TS. Trần Thị Tuyết
Viện Địa lí nhân văn
Phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) ở tỉnh Ninh Thuận được xem là giải pháp tạo đột phá trên cơ sở tận dụng tối đa giá trị tài nguyên hướng đến mục tiêu phát triển nền kinh tế xanh, tạo động lực cho phát triển lãnh thổ; cùng với đó là sự gia tăng các cơ hội việc làm, chuyển đổi việc làm của dân cư Ninh Thuận. Nghiên cứu này, tập trung làm rõ một số vấn đề về phát triển NLTT, cơ hội việc làm gắn với NLTT trên cơ sở tư liệu tổng hợp từ điều tra xã hội học và các cơ quan quản lý Nhà nước; theo đó, để nâng cao khả năng tiếp cận cơ hội việc làm, chuyển đổi nghề đòi hỏi Ninh Thuận phải có các chính sách phát triển mang tính tổng thể, đa dạng các loại hình phát triển công nghiệp theo chuỗi giá trị sản phẩm, kết hợp với phát triển nguồn nhân lực có tính chủ động, phù hợp với năng lực địa phương.
Từ khóa: Năng lượng tái tạo, việc làm, năng lượng, Ninh Thuận
1. Mở đầu
Năng lượng tái tạo (NLTT) là năng lượng được phát sinh từ quá trình tự nhiên và tự tái tạo liên tục; được xem là một trong những giải pháp nhằm giảm phát thải khí nhà kính để hướng tới nền kinh tế trung hòa các-bon trong dài hạn thông qua hạn chế sự gia tăng của năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch.
Ninh Thuận có nhiều lợi thế tự nhiên về phát triển NLTT với nguồn năng lượng gió và năng lượng mặt trời lớn nhất cả nước; trở thành một nguồn lực quan trọng, giải pháp tạo đột phá trong định hướng phát triển trên cơ sở khai thác hiệu quả, phát huy tối ưu các giá trị tài nguyên tạo động lực cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, hiện thực hóa mục tiêu đạt 15 - 20% trong tổng nguồn cung vào năm 2030 và 25 - 30% vào năm 2045; góp phần giảm nhẹ phát thải khí nhà kính khoảng 45% vào năm 2050 trong ngành năng lượng [1, 8].
Cùng với quá trình thực hiện các cơ chế, chính sách thu hút đầu tư vào phát triển NLTT đã mở ra cơ hội cho các ngành khác cùng phát triển; trong đó, có cơ hội việc làm, chuyển đổi việc làm gắn liền với hiệu quả chính sách ở các trình độ khác nhau. Tuy nhiên, đây là một ngành mới, phát triển chủ yếu dựa vào tiềm năng tự nhiên, các nguồn lực khác chưa đáp ứng đồng bộ nên đã kéo theo nhiều bất cập, như vấn đề định hướng hiệu quả về việc làm, đảm bảo tính chủ động của ngành vẫn chưa được quan tâm đúng mức; người dân địa phương khu vực phát triển dự án chưa tận dụng tốt các cơ hội liên quan đến việc làm do ngành NLTT mang lại.
Góp phần luận giải về vấn đề nêu trên, bài viết tập trung nghiên cứu một số nội dung về phát triển NLTT, việc làm gắn với NLTT; từ đó gợi mở một số giải pháp thúc đẩy việc làm gắn với phát triển NLTT ở tỉnh Ninh Thuận trên cơ sở kết quả tổng hợp, phân tích và điều tra xã hội học vào tháng 12/2021 với 02 đối tượng: (i) Phỏng vấn thảo luận đối với cơ quan quản lý các cấp, cấp tỉnh thực hiện tại Sở Công thương, Sở Tài nguyên và Môi trường; cấp xã thực hiện tại UBND xã Bắc Phong và xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc nhằm thu thập các dữ liệu chung về chính sách, tiến trình và kết quả thực hiện chính sách phát triển NLTT; (ii) Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi với 200 hộ dân được lựa chọn ngẫu nhiên tại 2 xã Bắc Phong và xã Lợi Hải, huyện Thuận Bắc.
2. Phát triển năng lượng tái tạo ở tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận là một tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, được đánh giá là nơi giàu tài nguyên nhất về gió và nắng nóng [15]. Trên cơ sở vận dụng hiệu quả các chiến lược, định hướng phát triển năng lượng quốc gia và ưu thế tài nguyên tự nhiên, đặc biệt sau khi Chính phủ chấp thuận chủ trương phát triển tỉnh Ninh Thuận thành trung tâm NLTT của cả nước; được hưởng chính sách giá điện theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg ngày 11/4/2017 của Thủ tướng Chính phủ đến hết năm 2020 đối với các dự án điện năng lượng mặt trời và cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ tỉnh phát triển kinh tế xã hội theo Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 31/8/2018 [2, 9], Ninh Thuận đã chủ động triển khai xây dựng, ban hành chính sách có tính đột phá để tận dụng các cơ hội phát triển, biến những bất lợi, khó khăn thành lợi thế cạnh tranh; phát triển công nghiệp năng lượng là trọng tâm, động lực cho sự phát triển, từng bước hình thành trung tâm năng lượng sạch, NLTT của cả nước [6, 10].
Kết quả năm 2021, toàn tỉnh đã có 47 dự án NLTT đi vào vận hành với tổng công suất 3.124,4 MW, gồm: 12 dự án điện gió, chiếm gần 21,4% tổng công suất và 35 dự án điện mặt trời, chiếm 78,6% tổng công suất; tổng số vốn đầu tư 91.430,9 tỷ đồng (71,9% đầu tư cho điện mặt trời). Dự kiến trong năm 2022 có thêm 17 dự án với 1.169 MW hòa vào lưới điện quốc gia; trong đó có 11 dự án điện gió và 6 dự án điện mặt trời [5,7]. Đồng thời, tỉnh đã chủ động tháo gỡ “điểm nghẽn” về giải tỏa công suất các dự án NLTT trên cơ sở huy động các nguồn vốn từ ngân sách và thành phần kinh tế tư nhân để cải thiện hạ tầng truyền tải điện đồng bộ, tích hợp các dự án điện gió, điện mặt trời vào hệ thống điện quốc gia theo Nghị quyết 115, đến cuối năm 2020 đã cơ bản khắc phục tình trạng giảm phát các dự án NLTT trên địa bàn tỉnh [11].
Bảng 1. Tổng quan về phát triển năng lượng mặt trời theo ranh giới huyện

Nguồn: Sở TNMT Ninh Thuận (2021). Báo cáo thực hiện văn bản số 6656/BTNMT – TTr ngày 02/11/2021 của Bộ TNMT.
Các dự án điện NLTT trở thành nguồn phát điện quan trọng, bổ sung kịp thời cho nhu cầu phụ tải của địa phương và hòa vào hệ thống điện lưới quốc gia, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng, giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính, đặc biệt, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Theo tính toán, thị phần đóng góp của các dự án NLTT chiếm khoảng 1/3 tổng thu ngân sách tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2021-2025, trong đó năm 2022 được dự báo có mức đóng góp lớn nhất gần 40%, chủ yếu từ các dự án điện gió và điện mặt trời khoảng 86,6%. Các nhà máy điện có đóng góp lớn, chiếm gần 40% tổng thu, gồm: nhà máy điện mặt trời BIM (14%), nhà máy điện gió và mặt trời Trung Nam (16,9%) và nhà máy điện mặt trời Xuân Thiện (8,5%); Trung bình mỗi MW điện NLTT sẽ tạo ra khoảng 0,2 tỷ đồng cho ngân sách địa phương. Nguồn thu từ NLTT sẽ là nguồn lực đầu tư được tăng cường cho các dự án phát triển, đảm bảo an sinh xã hội.

Hình 1. Dự báo tỷ lệ đóng góp của các dự án năng lượng trong tổng
ngân sách của tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2021-2025
Nguồn: Cục thuế tỉnh Ninh Thuận, 2021
Mặc dù, phát triển NLTT đã đạt nhiều kết quả quan trọng, trở thành động lực giúp tỉnh hướng tới mục tiêu phát triển nền kinh tế xanh, nguồn lực hỗ trợ ổn định sản xuất và đời sống nhân dân; tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức ảnh hưởng đến tiến trình đưa lợi thế về NLTT trở thành nguồn lực phát triển bền vững cho địa phương. Cụ thể:
Cơ chế, chính sách phát triển NLTT chưa gắn liền với các chính sách khác, như: chính sách đất đai, chính sách giá điện, cơ sở hạ tầng kết nối với mạng lưới điện quốc gia,… kết hợp với tính phụ thuộc của giá điện vào cơ chế hỗ trợ của Nhà nước, đến nay đã hết hiệu lực nhưng chưa có các quy định cho các dự án vận hành tiếp theo; do đó, hạn chế tính hiệu quả của mục tiêu phát triển NLTT.
Chính sách phát triển NLTT chưa gắn liền với các chính sách có liên quan nên chưa thu hút đầu tư đồng bộ, chưa có giải pháp lâu dài đảm bảo hiệu quả cho các nhà đầu tư, nhất là kinh tế tư nhân tham gia vào thị trường NLTT, như: Nghị quyết 55 nhấn mạnh huy động thành phần kinh tế tư nhân được tham gia vào đầu tư hệ thống lưới điện, nhưng mâu thuẫn với Luật Điện lực, 2004 quy định “… Nhà nước độc quyền trong hoạt động truyền tải,…” (Khoản 2, Điều 4). Quá trình giải phóng mặt bằng khó khăn trong xác định nguồn gốc, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, nhất là quy trình, thủ tục chuyển đổi đất rừng khá phức tạp, thời gian kéo dài ảnh hưởng đến tiến độ triển khai dự án. Công tác quy hoạch, dự báo thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với thực tế ảnh hưởng tới tính hiệu quả của đầu tư; thể hiện khá rõ trong thực tế phát triển nguồn với phát triển lưới điện và năng lực nguồn nhân lực.
Cơ sở hạ tầng lưới điện còn hạn chế, không theo kịp với tiến độ phát triển của công suất phát điện. Ninh Thuận và Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong giải tỏa công suất phát 2.000 MW vào cuối năm 2020 nhưng đây chỉ là giải pháp tình thế. Vấn đề đặt ra cho các công suất phát điện tiếp theo bởi các dự án điện NLTT có thời gian xây dựng nhanh, trung bình 8 -12 tháng; trong khi đầu tư hệ thống hạ tầng truyền tải điện phải mất khoảng 36 tháng đối với đường dây, trạm 110 kV; 60 tháng đối với đường dây và trạm 500 kV. Với việc triển khai đóng điện còn hạn chế sẽ dẫn đến nghẽn lưới, giảm hiệu quả đầu tư như đã xảy ra trong các năm 2019-2020.
Nguồn nhân lực còn khá hạn chế, chất lượng nguồn nhân lực chưa theo kịp với yêu cầu phát triển ngành; công tác đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu, địa bàn tỉnh chỉ có Trường Cao đẳng nghề Ninh Thuận là cơ sở đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ, kinh tế và dịch vụ với chỉ tiêu đào tạo chuyên môn liên quan đến NLTT là 765 chỉ tiêu/năm, trong khi nhu cầu cần gần 40 nghìn lao động [15].
3.2. Việc làm gắn với năng lượng tái tạo ở tỉnh Ninh Thuận
Đặc điểm việc làm ở các địa điểm phát triển năng lượng tái tạo
Dự án NLTT được phát triển tại 6 huyện của tỉnh Ninh Thuận, chủ yếu trên diện tích đất nông nghiệp với hạn mức đảm bảo theo đúng quy định. Cụ thể: Đối với các dự án điện gió diện tích chiếm đất vĩnh viễn thấp dưới 5% so với diện tích đất khảo sát (trung bình 3,3%); dự án điện mặt trời sử dụng đất nhỏ hơn 1,5 ha/MW [13,14]. Diện tích đất bị thu hồi đáp ứng yêu cầu xây dựng các nhà máy năng lượng mặt trời khoảng trên 3 nghìn ha với gần 970 hộ bị ảnh hưởng; trong đó, huyện Thuận Nam chiếm tỷ trọng lớn nhất 51,4% với 15/35 nhà máy; tiếp theo là huyện Thuận Bắc chiếm 20,4% diện tích đất bị thu hồi cho 4/35 nhà máy (Trung Nam, Xuân Thiện 1, Xuân Thiện 2 và Thiên Tân). Hoạt động kinh tế chính của các hộ là nông nghiệp, chủ yếu trồng lúa, cây hoa màu ngắn ngày, kết hợp chăn nuôi nhưng sản xuất không ổn định. Nhiều thành viên trong gia đình có việc làm khác, như: lao động phổ thông, chăn nuôi hoặc chuyển vùng lao động.
Bảng 2. Diện tích đất thu hồi phục vụ các dự án phát triển
năng lượng mặt trời

Nguồn: Sở TNMT Ninh Thuận (2021). Báo cáo thực hiện văn bản số 6656/BTNMT – TTr ngày 02/11/2021 của Bộ TNMT.
Theo kết quả nghiên cứu tại 2 xã Bắc Phong và Lợi Hải, huyện Thuận Bắc: Diện tích đất bị thu hồi chủ yếu là diện tích đất không chủ động được nguồn nước, sản xuất không hiệu quả, năng suất thấp. Chẳng hạn, diện tích đất thu hồi cho dự án Nhà máy điện mặt trời Trung Nam với công suất phát điện 204 MW tại địa bàn xã Bắc Phong khoảng 223,7 ha; tương ứng 1 ha/MW, gồm đất nông nghiệp chiếm gần 97% của 192 hộ dân. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp bị thu hồi vào mùa khô khoảng 90% bỏ trống; trong đó, đất trồng lúa 1 vụ khoảng 9,75 ha.

Hình 2. Tỷ lệ các loại đất bị thu hồi phục vụ xây dựng Nhà máy điện NLTT Trung Nam
Nguồn: Công ty Cổ phần Điện mặt trời Trung Nam, 2018 [3]
Việc làm gắn với phát triển năng lượng tái tạo
Để triển khai các dự án phát triển NLTT, nhiều hoạt động đã được thực hiện nhằm đảm bảo quyền lợi hài hòa giữa chính quyền, người dân và nhà đầu tư. Cụ thể:
Nhận thức về NLTT và chính sách bồi thường, hỗ trợ: Tổ chức thông tin, truyền thông, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về các dự án phát triển nói chung và dự án NLTT nói riêng đã được chính quyền địa phương và nhà đầu tư quan tâm, là cơ sở tạo sự đồng thuận trong cộng đồng. Tại huyện Thuận Bắc, việc chỉ đạo triển khai các hoạt động tuyên truyền đã đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất giữa các cấp, tuân thủ theo các văn bản quy phạm pháp luật và phù hợp với bối cảnh từng địa phương gắn liền với triển khai chính sách thu hồi đất. Tiến trình này đã làm thay đổi nhận thức, mức độ hiểu biết của các cấp, người dân về vai trò của NLTT và phát triển các dự án NLTT đối với đời sống, nhất là các hộ bị thu hồi đất đều được tham vấn, thông tin đầy đủ về quyền lợi được hưởng từ chính sách của địa phương. Kết quả 99% người dân trong khu vực có nhà máy điện NLTT đều hiểu rõ về thuật ngữ “Năng lượng tái tạo” và hài lòng với hình thức đền bù, hỗ trợ bằng tiền. Họ cho rằng: NLTT là sử dụng năng lượng gió và mặt trời để phát điện; các dự án đã thực hiện đầy đủ quy trình, quy định. Đây là dự án mới so với các dự án công nghiệp khác nên người dân lo lắng; tuy nhiên, khi được tuyên truyền về vai trò và các khía cạnh liên quan đến môi trường, an sinh xã hội người dân đã hiểu và đồng thuận.
Mức độ tác động của thu hồi đất đến việc làm và thu nhập: Các dự án phát triển NLTT đã tác động đến vấn đề việc làm và thu nhập của dân cư. Đối với các hộ bị thu hồi đất, diện tích giảm đồng nghĩa với việc thu nhập từ sản xuất nông nghiệp giảm, nhất là dự án năng lượng mặt trời thu hồi diện tích đất lớn, riêng xã Bắc Phong đã bị thu hồi 500 ha đất nông nghiệp với 342 hộ bị ảnh hưởng cho các nhà máy điện mặt trời Trung Nam, Xuân Thiện. Xã Lợi Hải có 03 nhà máy năng lượng gió, gồm: nhà máy điện gió Trung Nam thu hồi 9,57 ha/150 hộ dân; Hambaram thu hồi 4,7 ha/30 hộ dân và Lợi Hải 2 thu hồi 2,55 ha/40 hộ dân.
Theo kết quả điều tra, 100% các hộ được hỏi đều bị ảnh hưởng đất sản xuất nông nghiệp với cây trồng chủ yếu là hoa màu ngắn ngày hoặc một số hộ ở xã Bắc Phong cho thuê đất để phát triển chăn nuôi. Trong đó, 56% số người được hỏi cho rằng việc thu hồi đất không ảnh hưởng đến việc làm nhưng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ dân, chỉ có 8,5% cho rằng không ảnh hưởng đến thu nhập; nguyên nhân chủ yếu được xác định là bởi mất đất sản xuất nông nghiệp kéo theo giảm nguồn lợi thu được trên diện tích bị mất.

Hình 3. Mức độ ảnh hưởng của việc làm và thu nhập
Nguồn: Kết quả xử lý điều tra bảng hỏi, 2021
Để hạn chế tác động của việc chiếm dụng đất phục vụ phát triển các dự án, các cấp chính quyền tạo điều kiện đền bù, hỗ trợ đúng quy định pháp luật; đảm bảo ưu tiên lựa chọn nhà đầu tư có chính sách hỗ trợ cho công tác an sinh xã hội, cam kết đào tạo và sử dụng lao động tại địa phương (Khoản 7, Điều 4) [14]. Đồng thời, UBND xã đã có những hướng dẫn, tham mưu để người dân sử dụng tiền bồi thường, hỗ trợ hiệu quả; một số người dân đã mua thêm đất để tái sản xuất nông nghiệp, những hộ còn đất đầu tư nâng cao năng suất. Ngoài ra, theo Điều 31 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận (Quyết định số 64/2016/QĐ-UBND ngày 26/9/2016), hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng tiền bằng hai lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp của địa phương. Theo kinh phí bồi thường, hỗ trợ của địa phương, người dân được hỗ trợ số tiền khá lớn, nhiều hộ được hàng trăm triệu đồng, có hộ được hỗ trợ trên 1 tỷ đồng [12]. Tuy nhiên, kết quả khảo sát cho thấy: Người lao động thuộc các hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất không có nhu cầu học nghề, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm do chủ yếu là người lớn tuổi, người dân tộc thiểu số có trình độ học vấn hạn chế (trình độ văn hóa trung học cơ sở). Đối với cộng đồng, hàng năm đều có chương trình đào tạo nghề cho nông thôn; UBND xã đã thông báo các ngành nghề theo nhu cầu của các nhà máy dự án NLTT trên địa bàn để người dân biết và đăng ký tham gia các khóa học, nhưng không có ai đăng ký để chuyển đổi nghề hoặc đào tạo cải thiện kỹ năng nghề (Cán bộ xã tại các buổi thảo luận nhóm, 2021). Theo kết quả điều tra bảng hỏi, không có ai không hài lòng về hình thức tham vấn và hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm bằng tiền, trong đó 55% đánh giá hài lòng và rất hài lòng; còn lại đánh giá bình thường.
Việc làm trực tiếp từ phát triển năng lượng tái tạo: Đối với vấn đề tạo việc làm trực tiếp từ các nhà máy NLTT chưa được như mong muốn của địa phương và người dân. Theo chu trình hoạt động của nhà máy, chủ yếu tạo việc làm phổ thông ở giai đoạn thi công (thợ xây, phụ hồ, thợ hồ, kéo cáp); khoảng 30 - 40 lao động, làm việc trong 1 - 2 tháng đối với nhà máy năng lượng gió. Khả năng thu hút lao động trong giai đoạn vận hành rất hạn chế, chủ yếu là bảo vệ, cắt cỏ, rửa pin. Các vị trí việc làm ở giai đoạn thi công và vận hành, phần lớn không có ký kết hợp đồng lao động nên công việc bấp bênh, không đảm bảo ổn định lâu dài. Theo thống kê của UBND xã Bắc Phong: Giai đoạn vận hành có 35 công nhân đang làm việc ở nhà máy điện Trung Nam, 14 công nhân ở nhà máy Xuân Thiện, chủ yếu làm các công việc cắt cỏ, phòng hành chính, bảo vệ và nấu ăn; các nhà máy điện gió Hanbaram và Đầm Nại không có lao động địa phương bởi khi nhà máy hoạt động cũng chỉ cần một người vận hành. Tương tự, tại xã Lợi Hải không có lao động địa phương tại các nhà máy năng lượng gió trong giai đoạn vận hành.
Theo số liệu phân tích số lượng lao động làm việc cho các nhà máy năng lượng gió, mặt trời Trung Nam và nhà máy năng lượng mặt trời Xuân Thiện giai đoạn vận hành rất hạn chế so với diện tích đất sử dụng để tạo sản phẩm thương mại. Nhà máy điện mặt trời Xuân Thiện sử dụng gần 260 ha/150 hộ bị thu hồi đất nhưng tạo ra 9 vị trí việc làm với 18 lao động, trong đó lao động là người của tỉnh Ninh Thuận chiếm đa số 15/18, chủ yếu là quản lý cấp trung và nhân viên; quản lý cấp cao (Giám đốc và Trưởng phòng kỹ thuật) đến từ tỉnh khác; lao động có hộ khẩu thường trú tại xã Bắc Phong chiếm 27,8%; tương ứng 5 lao động (01 quản lý cấp trung – Trưởng ca và 04 nhân viên ở các vị trí kế toán, sửa chữa và cấp dưỡng) [4]. Tại các Nhà máy điện Trung Nam sử dụng phần lớn lao động của tỉnh Ninh Thuận (70 lao động); trong đó, Nhà máy điện gió có 13 lao động (02 quản lý cấp trung, 11 nhân viên) chủ yếu ở các vị trí việc làm: Nhân viên kỹ thuật, hành chính văn thư, cây xanh, lái xe và công nghệ thông tin; điện mặt trời Trung Nam có 16 lao động; và hơn 30 lao động là kỹ sư vận hành của cả 2 nhà máy (kết quả phỏng vấn cán bộ phòng Hành chính Công ty Cổ phần Điện mặt trời Trung Nam).
4. Một số giải pháp thúc đẩy việc làm gắn với phát triển năng lượng tái tạo ở tỉnh Ninh Thuận
Vị trí địa lý và các nguồn lực tự nhiên của Ninh Thuận đã hình thành tiềm năng đa dạng cho phát triển năng lượng điện mặt trời và năng lượng gió; trở thành một trong những giải pháp hiệu quả thực hiện Nghị quyết 115/NQ-CP của Chính phủ về thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ tỉnh Ninh Thuận phát triển kinh tế - xã hội, ổn định sản xuất, đời sống nhân dân giai đoạn 2018 - 2023. Đến nay, hai loại hình năng lượng đã được đầu tư, phát triển; bước đầu hình thành ngành NLTT với nhiều cơ hội trực tiếp, gián tiếp cho các ngành kinh tế, các lãnh thổ phát triển; trong đó, mở ra cơ hội việc làm mới gắn với phát triển ngành. Tuy nhiên, theo kết quả phân tích, việc làm của dân cư trong khu vực phát triển các dự án NLTT vẫn chủ yếu là nông nghiệp và lao động tự do. Việc làm trực tiếp có tính dài hạn từ các nhà máy NLTT rất hạn chế do số lượng việc làm được tạo ra trong giai đoạn vận hành không nhiều, nhất là năng lượng gió. Hơn nữa, các nhà máy NLTT đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn về khoa học kỹ thuật, nhất là giai đoạn vận hành (IRENA, 2021), mà theo thống kê khu vực phát triển các dự án đều ở nông thôn, trình độ văn hóa thấp, không có động lực tự chuyển đổi nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp nên không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng, việc làm cho các dự án (Kết quả điều tra, 2021). Do đó, để tận dụng được cơ hội thúc đẩy việc làm gắn với NLTT đang có xu hướng tăng trưởng, địa phương cần có các giải pháp mang tính đồng bộ. Cụ thể:
Thứ nhất, tạo thêm cơ hội việc làm thông qua thực hiện tốt, phát huy hiệu quả cơ chế, chính sách đã được Chính phủ hỗ trợ cho ngành NLTT phát triển, từng bước giảm dần phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. Tận dụng tốt các nguồn lực đầu tư nhằm tạo nền tảng, động lực cho các giai đoạn sản xuất, chuyển giao khoa học công nghệ; kết hợp với sử dụng tổng hợp các công cụ, biện pháp khác nhau nhằm gia tăng tính hiệu quả, hiệu lực của chính sách, góp phần thay đổi các phương thức sản xuất, phát huy được các cơ hội từ phát triển NLTT.
Thứ hai, lồng ghép vấn đề phát triển nguồn nhân lực cho ngành NLTT trong Quy hoạch kinh tế - xã hội của tỉnh thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong chính sách. Đồng thời, đẩy mạnh nghiên cứu dự báo việc làm kịp thời, chính xác trên cơ sở đề án xây dựng Ninh Thuận trở thành trung tâm NLTT của cả nước, tạo điều kiện cho các chiến lược việc làm mang tính chủ động, đáp ứng nhu cầu, tận dụng được các cơ hội thông qua các chính sách phù hợp, nhất là giáo dục, đào tạo kỹ năng dọc theo chuỗi cung ứng; đánh giá các cơ hội để tận dụng năng lực của địa phương; phân tích các chính sách và cách tiếp cận để đảm bảo sự chuyển đổi công bằng; đánh giá việc làm và cơ hội sinh kế liên quan đến tiếp cận năng lượng. Thực hiện phân bổ nguồn thu ngân sách từ NLTT cho các địa phương có nhà máy để cải thiện cơ sở hạ tầng, an sinh xã hội.
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, triển khai thực hiện chính sách, nhất là có giải pháp hướng dẫn người dân sử dụng hợp lý nguồn lực tài chính được hỗ trợ để chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; không chỉ dừng ở việc mua thêm đất sản xuất nông nghiệp hoặc cải thiện các nhu cầu cuộc sống hàng ngày mà cần có giải pháp để người dân nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề có liên quan, đảm bảo tính bền vững trong lựa chọn việc làm, kể cả việc làm trong ngành NLTT. Đồng thời, để giải quyết việc làm tại chỗ cho người dân địa phương ở khu vực phía Bắc tỉnh, như huyện Thuận Bắc cần thiết đẩy mạnh công tác phát triển các khu công nghiệp, đa dạng các loại hình công nghiệp bên cạnh công nghiệp năng lượng.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường việc làm gắn với ngành, theo hướng tự hoàn thiện các kỹ năng nghề nghiệp. Đồng thời, Ninh Thuận cần có chính sách giáo dục, đào tạo gắn liền với thúc đẩy chất lượng nguồn nhân lực phù hợp với định hướng, xu hướng phát triển đảm bảo tính khoa học và tính thực tiễn. Chính sách đào tạo nghề và thị trường lao động cần gắn với quá trình chuyển đổi năng lượng để giúp tạo ra việc làm tốt với cơ hội công bằng, đãi ngộ tương xứng để đáp ứng khoảng 40 nghìn lao động. Bên cạnh đó, các dự án NLTT cần tăng cường hơn nữa sử dụng lao động địa phương, nhất là lao động kỹ thuật thông qua các giải pháp tạo điều kiện hỗ trợ đào tạo trực tiếp, lao động có hợp đồng ổn định, dài hạn, nhất là lao động thời vụ.
5. Kết luận
Phát triển NLTT được xem là giải pháp tận dụng các giá trị tài nguyên và phát huy hiệu quả các cơ chế, chính sách đặc thù hỗ trợ của Nhà nước cho Ninh Thuận trong thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an sinh xã hội. Đến nay, NLTT đã bước đầu khẳng định được vị thế, trở thành động lực phát triển thông qua thị phần đóng góp vào GDP của tỉnh Ninh Thuận được dự báo ngày càng tăng, cùng với đó, cơ hội việc làm cũng được mở ra trong xã hội. Tuy nhiên, NLTT là ngành mới, xuất phát điểm của tỉnh thấp, trình độ dân trí chưa cao nên trong tiến trình phát triển vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tận dụng cơ hội tạo việc làm. Trong thời gian tới, để mở rộng các loại hình việc làm và tận dụng cơ hội việc làm mới đòi hỏi Ninh Thuận phải tranh thủ tốt các nguồn lực đầu tư, lồng ghép hiệu quả vấn đề đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, kết hợp với phát triển đa dạng các loại hình phát triển công nghiệp thông qua phân bổ hiệu quả các nguồn vốn để giải quyết việc làm cho dân cư tại các địa điểm phát triển dự án.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Chính trị (2020), Nghị quyết 55-NQ/TW, ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, H.
2. Chính phủ (2018), Nghị quyết số 115/NQ-CP ngày 31/8/2018 về cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ tỉnh phát triển KTXH, ổn định sản xuất, đời sống nhân dân giai đoạn 2018-2023.
3. Công ty Cổ phần Điện mặt trời Trung Nam (2018), Báo cáo Đánh giá tác động môi trường Dự án “Nhà máy điện mặt trời Trung Nam, quy mô công suất 204 MW”, Ninh Thuận.
4. Công ty Cổ phần Xuân Thiện Ninh Thuận (2021), Danh sách cán bộ công nhân viên Nhà máy điện mặt trời Xuân Thiện, Thuận Bắc, Ninh Thuận.
5. Cục Thuế tỉnh Ninh Thuận (2021), Công văn số 6361/CT-TTKT, ngày 22/11/2021 về cung cấp thông tin, dự báo số thu ngân sách các dự án năng lượng điện, Ninh Thuận.
6. Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận (2017), Nghị quyết số 39/2017/NQ-HĐND ngày 17/7/2017 về phát triển công nghiệp tỉnh Ninh Thuận đến năm 2020, Ninh Thuận.
7. Sở TNMT tỉnh Ninh Thuận (2021), Báo cáo thực hiện văn bản số 6656/BTNMT – TTr ngày 02/11/2021 của Bộ TNMT, Ninh Thuận.
8. Thủ tướng Chính phủ (2015), Quyết định số 2068/QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
9. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg ngày 06/4/2020 về cơ chế khuyến khích phát triển điện mặt trời, Hà Nội.
10. Tỉnh ủy Ninh Thuận (2011), Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 07/11/2011 về phát triển công nghiệp tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020.
11. Tỉnh ủy Ninh Thuận (2021), Báo cáo số 41-BC/TU, ngày 22/4/2021 về sơ kết 3 năm Chương trình hành động số 232-CTr/TU về cơ chế chính sách đặc thù hỗ trợ tỉnh phát triển KTXH, ổn định sản xuất, đời sống nhân dân giai đoạn 2018-2023, Ninh Thuận.
12. Trung tâm phát triển quỹ đất Ninh Thuận (2018), Tờ trình số 1661/TTr-TTPTQĐ ngày 07/11/2018 về Bảng tổng hợp kinh phí bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước khu hồi đất để thực hiện nhà máy điện mặt trời Trung Nam kết hợp nông nghiệp (đợt 2), Ninh Thuận.
13. UBND Ninh Thuận (2010), Quyết định số 04/2010/QĐ-UBND ngày 12/01/2010 về tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư dự án điện sử dụng năng lượng gió trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, Ninh Thuận.
14. UBND Ninh Thuận (2017), Quyết định số 16/2017/QĐ-UBND ngày 27/12/2017 về tiêu chí lựa chọn dự án đầu tư điện sử dụng năng lượng mặt trời trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận, Ninh Thuận.
15. UBND tỉnh Ninh Thuận (2020), Đề án khoa học phát triển Ninh Thuận trở thành trung tâm NLTT của cả nước, Ninh Thuận.