ThS. Nguyễn Thị Thu Hà
Viện Địa lí nhân văn
1. Đặt vấn đề
Các hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên của con người, về bản chất chính là khai thác các dịch vụ hệ sinh thái (DVHST) của thiên nhiên. Dịch vụ hệ sinh thái được định nghĩa là những lợi ích mà con người thu nhận được từ những đóng góp của cấu trúc và chức năng hệ sinh thái, kết hợp với các thành tố khác từ các hoạt động con người [1]. Các dịch vụ hệ sinh thái tự nhiên trên Trái đất đã mang lại sự thịnh vượng của con người, vì vậy, trong chiến lược phát triển bền vững của nhiều quốc gia đã coi tiếp cận dựa trên hệ sinh thái là cách thức quan trọng đạt được mục tiêu phát triển bền vững nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội (Shepherd, 2004) [4].
Trong bốn loại dịch vụ hệ sinh thái (dịch vụ cung cấp, dịch vụ hỗ trợ, dịch vụ điều tiết, dịch vụ văn hoá), dịch vụ cung cấp chủ yếu là những giá trị sử dụng trực tiếp thể hiện vai trò của các hệ sinh thái đối với đời sống con người. Dịch vụ cung cấp bao gồm các vật liệu sơ cấp có thể được thu hoạch hoặc thu thập từ các vùng đất ngập nước và năng lượng lấy từ các hệ sinh thái, có thể kể đến như: nước ngọt, thực phẩm, nhiên liệu, sợi, nguyên liệu di truyền, các loại thuốc, tài nguyên trang trí, đất sét, cát hoặc sỏi, muối, năng lượng…[13].
Các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước ven biển huyện Kim Sơn đã đóng vai trò quan trọng vào việc tạo sinh kế, nâng cao đời sống nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Bài viết nhằm nhận diện và phân tích tiềm năng dịch vụ cung cấp của các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình.
2. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
1.1. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp từ chính quyền địa phương và phương pháp điều tra bằng bảng hỏi bán cấu trúc trên 60 hộ nông dân sống tại khu vực bãi ngang ven biển huyện Kim Sơn với phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Việc điều tra khảo sát tiến hành vào tháng 11/2022, các thông tin được thu thập tập trung vào các vấn đề liên quan đến vai trò của các vùng đất ngập nước, các hoạt động sinh kế liên quan đến các vùng đất ngập nước và các ảnh hưởng từ các hoạt động này đến các dịch vụ hệ sinh thái của đất ngập nước.
2.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian
Vùng ven biển huyện Kim Sơn: Gồm thị trấn Bình Minh, các xã nằm trong đê Bình Minh 1 đến đê Bình Minh 2 (Gồm: xã Kim Đông, Kim Trung, Kim Hải, diện tích đất đơn vị 1080 – Quân đoàn I và đơn vị 279 – Bộ Tư lệnh Công binh) và diện tích đất từ đê Bình Minh 2 đến đảo Cồn Nổi huyện Kim Sơn với tổng diện tích tự nhiên 9.945,74 ha [9].
Trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, vùng ven biển huyện Kim Sơn được giới hạn bởi các xã nằm trong đê Bình Minh 1 đến đảo Cồn Nổi do các hệ sinh thái đất ngập nước nuôi trồng thuỷ sản tập trung ở khu vực này (thị trấn Bình Minh không nuôi trồng thuỷ sản).
Trong giới hạn nghiên cứu, bài viết chỉ đề cập đến các loại dịch vụ có mức độ đóng góp đáng kể, tích cực gồm có thực phẩm (từ thuỷ sản khai thác và thuỷ sản nuôi trồng), và dược liệu (mật ong) là đặc trưng của vùng ven biển huyện Kim Sơn.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Khái quát về đặc điểm vùng ven biển huyện Kim Sơn
Vùng ven biển, bãi bồi và cồn nổi tỉnh Ninh Bình nằm kẹp giữa hai con sông Đáy và sông Càn, trải dài trên một đoạn bờ biển không lớn (18,34 km) [9], nhưng phân bố nhiều hệ sinh thái ở ven biển, ven sông. Các hệ sinh thái đất ngập nước ở khu vực này chủ yếu là hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái nuôi trồng thuỷ hải sản. Với tính đa dạng sinh học cao nên vùng này đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.

Hình 1. Sơ đồ khu vực ven biển huyện Kim Sơn
Kinh tế biển là ngành kinh tế chủ đạo của khu vực ven biển Kim Sơn, các lĩnh vực phát triển mạnh như: nuôi tôm sú, cua xanh. Cơ cấu kinh tế nuôi trồng thuỷ sản năm 2021 tại xã Kim Hải chiếm 48,2%, tại xã Kim Đông chiếm 54,1%, tại Kim Trung nông – lâm – thuỷ sản chiếm 49,17% [10,11,12].
Rừng ngập mặn Kim Sơn được Chính phủ Việt Nam, Nhật Bản và Ban quản lý rừng phòng hộ tỉnh Ninh Bình trồng từ năm 1995 với các loại cây sú, vẹt, bần. Huyện Kim Sơn được Tổ chức BirdLife đánh giá là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng ở vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ, tập trung nhiều kiểu đất ngập nước còn khá nguyên trạng đặc trưng cho vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ, là nơi tập trung chim nước với số lượng gần 28.000 cá thể.
Theo kết quả kiểm kê hiện trạng năm 2022, đất trồng rừng là 1.588,9 ha, trong đó diện tích đã có rừng là 633,25 ha, diện tích đất trống là 955.65 ha [3]. Diện tích rừng được phân bố tại khu vực bãi bồi ven biển của huyện, kết hợp với hệ thống đê biển đã và đang được xây dựng giúp bảo vệ toàn bộ vùng sản xuất trong đê của huyện Kim Sơn.
3.2. Tiêu chí xác định mức độ đóng góp từ dịch vụ cung cấp của các hệ sinh thái đất ngập nước
Theo phương pháp đánh giá nhanh dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước Rawes (RRC-EA,2020, [13]) kết hợp với khảo sát thực tế tại vùng nghiên cứu, tác giả đề xuất tiêu chí xác định mức độ đóng góp của các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước (Bảng 1) như sau :
Bảng 1. Tiêu chí xác định mức độ đóng góp của các dịch vụ cung cấp
|
Mức độ đóng góp
|
Ký hiệu
|
Mô tả
|
|
Mức độ đóng góp tích cực đáng kể
|
+++
|
>1000 người được hưởng lợi từ dịch vụ đó
|
|
Mức độ đóng góp tích cực
|
++
|
10-1000 người được hưởng lợi từ dịch vụ đó
|
|
Mức độ đóng góp không đáng kể
|
+
|
<10 người được hưởng lợi từ dịch vụ đó
|
|
Không có đóng góp
|
0
|
Không có ai được hưởng lợi từ dịch vụ đó
|
|
Mức độ đóng góp chưa xác định
|
?
|
Chưa có đầy đủ dữ kiện về loại dịch vụ đó
|
Kết quả đánh giá mức độ đóng góp của các loại dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Kim Sơn được đánh giá thể hiện tại Biểu đồ 1 và Bảng 2.

Biểu đồ 1. Đánh giá của người dân về mức độ đóng góp các dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển huyện Kim Sơn
Tổng hợp kết quả thu được theo đánh giá của người dân về mức độ đóng góp của các dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển huyện Kim Sơn thì các dịch vụ được đóng góp tích cực đáng kể gồm có: cung cấp nước mặn, lợ phục vụ nuôi trồng thủy hải sản và cung cấp thực phẩm từ rừng ngập mặn; các dịch vụ được đánh giá có mức độ đóng góp tích cực là các loại thuốc (mật ong hoa vẹt được người dân dùng như một vị thuốc chữa các bệnh đường hô hấp và đường tiêu hoá); các loại dịch vụ cung cấp không đáng kể là nước ngọt, cói; các dịch vụ không có đóng góp gì: nhiên liệu, tài nguyên trang trí, đất sét, cát hoặc sỏi, muối, năng lượng; dịch vụ cung cấp chưa có đầy đủ dữ kiện là nguyên liệu di truyền.
Bảng 2. Đánh giá của người dân về mức độ đóng góp
các dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển
huyện Kim Sơn
|
Dịch vụ cung cấp
|
Mức độ đánh giá
|
Mô tả
|
|
Nước ngọt
|
+
|
Các hệ sinh thái cửa sông Càn và sông Đáy cung cấp nước phục vụ trồng trọt
|
|
Nước mặn, lợ
|
+++
|
Cung cấp nước phục vụ nuôi trồng thủy hải sản
|
|
Thực phẩm
|
+++
|
Các loại tôm, cua, cá, ngao,…
|
|
Nhiên liệu
|
0
|
Củi, gỗ
|
|
Sợi
|
+
|
Cói
|
|
Nguyên liệu di truyền
|
?
|
Các nguồn gen thực vật, động vật
|
|
Các loại thuốc
|
++
|
Mật ong
|
|
Tài nguyên trang trí
|
0
|
Các loại có thể được dùng để trang trí (cây cảnh)
|
|
Đất sét
|
0
|
Khai thác đất sét
|
|
Cát hoặc sỏi
|
0
|
Khai thác cát hoặc sỏi
|
|
Muối
|
0
|
Làm muối
|
|
Năng lượng
|
0
|
Các loại năng lượng được khai thác như thuỷ điện, năng lượng sóng…
|
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả điều tra, 2022
Từ bảng 2 cho thấy, các nhóm dịch vụ cung cấp chủ yếu của các hệ sinh thái đất ngập nước ven biển Kim Sơn là: nước ngọt, thực phẩm, dược liệu (mật ong). Các loại dịch vụ cung cấp không được khai thác là tài nguyên trang trí, đất sét, cát hoặc sỏi, muối, năng lượng. Mặc dù ở đây có rừng nhưng người dân không được phép khai thác dịch vụ này để thực hiện các quy định về bảo vệ rừng ngập mặn.
3.3. Nhận diện mức độ đóng góp các dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển huyện Kim Sơn
3.3.1. Cung cấp thuỷ sản khai thác
Vùng bãi bồi ven biển Kim Sơn nằm kẹp giữa hai cửa sông Đáy và sông Càn, hàng năm có lượng phù sa bồi đắp và lấn ra vào loại lớn nhất trong các tỉnh ven biển (khoảng 80 m/năm) tạo nên vùng biển cạn có nhiều loại hải sản giá trị kinh tế cao.
Các loài sinh vật có ý nghĩa kinh tế tại rừng ngập mặn Kim Sơn gồm có cá bống, cá bớp, cá hánh, cá nhộng, cáy gió, còng, cua biển, tôm rảo, tôm sú, ngao, dắt, don, rong câu, cua rèm… dùng làm thức ăn và các loài chim nước mang giá trị đa dạng sinh học.
Nguồn thức ăn phong phú cung cấp cho các loài thuỷ sản chính là xác hữu cơ thực vật dạng hạt, đó là sản phẩm của quá trình phân huỷ xác thực vật, bao gồm: lá, cành, chồi, rễ, hoa, quả… của các cây ngập mặn. Cành, lá, hoa, quả rơi xuống được nhiều loài, trong đó cua đóng vai trò quan trọng trong việc phân huỷ lá bằng cách cắn xé lá thành các mảnh vụn để cho lá phân huỷ nhanh hơn dưới tác dụng của nấm và vi khuẩn.
Rừng ngập mặn ven biển Kim Sơn đã thu hút một lượng lớn người dân các xã ven biển đến khai thác thuỷ hải sản tự nhiên và đào đầm thuê kiếm sống với các hình thức khác nhau như bắt bằng tay cua, cáy, còng, ngao, cắm đăng để bắt các loại tôm cá nhỏ. Tuy nhiên hình thức khai thác tận diệt này là nguy cơ đe dọa đến sự phát triển và sinh trưởng của những khu vực rừng mới trồng.
Hiện nay tại địa phương chưa có thống kê và điều tra để xác định sản lượng thuỷ sản khai thác từ rừng ngập mặn. Theo khảo sát thực tế tại rừng ngập mặn, hằng năm có khoảng 100 người thường xuyên khai thác thủy sản tại đây. Các loại hải sản được khai thác chủ yếu là cua rèm, ốc, cáy, cá hánh, ngao, dắt. Theo Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Đình Đáp (2021), giá trị thủy sản khai thác một năm tại rừng ngập mặn án phận xã Kim Hải khoảng 6.300.000.000 đồng [5].
3.3.2. Cung cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản
Dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển huyện Kim Sơn còn thể hiện ở kinh tế nuôi trồng thuỷ sản. Nuôi trồng thuỷ sản là thế mạnh và cũng là một ngành kinh tế quan trọng của huyện Kim Sơn nói chung và vùng bãi bồi nói riêng.
Diện tích nuôi thuỷ sản mặn, lợ huyện Kim Sơn năm 2021 là 3349,4 ha, sản lượng thuỷ sản mặn, lợ đạt 20.259 tấn.
Quá trình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản được tiến hành từ những năm 1980 trước khi bắt đầu xây dựng đê BM2. Từ năm 1996 đến năm 2005, 2006 do lợi nhuận từ việc nuôi trồng thuỷ sản mang lại khá lớn nên công tác nuôi trồng thuỷ sản ngày càng được đẩy mạnh (Hình 3).

Hình 3. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản mặn, lợ huyện Kim Sơn
giai đoạn 2000 - 2021 (đơn vị tính: ha)
Nguồn: [2,7]
Trong giai đoạn 2000-2021 diện tích nuôi trồng thuỷ sản mặn, lợ huyện Kim Sơn có xu hướng tăng lên, tốc độ tăng trung bình đạt 16,6%/năm, tăng mạnh nhất là giai đoạn 2000-2005, tốc độ tăng trung bình là 33,8%/năm.

Hình 4. Sản lượng thuỷ sản mặn, lợ huyện Kim Sơn
giai đoạn 2000 - 2021 (đơn vị tính: tấn)
Nguồn: [2;7]
Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng huyện Kim Sơn tăng lên trong giai đoạn 2000-2021, tốc độ tăng trung bình đạt 43,5%/năm, tốc độ tăng sản lượng cao hơn tốc độ tăng diện tích nuôi trồng do có sự đầu tư mạnh mẽ về khoa học công nghệ. tăng mạnh nhất là giai đoạn 2010-2015 với tốc độ tăng trung bình đạt 37,1%/năm. Năm 2021 sản lượng thuỷ sản mặn lợ đạt 24.572 tấn, trong đó, nuôi ngao đạt 19.172 tấn, tôm sú đạt 490 tấn, tôm rảo 90 tấn, cua xanh 400 tấn, tôm thẻ chân trắng 1350 tấn, rong câu 580 tấn, thuỷ sản khác 190 tấn.

Hình 5. Giá trị nuôi trồng thuỷ sản trên 1 ha huyện Kim Sơn
giai đoạn 2000 - 2020 (đơn vị tính: triệu đồng)
Nguồn: [2]
Nhờ có sự đầu tư về kỹ thuật, công nghệ trong nuôi trồng thuỷ sản mà giá trị nuôi trồng trên 1 ha nuôi trồng thuỷ sản huyện Kim Sơn tăng lên rõ rệt. Trong giai đoạn 2000-2020 giá trị trên 1 ha nuôi trồng thuỷ sản tăng lên trung bình 109,3%/năm.
Qua khảo sát thực tế cho thấy, hiện nay nuôi công nghiệp tại khu vực ven biển huyện Kim Sơn tiềm ẩn nhiều nguy cơ thiếu bền vững khi người dân sử dụng khá nhiều các chất hoá học để khử trùng nước nuôi cũng như diệt nấm, diệt bệnh. Các loại hoá chất có thể kể đến như đồng sunfat (CuSO4), thuốc tím (KMnO4) ... Bên cạnh đó, chất thải trong nuôi trồng thủy sản sau khi xử lý hoá chất đã xả thẳng ra cống trong khi các cống lấy nước và xả nước tại khu vực này được sử dụng chung mục đích, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường là rất lớn.
3.3.3. Cung cấp dược liệu (mật ong)
Theo kết quả kiểm kê hiện trạng năm 2022, diện tích rừng ngặp mặn Kim Sơn hiện nay là 633,25 ha [3]. Vào mùa hoa vẹt nở, các hộ dân đã tận dụng để nuôi ong và lấy mật hoa vẹt. Mật ong thường được thu hoạch từ tháng 5 đến tháng 7 dương lịch hàng năm.
Hoa vẹt nở tự nhiên, không bị ảnh hưởng bởi các loại hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật nên ngoài đặc điểm sạch sẽ, mật ong hoa vẹt không chỉ có tác dụng tốt cho sức khỏe mà còn được dùng làm thuốc chữa nhiều loại bệnh, đặc biệt hỗ trợ tốt trong việc chữa trị các bệnh liên quan đến dạ dày và đại tràng nên được thị trường rất ưa chuộng và có giá trị kinh tế cao.
Theo kết quả phỏng vấn điều tra của nhóm nghiên cứu, tại Kim Sơn hiện nay có 30 hộ nuôi ong tập trung chủ yếu ở Đê Bình Minh 3, thuộc xã Kim Trung, số lượng đàn ong tổng cộng khoảng 1000 đàn ong. Sản lượng trung bình mỗi thùng ong quay là 3-7 lít mật ong, giá bán 100k/lít, 70k/kg. Theo kết quả phỏng vấn sâu cán bộ và người dân nuôi ong tại đây, việc nuôi ong lấy mật không ảnh hưởng gì đến rừng ngập mặn cũng như môi trường xung quanh và nghề nuôi ong cũng là một loại hình sinh kế mang lại hiệu quả cao cho người dân. Doanh thu từ sinh kế của các hộ nuôi ong tại khu vực đê ven rừng ngập mặn Kim Sơn trung bình mỗi năm khoảng 500.000.000 đồng.
4. Kết luận
Các dịch vụ hệ sinh thái đất ngập nước có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực ven biển huyện Kim Sơn. Tiềm năng khai thác dịch vụ cung cấp của hệ sinh thái đất ngập nước ven biển huyện Kim Sơn biểu hiện ở việc cung cấp các loại thủy sản từ rừng ngập mặn, cung cấp nguồn nước mặn, lợ phục vụ nuôi trồng thủy sản, cung cấp dịch vụ nuôi ong lấy mật. Hiện nay việc khai thác và nuôi trồng thuỷ sản đem lại thu nhập cho người dân, tuy nhiên cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất gây ra không ít những rủi ro về mặt môi trường và ảnh hưởng đến các hệ sinh thái ở khu vực này. Ngoài ra việc khai thác thuỷ sản trong rừng ngập mặn là nguy cơ đối với các cánh rừng mới trồng.
Để khắc phục những nhược điểm trong khai thác và nuôi trồng thuỷ sản gây ra cần có sự quyết tâm, vào cuộc của cả chính quyền địa phương và nhân dân, kết hợp với các biện pháp toàn diện về kỹ thuật và giải pháp công trình nhằm đạt được mục tiêu phát triển bền vững. Cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền giúp người dân hiểu về giá trị, tầm quan trọng của rừng ngập mặn và những dịch vụ cung cấp mà nó mang lại, từ đó có ý thức bảo vệ giữ gìn tài nguyên thiên nhiên. Đồng thời cần có những quy định cụ thể về khai thác trong khu vực rừng mới trồng để bảo vệ cây non trước tác động của việc khai thác thuỷ sản.
Tài liệu tham khảo
1. Burkhard, B., Kandziora, M., Hou, Y., Muller, F., (2014), Ecosystem service potentials, Flows and Demands – Concepts for spatial Localisation, Indication and Quantification. Landsc. Online 32, 1-32.
2. Cục Thống kê Ninh Bình (2021), Niên giám thống kê huyện Kim Sơn, 2020.
3. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Kim Sơn (2022), Báo cáo Kết quả thực hiện dự án trồng mới, bảo vệ và phát triển rừng.
4. Shepherd, G. (2004), The Ecosystem Approach: Five Steps to Implementation. Gland, Switzerland and Cambridge, UK: IUCN – The World Conservation Union.
5. Nguyễn Thị Thu Hà, Nguyễn Đình Đáp (2021), Báo cáo tổng hợp đề tài “Lượng giá một số giá trị kinh tế của rừng ngập mặn xã Kim Hải, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình”, đề tài cơ sở Viện Địa lí nhân văn, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam.
6. Uỷ ban nhân dân huyện Kim Sơn (2021), Báo cáo Tình hình Kết quả công tác quản lý nhà nước khu vực bãi bồi ven biển từ đê Bình Minh 2 đến Cồn Nổi và diện tích đất đơn vị 1080 bàn giao cho huyện.
7. Uỷ ban nhân dân huyện Kim Sơn (2022), Báo cáo hiện trạng nuôi trồng thủy sản huyện Kim Sơn năm 2010, 2015, 2021.
8. Uỷ ban nhân dân huyện Kim Sơn (2021), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2022.
9. Uỷ ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2021), Báo cáo tổng kết dự án “Lập Chương trình quản lý tổng hợp tài nguyên vùng bờ và thiết lập hành lang bảo vệ bờ biển Ninh Bình”.
10. UBND xã Kim Hải (2021), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện năm 2022.
11. UBND xã Kim Trung (2022), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu thực hiện năm 2022.
12. UBND xã Kim Đông (2022), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2022.
13. RAWES-Practitioners-Guide-Viet-Nam.pdf (rrcea.org)