Theo báo cáo của Viện Mekong Thái Lan, trong vòng một thập kỷ, số lượng đập thủy điện trên sông Mekong và các phụ lưu đã tăng từ khoảng 60 lên hơn 150 công trình, làm thay đổi mạnh chế độ thủy văn, giảm lưu lượng mùa khô, khiến lượng phù sa đổ về ĐBSCL sụt giảm tới 90%. Phù sa bị giữ lại không chỉ làm mất đi lớp “phân bón tự nhiên” của vùng hạ lưu, mà còn thúc đẩy xói mòn, sụt lún và giảm khả năng sinh sản của hệ sinh thái.
Tăng trưởng nông nghiệp, đô thị hóa và khai thác khoáng sản mang lại lợi ích kinh tế ngắn hạn, song cũng tạo ra lượng nước thải, kim loại nặng và chất ô nhiễm mới nổi vượt khả năng kiểm soát của các hệ thống xử lý hiện có. Trong khi đó, các mạng lưới quan trắc môi trường vẫn rời rạc, thiếu dữ liệu đồng bộ giữa các quốc gia. Càng phát triển, tiểu vùng Mekong càng phải đối mặt với câu hỏi hóc búa: làm sao để “đánh đổi ít hơn” khi vừa cần điện, vừa cần cá, vừa cần đất, vừa cần nước.
Bên cạnh đó, ô nhiễm nhựa đang trở thành một vấn đề, ước tính riêng sông Mekong đã thải ra biển từ 22.800 đến 59.900 tấn nhựa mỗi năm, đưa các nước ACMECS vào nhóm gây ô nhiễm nhựa qua sông lớn nhất thế giới. Bà nhấn mạnh, rác thải nhựa ở khu vực này có tính “chuỗi cung ứng” khi Thái Lan và Việt Nam là trung tâm nhập khẩu và tái chế, trong khi Campuchia, Lào, Myanmar lại là “điểm trung chuyển” và bãi đổ thải không chính thức. Khi các dòng chảy rác và hàng hóa giao nhau, ranh giới giữa phát triển và ô nhiễm cũng trở nên mong manh.
Tại hội thảo tham vấn "Thúc đẩy giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu các vấn đề môi trường của các quốc gia trong Chiến lược Hợp tác Kinh tế Ayeyawadi - Chao Phraya - MeKong" (ACMECS) được tổ chức ngày 07 tháng 11 năm 2025 tại 6B Láng Hạ, phường Giảng Võ Hà Nội; là một sự kiện quan trọng nhằm tìm kiếm các giải pháp bền vững cho môi trường trong khu vực. Hội thảo này tập trung vào việc giải quyết các thách thức môi trường chung, tăng cường hợp tác quốc tế và thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, bao gồm các lĩnh vực như biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên nước, đa dạng sinh học và ô nhiễm.
Trong khuôn khổ hội thảo, đã trình bày kết quả của Dự án hợp tác giữa Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường với Viện Nghiên cứu MeKong Thái Lan do Chính phủ Nhật Bản tài trợ.

Tại Hội thảo tham vấn đã đưa ra các vấn đề môi trường của các quốc gia trong khu vực ACMECS bao gồm: Vấn đề tài nguyên và môi trường nước; Vấn đề ô nhiễm chất thải nhựa của các nước trong khu vực ACMECS, đồng thời chỉ ra thực trạng và giải pháp phòng ngừa, và giảm thiếu tác động đến tài nguyên/môi trường nước lưu vực sông MeKong và cuối cùng đưa ra giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu các vấn đề môi trường trong khu vực ACMECS. Hội thảo đã đánh giá các kết quả đạt được như sau:
a) Về tài nguyên/môi trường nước
- Các quốc gia đang tiếp tục củng cố khuôn khổ quản lý môi trường nước, bao gồm việc nhấn mạnh hơn nữa tính liên kết giữa môi trường sông và biển, việc triển khai các hệ thống giám sát toàn diện, việc áp dụng các nguyên tắc quản lý tài nguyên nước tổng hợp và mở rộng các thông số giám sát chất lượng nước. Những nỗ lực này rất phù hợp với các mục tiêu phát triển vền vững (SDG) của Liên Hợp Quốc, đặc biệt là Mục tiêu 6.3 tập trung vào việc cải thiện chất lượng nước.
- Nhiều cơ chế hợp tác song phương và đa phương được thiết lập để cùng quản lý các lưu vực sông xuyên biên giới (đặc biệt là sông Mekong và sông Ayeyawady). Các nước đã phối hợp chặt chẽ hơn với Ủy hội sông Mekong (MRC) và Hợp tác Mekong – Lan Thương (MLC), nâng cao khả năng phối hợp dữ liệu, chia sẻ thông tin và đánh giá tác động môi trường.
- Các dự án quốc gia và hợp tác khu vực về quản lý lưu vực sông, xử lý nước thải trên các lưu vực, sử dụng nước tiết kiệm, và phục hồi hệ sinh thái nước ngọt được triển khai với sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế (ADB, UNDP, JICA...).
b) Về chất thải nhựa
Hầu hết các quốc gia đều đã có kế hoạch giảm thiểu chất thải nhựa cũng như chuyển đổi mô hình hướng tới phát triển kinh tế tuần hoàn (Myanmar và Campuchia chưa có mục tiêu định lượng rõ ràng về chất thải nhựa nhưng lồng ghép quản lý, sử dụng chất thải nhựa trong khung quản lý tổng thể chất thải rắn sinh hoạt). Các công cụ chính sách khác đang được sử dụng bao gồm: tăng thuế môi trường đối với túi ni lông và các cơ chế đặt cọc-hoàn trả đối với chai nhựa; cấm sử dụng nhựa sử dụng một lần (SUPs). Thái Lan đã thực hiện lệnh cấm nhập khẩu rác thải nhựa vào năm 2025 nhằm mục đích củng cố thị trường tái chế trong nước và giảm gánh nặng phế liệu nhập khẩu cho các hệ thống địa phương; tại Myanmar thực hiện lệnh cấm túi nhựa cấp thành phố tại các trung tâm đô thị như Yangon và Mandalay, nhưng chưa được nhân rộng trên toàn quốc. Tuy nhiên, kết quả thực hiện dự án cũng đã chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại như:
- Năng lực thực thi chính sách giảm thiểu chất thải nhựa vẫn còn thách thức. Cơ sở hạ tầng, thiết bị, phương tiện thiết yếu phục vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn chưa được chú trọng đầu tư đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu. Công nghệ xử lý rác thải còn lạc hậu. Tại hầu hết các quốc gia, hoạt động thu gom không chính thức chiếm ưu thế, trong khi cơ sở hạ tầng tái chế chính thức vẫn chưa phát triển.
- Tỷ lệ tái chế và thu hồi còn thấp, hoạt động thu gom không chính thức chiếm ưu thế, trong khi cơ sở hạ tầng tái chế chính thức vẫn chưa phát triển (Myanmar rất ít cơ sở tái chế chính thức, tỷ lệ tái chế dưới 10% và ước tính 49% chất thải nhựa không được quản lý đúng cách; Campuchia cơ sở hạ tầng tái chế còn hạn chế; và sự phụ thuộc nặng nề vào lao động không được quản lý; tỷ lệ tái chế 4-7%).
- Các sáng kiến, mô hình giảm thiểu rác thải nhựa đã được triển khai nhưng hiệu quả bị hạn chế, chưa được duy trì thường xuyên; một số mô hình mới mang tính chất thử nghiệm, chưa được nhân rộng (ví dụ tại Myanmar, lệnh cấm túi nhựa ở cấp thành phố tại các trung tâm đô thị như Yangon và Mandalay cho thấy hiệu quả vừa phải, mặc dù chúng chưa được nhân rộng trên toàn quốc).
- Còn chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ ngành; thiếu cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả (ví dụ, trong quản lý nước tại Campuchia có Bộ Môi trường, Bộ Tài nguyên nước và Khí tượng, Bộ Giao thông và công trình công cộng; tại Lào việc quản lý còn phân tán nhiều bộ như Bộ Nông nghiệp môi trường, Bộ Giao thông Vận tải và công trình công cộng và các bộ khác; thiếu sự ràng buộc pháp lý giữa các quốc gia thành viên trong hầu hết các cơ chế hợp tác. Về chất thải nhựa, các quốc gia đều có mục tiêu hướng tới kinh tế tuần hoàn thông qua việc triển khai các chính sách như trách nhiệm của nhà sản xuất (EPR), phân loại rác tại nguồn, hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần, tăng tỷ lệ tái chế. Ví dụ như ở Lào, Bộ Nông nghiệp môi trường đã có hướng dẫn chung về các chính sách môi trường và chất thải, Bộ Giao thông vận tải và công trình công cộng (MPWT) giám sát việc thu gom rác thải đô thị và cơ sở hạ tầng. Bộ Công thương (MoIC) tham gia vào việc quản lý bao bì và tìm hiểu EPR.
Từ đó Dự án cũng đưa ra các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu các vấn đề ô nhiễm môi trường của các quốc gia trong khu vực ACMECS, cụ thể như:
- Tăng cường quản trị và thực thi tích hợp các chính sách và vai trò quản lý của các cơ quan chức năng: đảm bảo sự nhất quán về chính sách và tăng cường thực thi các quy định về môi trường thông qua việc thể chế hóa các tổ chức liên ngành, liên bộ về quản lý tài nguyên, môi trường nước; Nâng cao thẩm quyền của Bộ chuyên quản của các quốc gia (Bộ Tài nguyên và Môi trường nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường…), mở rộng năng lực kỹ thuật và tài chính ở cấp lưu vực, cải thiện sự phối hợp liên ngành và xuyên biên giới.
- Tăng cường hợp tác trong khu vực ACMECS trong quản lý và sử dụng tài nguyên nước: Tăng cường thực thi các thoả thuận, hiệp định của khu vực và quốc tế. Các quốc gia trong khu vực ACMECS cần phối hợp chặt chẽ với nhau để tuân thủ và thực hiện hiệu quả Hiệp định MeKong 1995 và bộ Quy chế, thủ tục sử dụng nước, các hướng dẫn kỹ thuật của Ủy hội.
- Lồng ghép vấn đề môi trường nước vào các vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh – quốc phòng: coi an ninh nguồn nước là một phần của an ninh phi truyền thống, các nước ACMECS có thể hợp tác xây dựng các cơ chế cảnh báo sớm về ô nhiễm và các tình huống khẩn cấp; Cần lồng ghép các quy định về bảo vệ môi trường nước vào các thỏa thuận đầu tư xuyên biên giới, đặc biệt trong các ngành có nguy cơ cao gây ô nhiễm; Tạo ra các diễn đàn cấp cao để đối thoại chính sách về bảo vệ môi trường nước và đưa vấn đề nước vào nội dung hợp tác song phương và đa phương trong khuôn khổ ACMECS, ASEAN và MRC...
- Đầu tư và thiết lập mạng lưới quan trắc môi trường, áp dụng các công nghệ tiên tiến để theo dõi, kiểm soát nguồn nước liên quốc gia.
- Tăng cường kiểm soát rác thải nhựa: hoàn thiện thể chế và thực thi chính sách liên quan đến rác thải nhựa; chuyển đổi sang kinh tế tuần hoàn nhựa; hợp tác và chia sẻ, nâng cao nhận thức cộng đồng trong sử dụng các sản phẩm nhựa.
(Tác giả: TS. Nguyễn Thị Bích Nguyệt - Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững)