image banner
VI | EN
Khung pháp lý và chính sách thúc đẩy học tập suốt đời của người cao tuổi trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam
Lượt xem: 4
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở, mô hình xã hội học tập”. Đây được coi là bước phát triển mới về tư duy giáo dục đào tạo theo Nghị quyết 02-NQ/HNTW khóa VIII ngày 24/12/1996.
Anh-tin-bai

1. Quyền học tập suốt đời của người cao tuổi và chính sách học tập cộng đồng ở Việt Nam

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã chỉ rõ “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở, mô hình xã hội học tập”. Đây được coi là bước phát triển mới về tư duy giáo dục đào tạo theo Nghị quyết 02-NQ/HNTW khóa VIII ngày 24/12/1996. Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục thực hiện Nghị quyết 02-NQ/HNTW khóa VIII “Coi giáo dục đào tạo … là quốc sách hàng đầu” và “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo…”. Đây là nghị quyết quan trọng nhằm thúc đẩy sự nghiệp giáo dục đào tạo đổi mới theo hướng mở đã được Nghị quyết Đại hội X chỉ ra với mục tiêu: “Ai cũng được học suốt đời theo tư tưởng của Bác, học ở mọi nơi, mọi điều kiện…, cần gì học nấy….”

Song song với việc ra Nghị quyết về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo, ngày 13/4/2007 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 11-CT/TW về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập và sau 10 năm thực hiện Chỉ thị 11-CT/TW, ngày 10/5/2019 Ban Bí thư đã ra Kết luận 49-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị 11-CT/TW của Bộ Chính trị trong giai đoạn mới. Trong Kết luận 49-KL/TW này, Ban Bí thư đã giao trách nhiệm cụ thể hơn cho các tổ chức Đảng và Đảng viên trong xã hội học tập và phải gương mẫu trong thực hiện các mô hình học tập, giao Hội Khuyến học Việt Nam làm nòng cốt trong việc liên kết phối hợp triển khai thực hiện phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập ở địa phương, đơn vị. Có thể nói chỉ thị 11-CT/TW và Kết luận 49-KL/TW đã chỉ rõ việc hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Đây cũng là tiền đề quan trọng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục đào tạo và đào tạo nghề. Khoản 3, Điều 4 của Luật Giáo dục sửa đổi đã quy định rõ “Phát triển hệ thống giáo dục mở, xây dựng xã hội học tập… học tập suốt đời” đã tạo nên khuôn khổ pháp lý cho tiến trình đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo, xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời trong nhân dân. 

Điều 39 của Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định quyền học tập của mọi công dân và không phân biệt tuổi tác (Quốc hội, 2013). Cùng với đó, Điều 14 Luật Người cao tuổi đã chỉ rõ “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi được học tập, nghiên cứu…  cung cấp thông tin, tài liệu, người hướng dẫn để người cao tuổi tham gia học tập, nghiên cứu” (Quốc hội, 2009). Trên cơ sở đó cùng với Căn cứ theo các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, chỉ thị của Bộ Chính trị về xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng Quyết định 89/QĐ-TTg ngày 09/01/2013 phê duyệt Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020, trong đó quy định “Mọi cá nhân có trách nhiệm học tập thường xuyên, suốt đời… học cho bản thân và những người xung quanh hạnh phúc, học để góp phần phát triển quê hương, đất nước và nhân loại”. Theo đó, các bộ, ngành và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, nguồn nhân lực để thực hiện hiệu quả quyết định trên. Đặc biệt, theo Quyết định 281/QĐ-TTg ngày 20/02/2014, Hội Khuyến học Việt Nam được giao chủ trì Đề án Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng dân cư. Cùng với đó, các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ NCT tham gia vào hoạt động học tập cũng đã được ban hành như Công văn số 2425/BVHTTVDL-TV ngày 30/6/2020 về việc tăng cường hoạt động phục vụ NCT trong các thư viện công cộng ở hai vai trò: người tham gia học tập và người hỗ trợ học tập. Theo đó, một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho NCT tiếp cận, sử dụng và khai thác tài nguyên thông tin thư viện phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập và giải trí. Mặt khác, phối hợp, hướng dẫn để NCT tham gia quản lý và vận hành các phòng đọc, tủ sách cơ sở, tổ chức thư viện cộng đồng phục vụ người dân trên địa bàn. Đánh giá kết quả thực hiện Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2020 đã cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được sự tham gia của tổ chức chính trị xã hội vào công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập chưa được nhiều. Trong đó, nguyên nhân chính đó là do nhiều người thấy chưa cần thiết phải xây dựng xã hội học tập, học tập suốt đời thông qua các mô hình học tập, vì điều đó chưa trực tiếp ảnh hưởng đến công việc và cuộc sống hàng ngày (Nguyễn Thanh Thủy, 2025).

Tiếp sau đó, là Chỉ thị 14/CT-TTg ngày 25/5/2021 của Thủ tướng Chính phủ về Đẩy mạnh công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 – 2030 và Chỉ thị 19/CT-TTg ngày 16/7/2021 trong đó mục 3 có nội dung “thi đua xây dựng và phát triển văn hóa, xã hội, khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân”. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030 đã đưa ra một trong những phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp đó là phát triển nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhân lực chất lượng cao của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Theo đó vấn đề đặt ra đó là “Xây dựng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; thực hiện đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động...”. Có thể nói trong giai đoạn hiện nay, chưa bao giờ vấn đề xây dựng xã hội học tập được phát động mạnh mẽ với sự huy động tham gia của mọi tầng lớp, nhóm, cộng đồng và toàn xã hội.

Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 - 2030 được Chính phủ phê duyệt theo quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021, trong đó vấn đề học tập của NCT đã được quan tâm nhiều hơn. Theo đó, hoàn thiện cơ chế, chính sách về xây dựng xã hội học tập trong đó “hỗ trợ những người hết tuổi lao động, …. có điều kiện thuận lợi để học tập suốt đời” và đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức các hoạt động học tập suốt đời thông qua việc “đẩy mạnh các hình thức đào tạo vừa làm vừa học, đào tạo từ xa, tự học có hướng dẫn giúp…. người cao tuổi dễ dàng tiếp cận, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp....” là một trong những giải pháp quan trọng được đề ra nhằm thúc đẩy học tập suốt đời đối với NCT. Quyết định 387/QĐ-TTg ngày 25/3/2022 về việc Phê duyệt Chương trình “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng, đơn vị giai đoạn 2021-2030” là sự tiếp nối của Đề án Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030. Trong đó, nhấn mạnh và kêu gọi sự tham gia của các nhóm xã hội như gia đình, dòng họ, cộng đồng, các đơn vị tham gia học tập suốt đời. Ngay sau đó, quyết định số 677/QĐ-TTg ngày 03/6/2022 về việc Phê duyệt Chương trình “Xây dựng mô hình công dân học tập giai đoạn 2021-2030” là sự khẳng định tầm quan trọng của mỗi công dân/cá nhân trong việc tham gia xây dựng xã hội học tập trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia hiện nay. Mục tiêu quan trọng của quyết định này đó là “khuyến khích, tạo cơ hội công bằng, điều kiện thuận lợi cho mọi cá nhân trong tổ chức, đơn vị, gia đình, mọi công dân trong xã hội được tham gia học tập, hướng tới công dân số, đáp ứng yêu cầu của Chương trình chuyển đổi số quốc gia và góp phần xây dựng thành công một xã hội học tập”.

Gần đây nhất là Quyết định số 1315/QĐ-TTg ngày 09/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành kế hoạch triển khai phong trào “Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023-2030” là sự mở rộng phong trào học tập suốt đời trong toàn bộ hệ thống xã hội. Một trong những nội dung quan trọng của quyết định này đó là “Xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ và đẩy mạnh hoạt động của các thiết chế giáo dục chính quy và không chính quy, thiết chế văn hóa, các trung tâm học tập cộng đồng, tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các đối tượng học tập suốt đời”. Theo đó, tạo cơ chế thuận lợi để tất cả các đối tượng có cơ hội tham gia học tập suốt đời là định hướng quan trọng nhằm đem lại quyền lợi cho các đối tượng trong đó có NCT có cơ hội được học tập suốt đời.

2. Chính sách chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục và học tập đối với người cao tuổi Việt Nam

Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 không chỉ là định hướng về lĩnh vực công nghệ mà còn là một sự định hướng thay đổi toàn diện từ quản lý nhà nước, doanh nghiệp đến đời sống, giao tiếp, dịch vụ nhằm tạo nên một xã hội số toàn diện. Đây được coi là “kim chỉ nam”, là nền tảng chiến lược cần thiết và rất quan trọng cho quá trình chuyển đổi số quốc gia – mở ra cơ hội lớn để phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, nâng cao hiệu quả dịch vụ và quản lý xã hội. Tiếp sau đó, sự ra đời của Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 28/01/2022 đã đặt ra khung pháp lý và chính sách rất quan trọng cho chuyển đổi số quốc gia với mục tiêu nâng cao nhận thức, phổ cập kỹ năng số và phát triển nguồn nhân lực. Trong đó mục tiêu đến năm 2025, 70% (đến năm 2030 là 90%) số người dân trong độ tuổi lao động biết đến và có kỹ năng sử dụng các loại hình dịch vụ công trực tuyến và các dịch vụ số thiết yếu khác trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, giao thông, du lịch, ngân hàng; cơ bản nắm được cách thức sử dụng dịch vụ khi có nhu cầu. Đây là một chính sách nhằm đảm bảo mọi người – từ người trẻ đến người già, dân tộc thiểu số, khu vực nông thôn/miền núi đều có cơ hội tiếp cận và tham gia vào xã hội số. Tuy nhiên, việc các chính sách này không có quy định riêng hay các chính sách đặc thù hoặc các chương trình hỗ trợ cho các nhóm dễ bị tổn thương như NCT, người khuyết tật v.v có thể làm gia tăng khoảng cách số giữa các thế hệ, các nhóm xã hội. Đồng thời, làm gia tăng nguy cơ bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công và xã hội.

Trong bối cảnh đó, Chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi giai đoạn 2021-2030 đã được ban hành theo Quyết định số 2156/QĐ-TTg ngày 21/12/2021 với những cơ sở chính sách phù hợp, đặc thù dành riêng cho NCT được coi là sự bổ sung phù hợp với kịp thời. Một trong những mục tiêu quan trọng của Chương trình là đến giai đoạn 2022-2025 sẽ có ít nhất 50% người cao tuổi được tiếp cận và sử dụng được các sản phẩm công nghệ thông tin truyền thông và tăng lên ít nhất 80% trong giai đoạn 2026-2030. Gần đây nhất Chính phủ đã ban hành Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/2/2025 phê duyệt Chiến lược quốc gia về NCT đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, mục tiêu đến năm 2025 là có ít nhất 50% NCT sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong đời sống. Một trong những cách thức được đưa ra đó là nghiên cứu phát triển công nghệ, công cụ sản xuất tài liệu phục vụ đào tạo người cao tuổi sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông phục vụ hoạt động học tập, giảng dạy, truyền nghề…

Sự thay đổi liên tục của nền kinh tế và cách mạng công nghệ 4.0 dẫn đến rất nhiều những biến chuyển trong cuộc sống xã hội Việt Nam hiện nay. Để có thể sử dụng công nghệ là nhu cầu rất lớn của người cao tuổi người cao tuổi như nhu cầu sử dụng các thiết bị thông minh để tăng cường sự gắn kết các mối quan hệ, dễ dàng cập nhật, tìm kiếm thông tin… góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người cao tuổi. Quyết định số 379/QĐ-TTg ngày 20/02/2025 Phê duyệt Đề án Người cao tuổi tham gia đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, khởi nghiệp tạo việc làm đã cho thấy NCT không chỉ là đối tượng cần hỗ trợ an sinh mà còn là nguồn lực tiềm năng — với kinh nghiệm, trí tuệ, khả năng đóng góp cho xã hội - khi được tiếp cận kỹ thuật, môi trường thuận lợi. Điều này giúp thay đổi cách nhìn nhận truyền thống về tuổi cao: từ “người cần chăm lo” sang “công dân tích cực, chủ động tham gia phát triển. Tuy nhiên, các nội dung trong đề án liên quan đến học tập, phát triển kỹ năng số, xóa mù công nghệ cho NCT chưa được trình bày tách bạch và thiếu các chỉ tiêu cụ thể. Điều này khiến hệ thống giáo dục thường xuyên, trung tâm học tập cộng đồng và các tổ chức xã hội khó triển khai chương trình đào tạo bài bản cho NCT. Cùng với đó, NCT với những hạn chế đặc thù do vậy rất cần có những chính sách hỗ trợ phù hợp nhằm đảm bảo hiệu quả trong thực thi đề án. Sự ra đời của Kế hoạch số 01-KH/BCĐTW ngày 21/3/2025 về việc Triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, tiếp sau đó các bộ ban ngành cùng các địa phương đã đồng loạt ban hành kế hoạch thực hiện phong trào này như Bộ Khoa học và Công nghệ (quyết định số 550/QĐ-BKHCN ngày 14/4/2025), Bộ Xây dựng (quyết định số 440/QĐ-BKHCN ngày 18/4/2025) đã được triển khai rộng khắp đến các thành phần trong xã hội bao gồm NCT. Thực tế cho thấy, để NCT thật sự bắt nhịp chuyển đổi số, góp phần vào công cuộc phát triển bền vững, rất cần sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị. Lúc này vai trò của các tổ công nghệ số cộng đồng, mô hình câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau đóng vai trò then chốt trong hành trình số hóa của NCT. Cùng với đó, việc gắn quyền, vai trò của NCT vào một đề án quốc gia được phê duyệt bởi Chính phủ tạo ra khung pháp lý - minh bạch, có trọng lượng - để các bộ, ngành, địa phương thực thi, giám sát, đánh giá. Điều này rất cần thiết để đảm bảo cam kết hỗ trợ thực chất, ổn định, tránh mang tính hình thức.

 

Tài liệu tham khảo

1.     Nguyễn Thanh Thủy. (2025). Chính sách và pháp lý về học tập cho người cao tuổi tron kỷ nguyên số ở Việt Nam. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 177 (238), tháng 12/2025 (kì 1).

2.     Quốc hội. (2009). Luật Người cao tuổi. Số 39/2009/QH12, ngày 23/11/2009.

3.     Quốc hội. (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ngày 28/11/2013.

Nguồn bài viết: Viện Xã hội học và Tâm lý học
Nguồn bài viết: https://vass.gov.vn/hoat-dong-cac-don-vi-truc-thuoc/khung-phap-ly-va-chinh-sach-thuc-day-hoc-tap-suot-doi-cua-nguoi-cao-tuoi-trong-boi-canh-chuyen-doi--571922
Thông báo
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com