(Chinhphu.vn) - Áp lực từ các tiêu chuẩn ESG, truy xuất carbon hay yêu cầu giảm phát thải từ đối tác quốc tế đang buộc nhiều doanh nghiệp logistics Việt Nam bước vào một cuộc chuyển đổi chưa từng có. Từ thay thế nhiên liệu diesel bằng LNG, đầu tư xe điện, kho xanh đến ứng dụng AI trong quản trị chuỗi cung ứng, logistics xanh đang dần trở thành điều kiện bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn tiếp tục tham gia sân chơi toàn cầu.
Chuyển đổi xanh giờ đã là yêu cầu bắt buộc chứ không còn dừng ở mức khuyến nghị - Ảnh minh họa
Trong bối cảnh đó, logistics không còn đơn thuần là hoạt động hậu cần hay vận chuyển hàng hóa, mà đang trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và rộng hơn là của cả nền kinh tế.
Doanh nghiệp không thể đứng ngoài "cuộc đua xanh"
"Chuyển đổi xanh giờ đã là yêu cầu bắt buộc chứ không còn dừng ở mức khuyến nghị", đó là chia sẻ của ông Trần Ngọc Khánh, Tổng Giám đốc Công ty CP OPL Logistics, khi nói về áp lực chuyển đổi mà doanh nghiệp logistics đang đối mặt.
Công ty của ông Khánh đang thực hiện lộ trình chuyển đổi xanh, tuy nhiên quá trình triển khai thực tế gặp một số rào cản.
Ông Khánh cho biết, điểm nghẽn đầu tiên nằm ở khâu cơ sở hạ tầng và quy hoạch. Mặc dù đã có chiến lược quy hoạch các trung tâm logistics gắn liền với cảng biển, cảng cạn và hệ thống đường sắt liên vận quốc tế nhưng lộ trình và quy hoạch chi tiết để hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký trở thành đơn vị tiên phong vẫn chưa được thể chế hóa cụ thể.
"Do vậy, để tham gia vào các trung tâm logistics, doanh nghiệp rất cần một cơ chế quy hoạch hoàn chỉnh, minh bạch về thông tin cùng các tiêu chí ưu tiên cho doanh nghiệp Việt. Đây chính là động lực quan trọng để các đơn vị trong nước đủ tự tin cạnh tranh với các doanh nghiệp quốc tế đang đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng tại Việt Nam", ông Trần Ngọc Khánh nói.
Vấn đề thứ hai là thách thức về nguồn vốn cho chuyển đổi xanh. Việc tiếp cận nguồn vốn xanh hiện gặp nhiều khó khăn do thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp. Vì thế, doanh nghiệp mong có một bộ quy chuẩn và tiêu chí cụ thể để các doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện có thể dễ dàng tiếp cận nguồn vốn hỗ trợ, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi.
Trong khi đó, yêu cầu về logistics thông minh cũng đang thay đổi rất nhanh. Theo doanh nghiệp, logistics hiện nay không còn dừng ở trao đổi thông tin đơn thuần mà phải tiến tới ứng dụng AI để quản trị chuỗi cung ứng theo thời gian thực.
Muốn làm được điều đó, cần có nền tảng dữ liệu dùng chung và tiêu chuẩn kỹ thuật số thống nhất để các doanh nghiệp kết nối hiệu quả hơn, giảm thủ tục hành chính và giúp các trung tâm logistics vận hành như những "cửa khẩu số".
"3 chữ T" quyết định năng lực cạnh tranh mới
Không chỉ là câu chuyện giảm phát thải, logistics xanh đang trực tiếp tạo ra lợi thế cạnh tranh mới cho doanh nghiệp.
Từ kinh nghiệm đầu tư hạ tầng logistics xanh tại Việt Nam trong nhiều năm qua, bà Nguyễn Lê Hằng, Trưởng bộ phận, Giám đốc Đối ngoại SLP Việt Nam, cho rằng tiêu chuẩn xanh đang giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh thông qua "3 chữ T": Tiết kiệm, Tốc độ và Thích ứng.
Theo bà, trong bối cảnh chi phí logistics tại Việt Nam hiện vẫn ở mức khá cao, chiếm khoảng 13-15% GDP, Chính phủ cũng đang đặt ra mục tiêu giảm chi phí này xuống là yêu cầu cấp thiết để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Chính vì vậy, việc tập trung phát triển và sử dụng hạ tầng logistics xanh, hiện đại kết hợp với công nghệ sẽ giúp tối ưu hóa toàn bộ quá trình vận chuyển và khai thác dữ liệu. "Giải pháp này thậm chí còn giúp doanh nghiệp tối ưu hóa được cả nguồn nhân sự, từ đó tiết kiệm chi phí sâu rộng và tăng năng suất lao động", bà Hằng nói.
Thứ hai, đóng vai trò then chốt trong môi trường kinh doanh hiện đại là "Tốc độ". Theo bà Nguyễn Lê Hằng, trước những biến số toàn cầu không lường trước được như khủng hoảng năng lượng hay các rào cản kỹ thuật thương mại, doanh nghiệp nào sở hữu tốc độ sẽ là đơn vị giành thắng lợi. Những doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ và hạ tầng hiện đại sẽ có khả năng dự báo các biến động thị trường một cách chính xác hơn, từ đó giành ưu thế tuyệt đối trong cuộc đua về thời gian.
Cuối cùng và cũng là yếu tố sống còn hiện nay là sự "Thích ứng", cụ thể là thích ứng với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số.
Việc chuyển đổi này không còn mang tính chất quảng bá hình ảnh đơn thuần mà đã trở thành những yêu cầu thực tế từ các nhà đầu tư lớn khi đến Việt Nam.
Bà Nguyễn Lê Hằng lý giải thêm, hiện các đối tác quốc tế luôn đặt ra những câu hỏi cụ thể về chứng chỉ xanh, việc sử dụng năng lượng tiết kiệm, điện mặt trời mái nhà, cũng như sự minh bạch trong quản lý chất thải và dữ liệu phát thải. Do đó, khi doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn này, họ sẽ dễ dàng tiếp cận được các khách hàng quốc tế lớn, thu hút vốn đầu tư, góp phần quan trọng trong việc khẳng định vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Phát triển logistics xanh bao gồm nhiều hoạt động, như cải tiến các phương tiện vận tải, "xanh hóa" hoạt động kho bãi... - Ảnh minh họa
Hỗ trợ doanh nghiệp logistics theo 3 hướng
Sự thay đổi của thị trường toàn cầu cũng đang đặt ra yêu cầu mới đối với chính sách phát triển logistics của Việt Nam.
TS. Bùi Bá Nghiêm - Chuyên viên cao cấp, Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) cho biết, Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 - 2035, tầm nhìn đến 2050 mở ra một giai đoạn phát triển mới, trong đó logistics không chỉ là ngành dịch vụ hỗ trợ, mà đã trở thành một cấu phần chiến lược của năng lực cạnh tranh quốc gia.
Điểm quan trọng nhất của chiến lược là đặt ra các mục tiêu rất cụ thể: Tốc độ tăng trưởng ngành logistics giai đoạn 2025 - 2035 đạt khoảng 12-15%/năm, chi phí logistics giảm xuống còn tương đương 12-15% GDP, tỷ lệ thuê ngoài dịch vụ logistics đạt 70-80%, tối thiểu 80% doanh nghiệp logistics ứng dụng chuyển đổi số và xây dựng ít nhất 5 trung tâm dịch vụ logistics hiện đại ngang tầm quốc tế.
Với vị trí địa kinh tế nằm trên các tuyến hàng hải, hàng không, hành lang kinh tế khu vực, cùng quy mô xuất nhập khẩu lớn (trên 930 tỷ USD năm 2025) và mạng lưới Hiệp định thương mại tự do (FTA) rộng khắp thế giới, Việt Nam có cơ hội chuyển từ "điểm trung chuyển hàng hóa" thành "điểm tổ chức chuỗi cung ứng".
Nếu triển khai đồng bộ cả về thể chế, hạ tầng giao thông, cảng biển, cảng cạn, trung tâm logistics, logistics xanh, logistics số và cải cách thủ tục hành chính, Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một mắt xích logistics quan trọng của ASEAN, từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới logistics toàn cầu.
Trong bối cảnh xanh hóa và số hóa chuỗi cung ứng toàn cầu đang trở thành yêu cầu bắt buộc, theo TS. Bùi Bá Nghiêm, định hướng hỗ trợ doanh nghiệp logistics Việt Nam cần đi theo 3 hướng lớn.
Thứ nhất, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số thực chất, thông qua thúc đẩy ứng dụng các công nghệ như: IoT, AI, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, blockchain, hệ thống quản lý vận tải, quản lý kho, truy xuất nguồn gốc và nền tảng kết nối dữ liệu.
Thứ hai, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh, tập trung vào vận tải tiết kiệm năng lượng, tối ưu hóa tuyến đường, tăng tỷ lệ vận tải đa phương thức, phát triển kho xanh, bao bì xanh, đo lường phát thải và từng bước đáp ứng các yêu cầu ESG, CBAM, truy xuất carbon trong chuỗi cung ứng quốc tế.
Thứ ba, nâng cao năng lực kết nối quốc tế của doanh nghiệp logistics Việt Nam. Điều này bao gồm hỗ trợ tiêu chuẩn hóa dịch vụ, phát triển nhân lực, thúc đẩy liên kết với hãng tàu, cảng biển, doanh nghiệp FDI, doanh nghiệp xuất khẩu, sàn thương mại điện tử và các mạng lưới logistics khu vực. Thông điệp với doanh nghiệp là: Chuyển đổi số và xanh không chỉ là chi phí tuân thủ, mà là "giấy thông hành" để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu có giá trị cao hơn.
Trung tâm logistics phải trở thành "điểm tổ chức chuỗi cung ứng"
Ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương) - cho rằng, để thúc đẩy logistics xanh, logistics thông minh cũng như tăng cường liên kết vùng, cần đồng thời tháo gỡ ba nhóm điểm nghẽn lớn gồm hạ tầng, thể chế và kết nối chuỗi cung ứng.
Theo ông Tuấn, về hạ tầng, cần chuyển từ tư duy phát triển các công trình logistics riêng lẻ sang xây dựng mạng lưới logistics tích hợp, có tính kết nối cao. Các trung tâm logistics phải được quy hoạch đồng bộ với không gian phát triển công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, cảng biển, cửa khẩu, đường sắt, cao tốc và đô thị.
Đặc biệt, phát triển hạ tầng không chỉ dừng ở "phần cứng" như kho bãi hay giao thông kết nối, mà cần song hành với "hạ tầng mềm" gồm tiêu chuẩn vận hành, nền tảng dữ liệu, hệ thống quản lý kho, quản lý vận tải, truy xuất hàng hóa, thanh toán điện tử và kết nối giữa hải quan, cảng biển với doanh nghiệp.
Về thể chế, Bộ Công Thương đang rà soát, hoàn thiện khung pháp lý cho lĩnh vực logistics nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển mới. Trong đó có việc đánh giá Nghị định 163/2017/NĐ-CP để đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế phù hợp với thực tiễn.
Cùng với đó, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước đang xây dựng Thông tư quy định tiêu chí phân loại, phân hạng trung tâm logistics. Theo ông Tuấn, đây là vấn đề rất quan trọng bởi nếu thể chế không theo kịp thực tiễn, doanh nghiệp sẽ khó đầu tư dài hạn, khó huy động vốn, khó liên kết vùng cũng như triển khai các mô hình logistics mới.
Đối với kết nối chuỗi cung ứng, Bộ Công Thương ưu tiên thúc đẩy cơ chế phối hợp giữa địa phương, hiệp hội và doanh nghiệp nhằm xác định rõ nguồn hàng, luồng hàng cũng như nhu cầu phát triển logistics nông sản, logistics công nghiệp, logistics thương mại điện tử hay logistics xuất nhập khẩu.
"Trung tâm logistics chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có hàng hóa, có doanh nghiệp sử dụng, có dịch vụ giá trị gia tăng và có khả năng kết nối thị trường", ông Tuấn nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, chuyển đổi số sẽ tập trung vào xây dựng cơ sở dữ liệu logistics, thúc đẩy chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp ứng dụng nền tảng số trong quản trị vận tải, kho bãi, đơn hàng và truy xuất nguồn gốc.
Đối với chuyển đổi xanh, ưu tiên đặt ra là tiêu chuẩn hóa kho bãi xanh, sử dụng năng lượng tiết kiệm, điện mặt trời mái nhà, phương tiện ít phát thải, tối ưu tuyến vận tải, tăng tỷ trọng vận tải đa phương thức và từng bước đo lường phát thải trong hoạt động logistics.
Ông Tuấn cũng cho rằng, để nâng hiệu quả liên kết vùng, cần có cơ chế điều phối thực chất hơn giữa các địa phương. "Không nhất thiết mỗi tỉnh phải có một trung tâm logistics lớn. Điều quan trọng là cả vùng hình thành được mạng lưới logistics hiệu quả, trong đó mỗi địa phương đảm nhận vai trò phù hợp với lợi thế của mình".
Anh Thơ