý luận văn hóa số trong cơ quan nghiên cứu khoa
học
Theo Cẩm nang Chuyển đổi
số của Bộ Thông tin và Truyền thông, văn hóa trong xã hội loài người được hình
thành trong thời gian dài, qua hàng trăm năm, hàng nghìn năm; trong khi xã hội
số là vấn đề rất mới, đang hình thành trong thời gian gần đây. Vì vậy, văn hóa
số cũng đang hình thành và có thể hiểu văn hóa số là các quy tắc ứng xử, chuẩn
mực đạo đức của con người trong môi trường số.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh: “Phát triển
toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa
phong phú, đa dạng, văn minh, lành mạnh; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của
dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền
tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế -
xã hội và hội nhập quốc tế”. Như vậy, văn hóa nói chung và môi trường văn hóa
nói riêng, luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, thể hiện quyết tâm trong công cuộc
chấn hưng nền văn hóa nước nhà.
Theo Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Nhật
Minh (2023), văn hóa số được xem là một trong những yếu tố rất khó thay đổi
trong quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp, bởi tính chất trừu tượng và khó
nắm bắt. Một thách thức khác đối với quá trình chuyển đổi số văn hóa số tại các
tổ chức xuất phát từ những quan điểm, hệ tư tưởng đã được hình thành qua nhiều
năm hoạt động. Nếu một nhà lãnh đạo điều hành doanh nghiệp không hiểu các giá
trị cốt lõi của nền văn hóa đã có sẵn trước thì sẽ thật khó để họ chủ động tìm
kiếm cách thay đổi và cải tiến nó. Ngoài ra, chuyển đổi văn hóa số cần đến nhiều
nguồn lực, cùng sự quan tâm chia sẻ của cả tổ chức mà không phải bất cứ cá nhân
nào. Để thực hiện tốt việc trên, cần có sự đồng lòng cùng chia sẻ trước hết là
trong lãnh đạo cấp cao, tiếp theo sẽ là những người quản lý và nhân viên. Thách
thức đưa ra ở đây chính là khi công ty càng lớn sẽ đòi hỏi cần nhiều hơn nữa
trách nhiệm của mỗi cá nhân thành viên trong toàn bộ công ty cùng hướng về nền
văn hóa mong muốn đạt được thông qua quá trình chuyển đổi số.
Văn hóa số là các giá trị, chuẩn mực, hành vi ứng xử, hoạt động
sáng tạo và chia sẻ nội dung văn hóa trên môi trường số phù hợp với quy định của
pháp luật và truyền thống văn hóa Việt Nam (Khoản 1 Điều 45 Luật Chuyển đổi số 2025). Nhà nước có chính
sách khuyến khích, hỗ trợ tổ chức, cá nhân sáng tạo, sản xuất và phân phối sản
phẩm nội dung số bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống
văn hóa Việt Nam. Nếu
chuyển đổi số tạo ra sự thay đổi về công
nghệ, quy trình và phương thức quản trị, thì văn hóa số tạo ra sự thay
đổi về con người, tư duy và hành vi.
Hai yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau. Một tổ chức có thể sở hữu hệ thống
phần mềm hiện đại nhưng nếu cán bộ vẫn duy trì thói quen làm việc cũ, không
chia sẻ dữ liệu, ngại sử dụng công cụ mới hoặc thiếu kỹ năng số thì hiệu quả
chuyển đổi số sẽ bị hạn chế.
Khác với cơ quan hành chính hay doanh nghiệp thương mại, văn
hóa số tại cơ quan nghiên cứu khoa học mang những đặc thù riêng biệt. Đối với
cơ quan nghiên cứu khoa học, đây là môi trường mà tri thức vừa là sản phẩm, vừa
là nguồn lực phát triển. Vì vậy, văn hóa số không chỉ liên quan đến khả năng sử
dụng công nghệ mà còn phải bao gồm văn hóa chia sẻ tri thức, văn hóa dữ liệu,
văn hóa hợp tác, đạo đức số và trách nhiệm trong sử dụng thông tin khoa học. Từ
góc độ này, có thể xem văn hóa số là “nền tảng mềm” của chuyển đổi số. Công nghệ tạo ra
khả năng; dữ liệu tạo ra nguồn lực; nhưng chính văn hóa tổ chức quyết định con
người có sẵn sàng tiếp nhận, sử dụng và phát huy những khả năng đó hay không.
2. Những thành tố cơ bản của văn hóa số trong cơ quan nghiên
cứu khoa học
Tư duy và nhận thức số
Văn hóa số trước hết bắt đầu từ sự thay đổi trong nhận thức.
Cán bộ khoa học và cán bộ quản lý cần nhìn nhận công nghệ số không phải là một
yêu cầu mang tính hành chính, mà là công cụ giúp nâng cao chất lượng nghiên
cứu, hiệu quả quản trị và khả năng kết nối tri thức.
Tư duy số thể hiện ở khả năng chủ động tìm kiếm phương thức
mới, sẵn sàng thay đổi quy trình khi phương thức mới hiệu quả hơn, đồng thời có
khả năng nhìn nhận dữ liệu và công nghệ như những nguồn lực quan trọng của hoạt
động khoa học.
Đây cũng là điểm có sự tương đồng rõ với yêu cầu của Nghị
quyết 57-NQ/TW về đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức và tạo xung lực mới cho
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Năng lực số của đội ngũ
Một nền văn hóa số không thể hình thành nếu thiếu năng lực
số. Đối với cơ quan nghiên cứu khoa học, năng lực số không chỉ là khả năng sử
dụng các phần mềm văn phòng mà còn bao gồm kỹ năng tìm kiếm và đánh giá thông
tin, quản trị dữ liệu nghiên cứu, sử dụng các công cụ phân tích, cộng tác trực
tuyến, khai thác cơ sở dữ liệu khoa học, bảo đảm an toàn thông tin và từng bước
tiếp cận các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo.
Đặc biệt, cần chuyển từ cách tiếp cận đào tạo kỹ năng số
chung sang phát triển năng lực số phù hợp với từng nhóm vị trí việc làm: nhà
nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ hành chính, cán bộ truyền thông khoa học,
cán bộ công nghệ thông tin và các nhóm hỗ trợ nghiên cứu.
Văn hóa dữ liệu
Dữ liệu ngày càng trở thành một nguồn lực quan trọng của
nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, dữ liệu chỉ tạo ra giá trị khi được chuẩn hóa,
lưu trữ có hệ thống, bảo đảm chất lượng và có khả năng chia sẻ, khai thác phù
hợp.
Văn hóa dữ liệu trong cơ quan nghiên cứu cần hình thành các
nguyên tắc: dữ liệu phải được quản lý có hệ thống; thông tin cần được chuẩn
hóa; nguồn dữ liệu phải được xác định và kiểm chứng; việc chia sẻ phải đi đôi
với bảo mật, quyền sở hữu và quyền sử dụng.
Từ đó, dữ liệu nghiên cứu không chỉ được xem là sản phẩm của
từng đề tài riêng lẻ mà từng bước trở thành tài sản tri thức chung của tổ chức,
có thể tiếp tục được khai thác cho những nghiên cứu và nhiệm vụ khoa học tiếp
theo.
Văn hóa chia sẻ và hợp tác tri thức
Một trong những thay đổi quan trọng mà môi trường số tạo ra
là khả năng kết nối và chia sẻ tri thức vượt ra ngoài giới hạn về không gian và
thời gian.
Trong cơ quan nghiên cứu khoa học, văn hóa số cần thúc đẩy
việc chia sẻ tài liệu, dữ liệu, phương pháp nghiên cứu, kết quả và kinh nghiệm
chuyên môn; tăng cường hợp tác giữa các phòng nghiên cứu; hình thành các nhóm
nghiên cứu liên ngành; đồng thời mở rộng kết nối giữa viện nghiên cứu, trường
đại học, doanh nghiệp và các tổ chức trong và ngoài nước.
Khi đó, môi trường số không chỉ giúp “làm việc nhanh hơn” mà
còn giúp tạo ra tri thức theo phương
thức mở, liên kết và hợp tác hơn.
Đạo đức và trách nhiệm số
Càng sử dụng nhiều công nghệ và dữ liệu, yêu cầu về trách
nhiệm số càng cao. Đối với tổ chức nghiên cứu khoa học, vấn đề này liên quan
trực tiếp đến bảo mật thông tin, quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền tài liệu, bảo
vệ dữ liệu, liêm chính học thuật và trách nhiệm trong sử dụng các công cụ trí
tuệ nhân tạo.
Vì vậy, xây dựng văn hóa số không thể chỉ tập trung vào “sử
dụng được công nghệ”, mà phải đồng thời hình thành chuẩn mực về sử dụng công nghệ đúng, an toàn, có trách
nhiệm và phù hợp với đạo đức khoa học.
3. Thực tiễn tại Việt Nam: Những điểm sáng và khoảng trống
Thực tế chuyển đổi số tại các cơ quan nghiên cứu khoa học
đang diễn ra trên nhiều phương diện: số hóa hồ sơ, sử dụng hệ thống quản lý văn
bản và điều hành, tổ chức hội họp trực tuyến, xây dựng website và các nền tảng
truyền thông số, quản lý dữ liệu nghiên cứu, khai thác cơ sở dữ liệu trực tuyến
và ứng dụng các công cụ số trong nghiên cứu. Những thay đổi này tạo ra nhiều
tác động tích cực. Quy trình xử lý công việc có thể được rút ngắn; khả năng
trao đổi và phối hợp giữa các đơn vị được tăng cường; thông tin và sản phẩm
khoa học có thể được phổ biến nhanh hơn; dữ liệu được lưu trữ và khai thác
thuận lợi hơn.
Những chuyển biến tích cực
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và tinh thần Nghị quyết
57-NQ/TW, không khí chuyển đổi số tại các cơ quan nghiên cứu ở Việt Nam đã có
những bước tiến rõ rệt. Từ "số hóa
tài liệu" sang "quản trị dữ liệu". Điển hình như tại Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (VASS),
các nhiệm vụ chuyển đổi số giai đoạn đã được đặt ra, đặc biệt là thực hiện kế
hoạch 100 ngày chuyển đổi số của toàn viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
đang được đẩy mạnh. Trên cơ sở đó, giai đoạn 2026-2031 tập trung xây dựng cơ sở
dữ liệu tổng thể. Việc rà soát, chuẩn hóa và kết nối hạ tầng dữ liệu đã giúp
chuyển dần từ thói quen lưu trữ tản mạn sang quản trị tài nguyên tri thức tập
trung.
Bên cạnh đó, thực tiễn về thói quen làm việc trên không gian số cũng đã thay đổi hoàn toàn cách làm
việc hiện nay của Viện Hàn lâm. Từ việc xử lý văn bản điện tử, đánh giá
phân loại viên chức trên hệ thống điều hành tác nghiệp trực tuyến, họp trực
tuyến, học trực tuyến và hội nghị trục tuyến từ các điểm cầu kết hợp hay việc khai
thác thư viện số đã trở thành hoạt động thường nhật.
Việc mở rộng truyền thông khoa học
số cũng đã được đẩy mạnh tại các đơn vị trực thuộc Hàn lâm. Các viện nghiên cứu đã chủ động đưa tri thức khoa học đến
gần công chúng hơn thông qua tạp chí điện tử, mạng xã hội và các nền tảng đa
phương tiện, thúc đẩy văn hóa lan tỏa tri thức ra toàn xã hội.
Những rào cản và khoảng trống thực
tiễn
Mặc dù đạt được những kết quả ban đầu, quá trình phát triển
văn hóa số tại các cơ quan nghiên cứu khoa học ở Việt Nam vẫn gặp phải nhiều
lực cản:
- Tâm lý "e
ngại công nghệ" và thói quen khép kín: Một bộ phận nhà khoa học vẫn
giữ tư duy coi dữ liệu nghiên cứu là "sở hữu cá nhân", ngại chia sẻ
hoặc chưa sẵn sàng tiếp cận các công cụ phân tích số mới.
- Đồng nhất số hóa
với chuyển đổi số: Việc scan hàng ngàn trang tài liệu thành tệp PDF
nhưng thiếu gắn mã dữ liệu (metadata), thiếu phân quyền khai thác thì vẫn chưa
tạo ra giá trị thực sự cho hệ thống.
- Năng lực số lệch
pha: Sự chênh lệch về kỹ năng số giữa các thế hệ cán bộ và giữa các nhóm
vị trí (nghiên cứu viên, cán bộ quản lý, nhân viên hành chính) còn khá lớn.
4. Phát triển văn hóa số – cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết
57-NQ/TW trong cơ quan nghiên cứu khoa học
Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu; đồng thời đặt yêu cầu
triển khai sâu rộng việc học tập, nâng cao kiến thức khoa học, công nghệ và
kiến thức số, phát huy vai trò của nhà khoa học và thúc đẩy tinh thần sáng tạo,
cải tiến trong công việc. Từ tinh thần đó, phát triển văn hóa số trong cơ quan
nghiên cứu khoa học có thể được xem là một trong những phương thức cụ thể để
đưa Nghị quyết vào hoạt động thường xuyên của tổ chức.
Trước hết, “học tập
số” cần trở thành một phần của văn hóa tổ chức. Cán bộ không chỉ được
đào tạo một lần về công nghệ mà cần hình thành thói quen tự học, cập nhật công
cụ mới và chia sẻ kinh nghiệm sử dụng công nghệ.
Tiếp theo, cần chuyển từ “số hóa công việc” sang “tái cấu trúc công việc trên nền tảng số”.
Nếu chỉ chuyển một quy trình giấy sang quy trình điện tử nhưng vẫn giữ nguyên
các bước trung gian không cần thiết thì hiệu quả chuyển đổi số sẽ hạn chế. Công
nghệ cần được sử dụng để thiết kế lại quy trình theo hướng đơn giản, minh bạch
và dựa trên dữ liệu.
Đồng thời, cần coi nhà
khoa học là chủ thể của chuyển đổi số trong hoạt động nghiên cứu, chứ
không chỉ là người sử dụng các nền tảng do bộ phận quản trị cung cấp. Khi nhà
khoa học tham gia vào quá trình thiết kế công cụ, xây dựng cơ sở dữ liệu và xác
định nhu cầu sử dụng, các giải pháp số sẽ có khả năng gắn sát hơn với thực tiễn
nghiên cứu.
Cuối cùng, chuyển đổi số cần hướng tới việc giải phóng thời gian và năng lực sáng tạo của
nhà khoa học. Những công việc hành chính có tính lặp lại cần từng bước
được tự động hóa, dữ liệu được tổ chức khoa học hơn, qua đó tạo thêm điều kiện
để cán bộ tập trung vào nghiên cứu, phân tích, sáng tạo và đóng góp chính sách.
5. Giải pháp phát triển văn hóa số bền vững
- Đổi mới phương thức quản trị của
người đứng đầu: Lãnh đạo cơ quan phải là người đi
đầu trong việc sử dụng các nền tảng số, sẵn sàng chấp nhận thử nghiệm các mô
hình làm việc mới.
- Tái cấu trúc quy
trình trên nền tảng số: Cắt giảm thủ tục trung gian, không
"bê" nguyên xi quy trình giấy lên môi trường mạng mà phải tối ưu hóa
dựa trên dữ liệu.
- Phát triển năng
lực số theo từng vị trí việc làm: Thiết kế chương trình bồi dưỡng kỹ
năng riêng biệt: nhà nghiên cứu tập trung vào công cụ phân tích dữ liệu và AI;
cán bộ quản lý tập trung vào ra quyết định dựa trên dữ liệu; cán bộ hành chính
tập trung vào vận hành quy trình số.
- Xây dựng thể chế
và cơ chế khen thưởng: Ban hành bộ chuẩn mực ứng xử số, quy chế chia sẻ
dữ liệu đi kèm với chế độ đãi ngộ, tôn vinh các sáng kiến đổi mới cải tiến
phương thức làm việc.
Kết luận
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về
đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc
gia đã đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí
đột phá quan trọng hàng đầu, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, nâng
cao nhận thức và phát triển nguồn nhân lực. Nghị quyết cũng xác định nhà khoa
học là nhân tố then chốt trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số.
Trong bối cảnh đó, xây dựng văn hóa số trong các cơ quan
nghiên cứu khoa học cần được nhìn nhận như một nhiệm vụ có tính nền tảng, góp
phần biến chủ trương chuyển đổi số thành những thay đổi cụ thể trong nhận thức,
hành vi và phương thức hoạt động của mỗi tổ chức và mỗi cán bộ khoa học.
Phát triển văn hóa số trong các cơ quan nghiên cứu khoa học
không phải là công việc một sớm một chiều hay bài toán riêng của bộ phận IT. Đó
là quá trình chuyển đổi toàn diện về con người, tư duy và phương thức quản trị
tri thức. Khi văn hóa số được hình thành tự nhiên và trở thành chuẩn mực hằng
ngày, các cơ quan nghiên cứu mới thực sự giải phóng được năng lực sáng tạo của
nhà khoa học, góp phần đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động
lực phát triển đất nước đúng như tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW đã đề ra.
Tài
liệu tham khảo
2. Phạm Mạnh Hùng,
Nguyễn Nhật Minh (2023), Thúc đẩy văn hóa số trong tổ chức: Lý luận tổng quan
và gợi ý giải pháp, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, số 258, tr.101.
3.
Bộ Thông tin và Truyền thông (2021), Cẩm nang Chuyển đổi số, Nxb Thông tin
và Truyền thông, Hà Nội, tr.74.
4.
Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Nhật Minh (2023), Thúc đẩy văn hóa số trong tổ chức: Lý
luận tổng quan và gợi ý giải pháp, Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng, số
258, Tháng 11, tr.104-105.
5.
Nguyễn Thị Thi (2024), Xây dựng văn hóa số góp phần thúc đẩy chuyển đổi số
thành công trong giáo dục đại học, truy cập tại https://sti.vista.gov.vn/publication/download/449030-8ef26160d2213b5b60c0d67a20e0b0c4.html
6.
Nguyễn Huy Phòng (2023), Xây dựng môi trường văn hóa số: Xu thế tất yếu và những
thách thức đặt ra, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 527, tr. 56-57.
7. Nguyễn Huy Phòng
(2023), Xây dựng môi trường văn hóa số: Xu thế tất yếu và những thách thức đặt
ra, Tạp chí Văn hóa, số 527, tr.55-58.
8.
Ngô Hoài Sơn, Lê Thị Thúy An (2024), Văn hóa số - Điều kiện quan trọng để chuyển
đổi số thành công ở khu vực công, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 343, tr.9-13.