image banner
VI | EN
Tạp chí Địa lý Nhân văn 1-2013
Lượt xem: 12
Tạp chí Địa lý Nhân văn 1-2013


TIẾP CẬN SINH THÁI VỚI TĂNG TRƯỞNG XANH TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TS. Lê Thành Ý
Viện Phát triển Nông thôn và Cộng đồng IDRC

    Tiếp cận dựa vào hệ sinh thái trong tìm kiếm giải pháp thích ứng và giảm thiểu BĐKH là cách làm thiết thực để tăng trưởng xanh trong phát triển bền vững. Thúc đẩy lồng ghép tiếp cận sinh thái trong các hành động quốc gia ứng phó với BĐKH đòi hỏi phải có nhiều nguồn lực xã hội, bao gồm cả việc huy động vốn cho hoạt động bảo vệ dịch vụ sinh thái được lồng ghép trong các dự án về năng lượng. Nhiều tổ chức tài chính thế giới đã vận dụng cơ chế chia sẻ rủi ro dựa vào thị trường và thử nghiệm những định chế tài chính mới nhằm mở rộng thị trường các-bon. Sáng kiến về quỹ đầu tư đổi mới như đối tác các bon trong lâm nghiệp (FCPF), chương trình đầu tư rừng (FIP) và chương trình thử nghiệm về khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu (PPFCR) được tiến hành đã mở ra nhiều triển vọng trong cách tiếp cận dựa vào hệ sinh thái để thúc đẩy mạnh tăng trưởng xanh. Hy vọng từ kinh nghiệm toàn cầu và động thái mới trong hỗ trợ đầu tư phát triển của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh theo cách tiếp cận hệ sinh thái sẽ là một đảm bảo cho sự phát triển bền vững ở nước ta.

Ảnh hưởng của các hình thức quản lý phụ phẩm   nông nghiệp (rơm rạ) đến nhiệt độ và khu hệ vi sinh vật đất trồng lúa ở Hà Nội
 Nguyễn Song Tùng - Viện Địa lí nhân văn
 Nguyễn Xuân Cự - Trường Đại học Khoa học tự nhiên  
Nghiên cứu này tập trung đánh giá ảnh hưởng của việc đốt rơm rạ và tác động của một số hình thức quản lý phụ phẩm nông nghiệp đến nhiệt độ và khu hệ vi sinh vật đất. Kết quả cho thấy các hình thức quản lý phụ phẩm nông nghiệp khác nhau có ảnh hưởng khác nhau đến khu hệ vi sinh vật đất. Đốt rơm rạ trực tiếp trên ruộng có tác động làm tăng cao nhiệt độ đất, đặc biệt là tầng đất mặt. Đốt tập trung làm nhiệt độ đất tăng cao hơn so với đốt phân tán nên có ảnh hưởng trực tiếp mạnh hơn đến các vi sinh vật đất, nhưng do diện tích đất bị tác động nhỏ nên các vi sinh vật đất được phục hồi nhanh hơn sau khi kết thúc quá trình đốt. Trong các hình thức quản lý phụ phẩm nông nghiệp như thu hoạch toàn bộ, vùi rơm rạ, đốt rơm rạ thì việc vùi rơm rạ có tác động tích cực làm tăng số lượng và ổn định hoạt động của vi sinh vật đất. Các hình thức còn lại đều làm suy giảm số lượng của các vi sinh vật đất. Đốt rơm rạ không chỉ có tác động trực tiếp đến khu hệ vi sinh vật đất mà còn có tác động gián tiếp về lâu dài là đất không được cung cấp các chất hữu cơ, nguồn thức ăn chủ yếu của các vi sinh vật đất.


(The study focuses on assessing the impact of the burning of rice straw and some management methods of agricultural by-products to temperature and soil microbial fauna. The results showed that methods of agricultural product managements have different impact on soil microbial fauna. Direct burning of rice straw in the field has strong impact on soil temperature, especially in the topsoil. The piled rice straw burning increase much higher soil temperature and have a stronger direct impact on soil microorganisms, but due to the small area affected by burning the soil microbial regrow more after the end of combustion compared to dispersion burning. Among all methods of agriculture by-product management, i.e., rice straw harvested as whole, burying rice straw and burning rice straw, the burying rice straw has a positive impact on increasing the number and stability of soil microbial activity. While the remaining methods have reduced the number of soil microorganisms. The direct impact on soil microbial fauna of burning straw increased soil temperature, and indirect effects on microbial fauna in the long run because the land is not provided with organic matter, the main food source of the soil microorganisms.)



KINH TẾ TỈNH QUẢNG BÌNH
GIAI ĐOẠN 2000 - 2009 VỚI TẦM NHÌN  ĐẾN NĂM 2020

Đinh Trọng Thu                             
Viện Địa lý nhân văn

    

Nghiên cứu hiện trạng kinh tế tỉnh Quảng Bình trong những năm gần đây dưới góc độ địa lí học để xác định những thuận lợi, khó khăn, tầm nhìn khai thác lợi thế, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế của tỉnh theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ, giảm bớt khoảng cách chênh lệch mức sống và phát triển với bình quân cả nước theo hướng bền vững là nội dung chính của bài viết "Kinh tế Quảng Bình giai đoạn 2000 - 2009 với tầm nhìn đến năm 2020". Giai đoạn 2000 - 2009 tốc độ tăng trưởng GDP trung bình đạt 9,9% năm. Cơ cấu kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch tích cực theo hướng giảm dần tỉ trọng nông nghiệp từ 37,0% năm 2000 xuống 29,7% năm 2005, và đến năm 2009 còn 23,0%. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và xây dựng, tăng nguồn thu ngân sách, tạo tích lũy cho tái sản xuất mở rộng và giải quyết việc làm…Với tầm nhìn kinh tế tỉnh Quảng Bình đến năm 2020, tác giả đã đề xuất một số giải pháp như thu hút vốn đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, phát triển khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thu hút nhân tài, tăng cường hợp tác và mở rộng thị trường ra bên ngoài nhằm thúc đẩy kinh tế Quảng Bình phát triển hơn nữa đến năm 2020.



HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KINH TẾ BIỂN THÀNH PHỐ HẠ LONG
Nguyễn Ngọc Phượng
Viện Việt Nam học và khoa học phát triển


    Bài viết diểm qua một số nét về kinh tế biển thành phố Hạ Long hướng tới phát triển bền vững. Các ngành kinh tế như thủy sản, du lịch, hàng hải đã có những hướng đi phù hợp với phát triển bền vững. Ngành thủy sản, thành phố đã có nhiều chủ trương, giải pháp quản lí bảo vệ, khai thác tiềm năng, thế mạnh của biển theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường sinh thái. Ngành du lịch nâng cao nhận thức của người dân và du khách về ý thức bảo vệ môi trường, thành phố tổ chức thu gom rác thải, nước thải trên các nhà bè và mặt Vịnh được đưa lên bờ xử lí đúng quy trình, các nhà hàng, khách sạn cam kết bảo vệ môi trường. Ngành hàng hải đầu tư xây dựng cảng biển hiện đại, nâng cao hiệu quả kinh tế và các giải pháp bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, xét tổng thể kinh tế biển Hạ Long phát triển vẫn chậm hơn so với tiềm năng của vùng. Một số giải pháp được tác giả đề xuất như cần chuyên môn hóa từng ngành kinh tế biển; sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; xây dựng và tổ chức thực hiện một số chương trình trọng điểm góp phần bảo vệ tài nguyên môi trường và phát triển bền vững vùng biển...


MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH KHAI THÁC KHOÁNG SẢN
Ths. Nguyễn Đình Hòa – Viện Kinh tế Việt Nam
Ths. Phạm Quang Tú –  Viện Tư vấn phát triển


    Việt Nam là một đất nước có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, nhưng trong nhiều thập kỷ qua hiện trạng khai thác khoáng sản chưa phát triển đúng với tiềm năng, đúng với vị trí, vai trò của nó trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác còn ở mức độ cao. Ô nhiễm môi trường do khai thác khoáng sản cũng để lại hậu quả rất nặng nề. Thậm chí một số vùng ven biển hiện nay đang bị ô nhiễm do trường phóng xạ từ khai thác sa khoáng titan rất cao, vượt ngưỡng an toàn, gây nguy hại cho sức khỏe người lao động và dân cư vùng lân cận. Trong bối cảnh đó, công tác quản trị tốt thực sự cần cần thiết cho sự phát triển bền vững ngành khai thác khoáng sản. Quản trị tốt nghĩa là cần phải hoàn thiện chính sách thuế tài nguyên, đầu tư công nghệ hiện đại, công tác quản lí vấn đề môi trường và xã hội cần phải được nâng cao, xây dựng những chiến lược và quy hoạch khoáng sản, sớm hoàn thiện các văn bản pháp luật về khoáng sản, thống nhất trong hệ thống quản lí tài nguyên môi trường. Có như vậy ngành khai thác khoáng sản mới có cơ hội phát triển mạnh và bền vững.


    
 

Nguồn bài viết: Tạp chí Địa lý Nhân văn
Admin
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

VIỆN ĐỊA LÝ NHÂN VĂN VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

INSTITUTE OF HUMAN GEOGRAPHY AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT

Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội

Số điện thoại: Hành chính văn thư: 024.36825429      Quản lý khoa học: 024.22423068

Email: ihs.vass.2025@gmail.com