image banner
VI | EN
Chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng trách nhiệm, minh bạch, bền vững: trường hợp tỉnh Sơn La
Lượt xem: 25
Tóm tắt:   Bài viết phân tích quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng minh bạch, trách nhiệm và bền vững tại tỉnh Sơn La trong bối cảnh triển khai Quyết định số 300/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đến năm 2030. Trên cơ sở tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu làm rõ lợi thế về điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển nông nghiệp hữu cơ của địa phương. Kết quả cho thấy Sơn La đã từng bước hình thành khung chính sách tương đối đồng bộ, thúc đẩy sản xuất, phát triển nông nghiệp sinh thái, hữu cơ và tăng cường liên kết chuỗi giá trị. Việc thực hiện Kế hoạch số 161 bước đầu đạt những kết quả tích cực, thể hiện qua mở rộng diện tích canh tác hữu cơ, gia tăng sử dụng phân bón hữu cơ, cấp mã số vùng trồng, cải thiện thu nhập nông thôn và giảm nghèo. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi vẫn đối mặt với các thách thức về quy mô sản xuất, nguồn lực, hạ tầng, liên kết thị trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu. Nghiên cứu khẳng định chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm là yêu cầu tất yếu, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của cách tiếp cận tổng thể, dài hạn và sự tham gia của các bên liên quan.   Từ khóa: Chuyển đổi hệ thống lương thực, tỉnh Sơn La, nông nghiệp hữu cơ  

 

Abstract

 
This article examines the transformation of the food system toward transparency, accountability, and sustainability in Son La Province within the context of implementing the Prime Minister’s Decision No. 300/QD-TTg through 2030. Drawing on the synthesis and analysis of secondary data, the study elucidates the advantages of local natural conditions and the province’s potential for organic agricultural development. The findings indicate that Son La has gradually established a relatively coherent policy framework that promotes ecological and organic agricultural production while strengthening value chain linkages. The implementation of Plan No. 161 has yielded initial positive outcomes, as reflected in the expansion of organically farmed areas, increased application of organic fertilizers, the issuance of planting area codes, improvements in rural household income, and poverty reduction. Nevertheless, the transformation process continues to face significant challenges related to production scale, resource availability, infrastructure development, market connectivity, and adaptation to climate change. The study affirms that food system transformation is an imperative requirement and underscores the necessity of a holistic, long-term approach with the active participation of multiple stakeholders.

 

Keywords: Food system transformation, Son La province, organic agriculture

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Trong bối cảnh thế giới đang phải đối mặt với các thách thức ngày càng gia tăng về biến đổi khí hậu, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, mất an ninh lương thực, việc chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm (LTTP) theo hướng trách nhiệm, minh bạch và bền vững trở nên cấp thiết đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Các mô hình sản xuất, chế biến và phân phối LTTP truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế trong việc đảm bảo đầy đủ trách nhiệm xã hội – môi trường như khai thác quá mức tài nguyên, gia tăng phát thải khí nhà kính, thiếu minh bạch trong truy xuất nguồn gốc... Do đó, chuyển đổi hệ thống LTTP không chỉ là xu thế tất yếu mà còn là giải pháp then chốt nhằm bảo đảm an ninh lương thực, nâng cao chất lượng dinh dưỡng và hướng tới phát triển bền vững.

 

Ở Việt Nam, chủ trương chuyển đổi hệ thống LTTP theo hướng minh bạch, trách nhiệm và bền vững đã được thể hiện rõ trong nhiều chiến lược, chương trình và chính sách phát triển nông nghiệp, đặc biệt là định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và kinh tế tuần hoàn. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực tế vẫn gặp không ít khó khăn, đòi hỏi các nghiên cứu cụ thể ở cấp địa phương nhằm làm rõ điều kiện, tiềm năng cũng như các giải pháp phù hợp cho từng vùng sinh thái, kinh tế, xã hội khác nhau.

 

Sơn La là một trong những địa phương có nhiều lợi thế nổi bật để thực hiện chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng trách nhiệm, minh bạch và bền vững. Nhờ lợi thế về địa hình cao nguyên rộng lớn và điều kiện tự nhiên thuận lợi, Sơn La là một trong những địa phương dẫn đầu cả nước về sản xuất trái cây và các sản phẩm nông nghiệp giá trị cao. Tỉnh có diện tích đất nông nghiệp lớn, năm 2025 diện tích này đạt 334.518 ha trong đó cây ăn quả chiếm phần lớn khoảng 85.050 ha cây ăn quả và sơn tra với sản lượng thu hoạch ước tính năm 2025 khoảng 510.000 tấn, giúp Sơn La trở thành “vựa trái cây lớn nhất miền Bắc” của Việt Nam [7].

 

Sơn La có điều kiện khí hậu và địa hình đặc thù tạo nền tảng tự nhiên thuận lợi cho phát triển canh tác an toàn và hữu cơ. Nằm ở khu vực Tây Bắc, có độ cao trung bình khoảng 600 - 700 m so với mực nước biển, địa hình chủ yếu là đồi núi cao và cao nguyên xen kẽ các thung lũng. Khí hậu Sơn La mang tính chất nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình năm dao động khoảng 21 - 23°C, thấp hơn đáng kể so với vùng đồng bằng, đặc điểm này giúp hình thành tiểu vùng khí hậu mát mẻ, biên độ nhiệt ngày đêm lớn, có lợi cho quá trình sinh trưởng và tích lũy chất lượng nông sản [1]. Bên cạnh đó, Sơn La còn có hệ thống sông ngòi phong phú, tiêu biểu là sông Đà, sông Mã cùng nhiều suối nhánh, hồ chứa và công trình thủy lợi, bảo đảm nguồn nước tưới tương đối ổn định cho sản xuất.

 

Một lợi thế nổi bật khác của Sơn La là sự phát triển và quy hoạch vùng sản xuất theo chuỗi giá trị, tiêu chuẩn an toàn và hữu cơ. Tổng diện tích cây trồng sản xuất theo các tiêu chuẩn và tương đương năm 2025 đạt 31.660 ha trong đó diện tích cây trồng sản xuất được cấp VietGAP chiếm 5.596 ha; diện tích cấp chứng nhận hữu cơ và tương đương 2.617 ha; sản xuất cà phê đạt tiêu chuẩn bền vững (4C, UTZ) 23.448 ha [6]. Tỉnh cũng chú trọng xây dựng liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, tạo điều kiện gia tăng giá trị cho sản phẩm hữu cơ, đã xuất khẩu sản phẩm trái cây chất lượng cao sang các thị trường quốc tế, chứng minh tiềm năng gia tăng giá trị và mở rộng thị trường cho nông sản hữu cơ [5].

 

Mặc dù vậy, quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm tại tỉnh Sơn La đang đối mặt với nhiều khó khăn và vướng mắc xuất như thiếu cơ sở hạ tầng và công nghệ, thị trường không ổn định, nông nghiệp quy mô nhỏ chiếm ưu thế, với sự kết nối hạn chế giữa nông dân, doanh nghiệp và hợp tác xã, dịch bệnh và thời tiết cực đoan là một thách thức đe dọa sản xuất, khó khăn về năng lực quản lý, vốn và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn an toàn LTTP…

 

Xuất phát từ những yêu cầu và bối cảnh nêu trên, việc nghiên cứu chuyển đổi hệ thống LTTP theo hướng trách nhiệm, minh bạch và bền vững tại tỉnh Sơn La có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc. Nghiên cứu này bước đầu phân tích, xem xét các yếu tố thúc đẩy và cản trở quá trình chuyển đổi ở cấp địa phương, góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp phù hợp tại tỉnh Sơn La.

 

2. PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong bài viết này là phương pháp thu thập và xử lý thông tin, tài liệu thứ cấp. Các tài liệu được sử dụng chủ yếu về thực trạng cơ chế, chính sách, tình hình phát triển nông nghiệp hữu cơ và chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm trách nhiệm, minh bạch, bền vững tại tỉnh Sơn La.

 

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

 

3.1. Một số cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển nông nghiệp hữu cơ tại tỉnh Sơn La

 

Các văn bản do Tỉnh ủy Sơn La ban hành trong giai đoạn 2015–2025 đã thể hiện rõ chủ trương xuyên suốt về phát triển nông nghiệp theo hướng sinh thái, bền vững và từng bước tiếp cận mô hình nông nghiệp hữu cơ. Thông qua Kế hoạch số 187-KH/TU năm 2020 và Kế hoạch số 126-KH/TU năm 2022, tỉnh cụ thể hóa các nghị quyết, kết luận của Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường, chất lượng và an toàn thực phẩm. Đây là nền tảng chính trị quan trọng cho việc thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh.

 

Định hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ được lồng ghép rõ nét trong Đề án phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản tập trung, bền vững, ứng dụng công nghệ cao đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Kết luận số 90-KL/TU năm 2021. Đề án xác định việc tổ chức lại sản xuất theo vùng tập trung, gắn với ứng dụng khoa học công nghệ, giảm sử dụng vật tư đầu vào hóa học, tăng cường sử dụng các biện pháp sinh học và canh tác thân thiện với môi trường, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các mô hình sản xuất hữu cơ và hữu cơ chuyển đổi.

 

Chủ trương chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất và hình thành hệ thống nông nghiệp sinh thái đặc trưng của tỉnh được thể hiện rõ qua Kết luận số 121-TB/TU năm 2015 và được tiếp tục khẳng định tại Kết luận số 1678-KL/TU năm 2025. Việc chuyển đổi đất dốc sang trồng cây ăn quả không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập cho người dân mà còn tạo tiền đề cho phát triển nông nghiệp sinh thái, giảm xói mòn, bảo vệ tài nguyên đất và nước, phù hợp với các nguyên tắc cốt lõi của nông nghiệp hữu cơ.

 

Bên cạnh đó, các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh ủy như Nghị quyết số 08-NQ/TU năm 2021 về phát triển nông, lâm nghiệp và thủy sản tập trung, ứng dụng công nghệ cao và Nghị quyết số 06-NQ/TU năm 2021 về phát triển công nghiệp chế biến nông sản đã bổ trợ quan trọng cho phát triển nông nghiệp hữu cơ [3]. Các văn bản này định hướng chuyển mạnh từ sản xuất thô sang chế biến sâu, xây dựng chuỗi giá trị nông sản bền vững, qua đó nâng cao khả năng tiêu thụ và giá trị sản phẩm hữu cơ trên thị trường.

 

Hội đồng nhân dân tỉnh và Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La đã kịp thời ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể nhằm hiện thực hóa chủ trương phát triển nông nghiệp hữu cơ. Nghị quyết số 128/2020/NQ-HĐND và Quyết định số 490/QĐ-UBND năm 2019 đã đưa ra các chính sách ưu đãi, hỗ trợ hợp tác xã và doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp theo hướng hữu cơ, tập trung vào hỗ trợ kỹ thuật, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ sản phẩm [6].

 

Song song với việc ban hành các văn bản chính sách, tỉnh Sơn La đã chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt và phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và quan điểm của tỉnh về phát triển nông nghiệp hữu cơ. Thông qua các hội nghị, tập huấn và phương tiện thông tin đại chúng, nhận thức của các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân về vai trò, lợi ích và yêu cầu của nông nghiệp hữu cơ từng bước được nâng cao, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội và thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang nền nông nghiệp bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La.

 

3.2. Kết quả thực hiện chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La

 

Tỉnh Sơn La đã từng bước tổ chức và thực hiện các hoạt động nhằm thúc đẩy chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng minh bạch, có trách nhiệm và bền vững một cách bài bản và có hệ thống. Quá trình này được triển khai theo các giai đoạn rõ ràng, gắn với mục tiêu tăng cường năng lực thể chế, cải thiện phối hợp liên ngành và huy động hiệu quả các nguồn lực liên quan.

 

Anh-tin-bai

 

Trước hết, trong năm 2024, tỉnh Sơn La đã thành lập Tổ công tác kỹ thuật cấp tỉnh, tổ công tác này sẽ phối hợp với các cơ quan, đơn vị để thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến chuyển đổi hệ thống LTTP trên địa bàn tỉnh. Trên cơ sở đó, tỉnh tổ chức họp khởi động vào tháng 6/2024 và tập huấn về hệ thống LTTP vào tháng 9/2024 nhằm nâng cao nhận thức chung của các bên liên quan. Tỉnh đã đánh giá hiện trạng hệ thống LTTP vào tháng 10 - 11/2024, thu thập thông tin, chấm điểm và lựa chọn bộ chỉ số đánh giá, tổng hợp dữ liệu về các chương trình, dự án đang triển khai trên địa bàn.

 

Bước sang năm 2025, tỉnh Sơn La tập trung xây dựng và hoàn thiện kế hoạch thực thi cấp tỉnh (Kế hoạch 161) trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 7/2025, nhằm cụ thể hóa các mục tiêu chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm thành các nhiệm vụ, giải pháp và lộ trình thực hiện rõ ràng. Song song với đó, tỉnh tổ chức họp thống nhất nội dung giữa các bên liên quan vào giai đoạn cuối năm 2025, nhằm đảm bảo sự đồng thuận và tính khả thi trong quá trình triển khai.

 

Kết quả thực hiện Kế hoạch số 161 của tỉnh Sơn La cho thấy những chuyển biến tích cực trong tổ chức sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững. Diện tích đất nông nghiệp sản xuất hữu cơ và các hình thức canh tác tương đương trong năm 2025 đạt 31.660 ha, chiếm khoảng 9,5% tổng diện tích gieo trồng. Kết quả này phản ánh xu hướng chuyển dịch tích cực sang các phương thức sản xuất thân thiện với môi trường, đồng thời đặt nền tảng cho phát triển nông nghiệp xanh và bền vững trên địa bàn tỉnh [6].

 

Ngoài ra, toàn tỉnh đã được cấp mã số vùng trồng với tổng diện tích 2.834 ha, tương đương 14,17% mục tiêu đề ra đến năm 2030, góp phần từng bước nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu [6]; Chuyển đổi diện tích lớn đất trồng lúa và ngô (đặc biệt trên đất dốc) sang các loại cây trồng có giá trị cao như cây ăn quả, rau củ và cà phê, tăng năng suất và lợi nhuận; Thành lập các khu vực chuyên canh chính cho nhãn (Sông Mã), xoài (Yên Châu) và mận (Mộc Châu), nâng cao chất lượng và tiềm năng xuất khẩu [2].

 

Bên cạnh đó, tỉnh đã mở rộng ứng dụng các phương pháp canh tác thích ứng với biến đổi khí hậu, công nghệ cao và được chứng nhận GAP, nâng cao năng suất từ 26,25 triệu đồng/ha (năm 2015) lên 67,3 triệu đồng/ha (năm 2023). Phân bón hóa học và thuốc trừ sâu đang dần được thay thế bằng các sản phẩm sinh học và hữu cơ, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp bền vững [2].

 

Việc sử dụng phân bón hữu cơ tiếp tục được mở rộng, với tổng lượng năm 2025 ước đạt khoảng 1.000.000 tấn, chiếm trên 24% tổng lượng phân bón cung ứng trên thị trường. So với năm 2020, mức sử dụng phân bón hữu cơ đã tăng trên 1,6 lần, cho thấy sự thay đổi trong nhận thức và thực hành sản xuất của người dân và doanh nghiệp nông nghiệp [6].

 

Cùng với những kết quả trong lĩnh vực sản xuất, đời sống kinh tế - xã hội khu vực nông thôn cũng được cải thiện đáng kể. Thu nhập bình quân của cư dân nông thôn năm 2025 ước đạt 71,6 triệu đồng/người/năm, cao hơn 1,62 lần so với năm 2020, phản ánh hiệu quả tổng hợp của các chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn. Song song với đó, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều ở khu vực nông thôn giảm bình quân khoảng 1,5% mỗi năm. Điều này cho thấy Kế hoạch 161 không chỉ tác động đến sản xuất nông nghiệp mà còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và bảo đảm an sinh xã hội cho người dân nông thôn [6].

 

3.3. Những khó khăn vướng mắc tại địa phương trong chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm

 

Qua phân tích các tài liệu thứ cấp có thể thấy quá trình chuyển đổi hệ thống LTTP tại tỉnh Sơn La đã ghi nhận nhiều thành tựu nổi bật. Mặc dù vậy, quá trình này cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Trước hết, những bất cập trong cơ chế, chính sách và phối hợp liên ngành cũng gây ra nhiều khó khăn. Hệ thống chính sách hỗ trợ chuyển đổi còn chồng chéo, thiếu đồng bộ giữa các cấp, các ngành và chưa tạo được động lực đủ mạnh cho khu vực tư nhân tham gia. Việc lồng ghép các mục tiêu về an ninh lương thực, bảo vệ môi trường, giảm nghèo và phát triển kinh tế nông thôn trong một khung chính sách thống nhất còn hạn chế, làm giảm hiệu quả tổng thể của quá trình chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm tại tỉnh Sơn La [6].

 

Thách thứ thứ hai là do đặc điểm địa hình chia cắt mạnh, cùng với ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu và thiên tai gây khó khăn cho việc áp dụng các mô hình sản xuất bền vững, đặc biệt là các hệ thống canh tác thân thiện với môi trường vốn đòi hỏi điều kiện sinh thái và quản lý chặt chẽ [6].

 

Một trở ngại quan trọng khác là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và sự kết nối hạn chế giữa nông dân, doanh nghiệp và hợp tác xã. Phần lớn hộ nông dân tại Sơn La sản xuất dựa trên kinh nghiệm truyền thống, thiếu sự liên kết hiệu quả với doanh nghiệp chế biến, phân phối và thị trường tiêu thụ. Ngoài ra, tình trạng thiếu đội ngũ cán bộ kỹ thuật giàu kinh nghiệm cũng như doanh nghiệp đầu tàu cũng khiến cho việc chuyển đổi khó khăn hơn[6]. Mặc dù hợp tác xã phát triển nhanh chóng, nhiều đơn vị vẫn gặp khó khăn về năng lực quản lý, tiếp cận nguồn vốn và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn an toàn LTTP [2].

 

Cuối cùng, việc đầu tư cho đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, cơ giới hóa và bảo quản sau thu hoạch còn thấp, hệ thống logistics, kho lạnh và chế biến sâu chưa đáp ứng yêu cầu. Hệ thống vận tải chưa hoàn thiện cản trở vận tải nông nghiệp, trong khi công nghệ bảo quản và chế biến hạn chế khiến phần lớn sản phẩm ở dạng tươi, làm giảm tiềm năng gia tăng giá trị [2]. Thị trường không ổn định phụ thuộc nhiều vào Trung Quốc cho xuất khẩu, với các yêu cầu kiểm soát chất lượng và truy xuất nguồn gốc nghiêm ngặt hơn. Các kênh phân phối hiện đại kém phát triển, với phần lớn doanh số phụ thuộc vào trung gian, gây ra sự biến động về giá [2].

 

4. KẾT LUẬN

 

Việc chuyển đổi hệ thống LTTP tại tỉnh Sơn La là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh biến đổi khí hậu, hội nhập thị trường và nhu cầu ngày càng cao về an ninh lương thực, dinh dưỡng và phát triển bền vững. Quá trình chuyển đổi không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp mà còn hướng tới bảo vệ tài nguyên đất, nước, đa dạng sinh học và cải thiện sinh kế cho người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi.

 

Thực tiễn cho thấy Sơn La có nhiều lợi thế về điều kiện sinh thái để phát triển nông nghiệp hàng hóa, nhất là cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và các sản phẩm đặc sản địa phương. Tuy nhiên, hệ thống LTTP của tỉnh vẫn đang đối mặt với những hạn chế như sản xuất còn manh mún, phụ thuộc vào đầu vào hóa học, liên kết chuỗi giá trị chưa chặt chẽ và khả năng thích ứng với rủi ro thị trường, khí hậu còn thấp. Những tồn tại này đòi hỏi một cách tiếp cận chuyển đổi mang tính tổng thể và dài hạn.

 

Để thúc đẩy chuyển đổi hiệu quả bền vững, cần thiết nâng cao năng lực thể chế, nguồn nhân lực và nhận thức của cộng đồng. Cần tăng cường đào tạo, chuyển giao khoa học công nghệ, hoàn thiện chính sách hỗ trợ nông nghiệp bền vững và tạo điều kiện để người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế, tham gia tích cực vào quá trình chuyển đổi. Đây chính là nền tảng để Sơn La xây dựng một hệ thống LTTP vừa hiệu quả, công bằng, vừa thích ứng với các thách thức trong tương lai.

 

Bên cạnh yếu tố sản xuất, phát triển hệ thống LTTP bền vững tại Sơn La cần chú trọng xây dựng và củng cố chuỗi giá trị từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Việc thúc đẩy liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường sẽ giúp ổn định đầu ra, nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản địa phương. Đồng thời, đầu tư vào chế biến sâu, bảo quản sau thu hoạch và xây dựng thương hiệu sản phẩm đặc trưng của tỉnh là giải pháp quan trọng để giảm tổn thất và gia tăng giá trị kinh tế.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1. Cổng thông tin điện tử tỉnh Sơn La (2022), Điều kiện tự nhiên tỉnh Sơn La, ngày truy cập 27/1/2026.

2. Liên minh Bioversity international – Trung tâm nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (2025), Hồ sơ hệ thống lương thực thực phẩm tỉnh Sơn La, Việt Nam.

3. Nguyễn Thị Ngân (2024), Phát triển nông nghiệp hữu cơ trên địa bàn tỉnh Sơn La, Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Thái Nguyên.

5. Nguyễn Yến (2025), Nông nghiệp hữu cơ tạo giá trị kinh tế bền vững, Báo Sơn La, Nông nghiệp hữu cơ tạo giá trị kinh tế bền vững, ngày truy cập 27/1/2026.

6. Nguyễn Yến (2025), Xây dựng chuỗi giá trị trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, Báo Sơn La, Xây dựng chuỗi giá trị trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, ngày truy cập 27/1/2026.

7. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La (2026), Thực hiện chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La, Hội nghị Toàn thể Chương trình Hỗ trợ quốc tế (ISG) - Thúc đẩy chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm theo hướng xanh, ít phát thải và bền vững: Hợp tác và đổi mới sáng tạo.

8. Thu Thuỳ/VOV-Tây Bắc (2025), Sơn La ước thu 510.000 tấn quả trong năm 2025, Sơn La ước thu 510.000 tấn quả trong năm 2025, Sơn La ước thu 510.000 tấn quả trong năm 2025, ngày truy cập 27/1/2026.

9. Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn La (2025), Kế hoạch 161/KH-UBND, Kế hoạch Chuyển đổi hệ thống lương thực thực phẩm minh bạch, trách nhiệm và bền vững trên địa bàn tỉnh Sơn La đến năm 2030.

 

Nguồn bài viết: Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững
Tác giả: ThS. Nguyễn Thị Thu Hà
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com