DI DÂN RA ĐẢO CỒN CỎ, TỈNH QUẢNG TRỊ: KẾT QUẢ VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM 13/09/2023

ThS. Lê Hồng Ngọc

Viện Địa lí nhân văn

Tóm tắt: Di dân ra đảo là một trong những chủ trương chính sách quan trọng trên các phương diện phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường - sinh thái và giữ vững quốc phòng - an ninh, đóng góp vào sự phát triển bền vững không gian biển đảo của Việt Nam. Công tác này đã và đang nhận được sự quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện của các bộ ngành và chính quyền các cấp, đồng thời thu hút sự ủng hộ, tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tại các địa phương ven biển. Trong số 12 huyện đảo của cả nước, Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị là địa phương triển khai công tác di dân ra đảo và đã đạt được một số kết quả nhất định. Bài viết này phân tích thực trạng di dân ra đảo tại huyện Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị và rút ra một số bài học kinh nghiệm về công tác di dân ra đảo tại Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa: di dân ra đảo, đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị

 

1. Khái quát về công tác di dân ra đảo tại Việt Nam

        Việt Nam nằm ở rìa Đông của bán đảo Đông Dương tiếp giáp với biển Đông, có đường bờ biển dài khoảng 3.260 km chạy dọc lãnh thổ từ Bắc xuống Nam và khoảng 3.000 hòn đảo lớn nhỏ nằm rải rác ven bờ và ngoài biển khơi được phân bố khá đều [6]. Các đảo của Việt Nam được chia thành các nhóm: đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc như Hoàng Sa, Trường Sa, Phú Quốc...; đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội như Cát Bà, Cù Lao Chàm, Phú Quý...; và đảo ven bờ gần đất liền có điều kiện phát triển nghề biển và là căn cứ bảo vệ trật tự an ninh trên biển như Bạch Long Vĩ, Lý Sơn, Côn Đảo... [2]. Trong đó, 51 đảo có diện tích từ 1 đến 5 km2; 9 đảo có diện tích từ 5 đến 10 km2; 14 đảo có diện tích từ 10 đến 20 km2; 7 đảo có diện tích từ 20 đến 100 km2 và 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2 [1].

        Với vị trí địa lý thuận lợi và điều kiện tự nhiên đa dạng, một số đảo ven bờ có lịch sử khai hoang và phát triển dân cư từ lâu đời, hình thành không gian sản xuất và sinh hoạt của người dân, hoàn thiện việc tổ chức xã hội và phát triển kinh tế trên đảo, góp phần phát triển không gian biển đảo của Việt Nam [4]. Việc định cư trên đảo là một quá trình di dân và tái định cư, ổn định cuộc sống cho người dân trên các đảo, do đó đòi hỏi các chính sách hỗ trợ hợp lý, điều kiện sống và cơ sở hạ tầng phù hợp, đáp ứng được nguyện vọng của người dân [8].

        Nhận thức được tầm quan trọng của công tác di dân ra đảo đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh của tổ quốc, Việt Nam đã có những chủ trương và cơ chế chính sách phù hợp cho công tác di dân và định cư trên các hải đảo. Bắt đầu từ Chỉ thị số 429-CP ngày 05 tháng 02 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ về việc thực hiện chính sách đối với cán bộ miền núi, hải đảo. Theo đó cán bộ, công nhân viên công tác ở các hải đảo xa được phụ cấp khuyến khích ngoài lương chính và phụ cấp khu vực; cán bộ, công nhân, nhân viên nhà nước, cán bộ xã và hợp tác xã, học sinh các trường chuyên nghiệp... từ đất liền ra đảo được trợ cấp lần đầu để mua sắm tư trang cần thiết; học sinh các trường chuyên nghiệp sau khi tốt nghiệp ra trường được phân công công tác ở hải đảo được hưởng 100% lương khởi điểm và được giảm 1/3 thời gian tập sự; cán bộ, công nhân, nhân viên công tác ở hải đảo đi nghỉ phép hàng năm được thanh toán tiền tàu xe và các khoản phụ cấp khác như đi công tác.

        Năm 1995, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư số 04/LĐTBXH-DD ngày 11 tháng 02 năm 1995, Hướng dẫn chế độ trợ cấp cho hộ gia đình di dân ra đảo. Theo nội dung thông tư, các hộ gia đình, thanh niên xung phong tham gia xây dựng kinh tế, bộ đội, cán bộ làm nhiệm vụ bảo vệ và quản lý đảo hết thời gian nghĩa vụ có nhu cầu đưa gia đình ra đảo hoặc thành lập gia đình riêng tình nguyện ở lại các đảo có nhu cầu nhận dân để định cư lâu dài được nhận trợ cấp từ cả nơi đi (như cước vận chuyển người và hành lý, tiền ăn đường, thuốc phòng bệnh và trợ cấp khó khăn ban đầu) và trên đảo (như trợ cấp lương thực 12 tháng, kinh phí xây dựng căn hộ nhà cấp ba, cấp đất thổ cư và đất sản xuất, vay vốn ngân sách để phát triển sản xuất kinh tế hộ gia đình, vay vốn đóng tàu cá và mua sắm ngư cụ đánh bắt).

        Năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 190/2003/QĐ-TTg ngày 16 tháng 9 năm 2003 về chính sách di dân thực hiện quy hoạch, bố trí đân cư giai đoạn 2003 – 2010; trong đó có những chính sách hỗ trợ về đất ở và đất sản xuất, chi phí di chuyển người và hành lý, thuốc phòng bệnh và ăn uống trên đường di chuyển, làm mới hoặc chuyển nhà, mua lương thực, xây dựng giếng nước hoặc ống dẫn nước, bể chứa nước, mua sắm công cụ sản xuất, giống cây lương thực, phân bón, tập huấn khuyến nông - khuyến lâm - khuyến ngư - khuyến công... cho hộ di dân đến các hải đảo.

        Năm 2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2006 về việc phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ, khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015, công tác quy hoạch, bố trí, sắp xếp lại dân cư ở vùng hải đảo đã được chính thức thực hiện nhằm ổn định và nâng cao đời sống của người dân, hạn chế tới mức thấp nhất thiệt hại do thiên tai và di cư tự do, giải quyết việc làm và tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường và củng cố an ninh quốc phòng. Trong tổng số 75.000 hộ thuộc Chương trình bố trí dân cư, 10.000 hộ vùng biên giới, hải đảo đã được thực hiện bố trí và sắp xếp lại dân cư trong giai đoạn 2006 - 2010.

        Năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21 tháng 11 năm 2012 phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng đến năm 2020. Thực hiện quyết định này, trong tổng số 55.900 hộ thuộc Chương trình bố trí dân cư, 8.600 hộ vùng biên giới, hải đảo đã được thực hiện bố trí ổn định trong giai đoạn 2013 - 2015.

        Theo đó, vùng hải đảo có 69 dự án, phương án trong quy hoạch tổng thể bố trí dân cư, bao gồm 184 điểm dân cư với 8.897 hộ và 42.835 nhân khẩu, tổng vốn thực hiện 1.173,918 tỷ đồng được huy động từ ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương và vốn lồng ghép khác [5]. Trong giai đoạn 2013 - 2019, 3 dự án, phương án đầu tư bố trí ổn định dân cư vùng hải đảo đã hoàn thành bao gồm 3 điểm dân cư với 116 hộ đã bố trí, sắp xếp ổn định 80 hộ; 1 dự án, phương án đầu tư bố trí ổn định dân cư vùng hải đảo đang thực hiện dở dang bao gồm 2 điểm dân cư với 100 hộ, trong đó đã bố trí, sắp xếp ổn định 10 hộ tại 1 điểm dân cư; dưới các hình thức tập trung hoặc xen ghép [5].

        Đặc biệt theo Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 24 tháng 01 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng đảo Thanh niên toàn quốc giai đoạn 2013 - 2020, 05 đảo Thanh niên được xây dựng thành các cụm dân cư mới có quy hoạch đồng bộ, phát triển tương xứng với tiềm năng và lợi thế của biển đảo Việt Nam, đáp ứng các yêu cầu chiến lược phát triển kinh tế biển Việt Nam đến năm 2020. Theo đó, 592 hộ dân cư và gia đình thanh niên xung phong ra đảo lập nghiệp ổn định lâu dài được tiếp nhận mới và bố trí sắp xếp ổn định tại chỗ; trên 1.000 lao động thường xuyên và 4.000 lao động thời vụ được giải quyết việc làm; kết cấu hạ tầng xã hội thiết yếu được xây dựng; gần 1.500 ha rừng phòng hộ trên đảo được trồng mới và bảo vệ.

        Theo đánh giá của Chương trình, nhu cầu bố trí ổn định dân cư các đảo là 430 hộ trong giai đoạn 2021 - 2025 và 1.178 hộ trong giai đoạn 2021 - 2030 [5]. Trên cơ sở đó, Quyết định số 590/QĐ-TTg ngày 18 tháng 5 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021 - 2025 định hướng đến năm 2030 được ban hành, trong đó mục tiêu 2.872 hộ vùng biên giới, hải đảo trong tổng số 62.283 hộ được thực hiện bố trí ổn định dân cư.

2. Thực trạng di dân ra đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị

        Đảo Cồn Cỏ là một đảo tiền tiêu nằm ở phía Đông thuộc vùng biển Quảng Trị, điểm phân định đường cơ sở A11 phân chia Vịnh Bắc Bộ về phía Nam và tiền đồn bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia của Việt Nam, có tọa độ từ 17008’15” đến 17010’05” vĩ độ Bắc và từ 107019’50” đến 107020’40” kinh độ Đông, cách đất liền từ 13 đến 17 hải lý [9]. Có vị trí địa lý không quá xa bờ, đảo Cồn Cỏ nằm trong vùng ngư trường Con Hổ có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú và gần các tuyến giao thông đường biển quan trọng, có ý nghĩa chiến lược về phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng của đất nước [9]. Từ năm 1954, đảo Cồn Cỏ chưa có dân sinh sống cho đến khi Trung đoàn 270 của Quân đội nhân dân Việt Nam chấp hành mệnh lệnh ra đảo vào năm 1959 [9]. Huyện đảo Cồn Cỏ được thành lập theo Nghị định số 174/2004/NĐ-CP ngày 01 tháng 10 năm 2004 của Chính phủ; toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của đảo Cồn Cỏ thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Theo số liệu năm 2022, huyện đảo Cồn Cỏ có diện tích 230 ha, với cơ cấu đất: lâm nghiệp 71,5%; đất chuyên dùng 14,9%; đất ở 0,6% và dân số 439 người với cơ cấu 86,8% nam và 13,2% nữ [3].

        Ngày 23 tháng 12 năm 2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng trị ban hành Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND về việc quy định mức hỗ trợ di dân ra đảo Cồn Cỏ và áp dụng cho hộ gia đình, cá nhân tự nguyện đến sinh sống lâu dài tại huyện đảo Cồn Cỏ; ưu tiên hộ gia đình là thanh niên hoặc thanh niên làm nghề ngư và dịch vụ hậu cần biển; có khả năng, nghề nghiệp trong phát triển nuôi trồng thủy hải sản; có tuổi đời không quá 35 tuổi, có sức khỏe tốt, nhân thân tốt và có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Quảng Trị. Theo đó, các chính sách hỗ trợ bao gồm:

        - Chính sách về đất đai: Được giao đất sản xuất với hạn mức theo quy hoạch của huyện đảo và quy định của Luật Đất đai, giao đất ở cho mỗi hộ với diện tích phù hợp quy hoạch được Ủy ban nhân dân huyện đảo phê duyệt trên thực tế quỹ đất hiện có để đảm bảo sinh hoạt làm nghề ngư nghiệp, miễn tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ khi được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và đất sản xuất…

        - Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khu dân cư; hỗ trợ trực tiếp cho hộ gia đình di chuyển người và tài sản ra đảo tối đa 5 triệu đồng/hộ; hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian đầu bằng tiền 12 tháng lương thực tính từ ngày ra đảo tương đương 30 kg/người/tháng, hỗ trợ thêm 6 tháng lương thực để ổn định đời sống cho người dân trong thời gian đầu đến định cư tại đảo…

        - Hỗ trợ phát triển sản xuất: Hỗ trợ giống vật nuôi cho các hộ chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thủy sản, tăng cường công tác khuyến nông - khuyến ngư và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật…

        - Tín dụng: Hỗ trợ lãi suất vay vốn đóng mới tàu và nâng cấp tàu để khai thác hải sản xa bờ và cung cấp dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ, vay vốn phục vụ phát triển nông nghiệp - nông thôn...

        Năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 354/QĐ-UBND ngày 23 tháng 02 năm 2016 về việc phê duyệt Đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện đảo Cồn Cỏ đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, theo đó Cồn Cỏ được định hướng trở thành huyện đảo có kinh tế năng động trong chiến lược phát triển kinh tế biển đảo của tỉnh Quảng Trị và chiến lược biển cả nước, là đảo lưỡng dụng vừa phục vụ phát triển kinh tế vừa đảm bảo an ninh - quốc phòng; trở thành “đảo Thanh niên” phát huy vai trò xung kích của thanh niên và các hộ gia đình trẻ tham gia khai thác và sử dụng có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của biển, đảo; từng bước xây dựng Cồn Cỏ thành một đỉnh trong tam giác phát triển du lịch Cửa Tùng - Cồn Cỏ - Khu kinh tế Đông Nam trong vùng du lịch trọng điểm của tỉnh Quảng Trị.

        Nhằm thực hiện việc di dân ra đảo, UBND tỉnh Quảng Trị đã ban hành Quyết định số 2814/QĐ-UBND ngày 04 tháng 11 năm 2016 về việc ban hành Kế hoạch tổ chức di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ năm 2016 - 2017. Theo đó, kế hoạch xét tuyển 10 hộ gia đình có độ tuổi từ 25 đến 40 tuổi từ các xã ven biển thuộc các huyện Gio Linh, Vĩnh Linh, Hải Lăng và Triệu Phong có thời gian thường trú từ 3 năm trở lên; có đạo đức tốt, sức khỏe tốt, nhân thân tốt và có nguyện vọng đến sinh sống lâu dài tại huyện đảo Cồn Cỏ; ưu tiên các hộ gia đình làm nghề ngư nghiệp, dịch vụ hậu cần nghề cá; là hộ hoặc nhóm hộ có chung phương tiện, có kinh nghiệm và cùng địa phương. Mỗi hộ di dân ra đảo sẽ được giao khuôn viên có diện tích 200 m2, miễn tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ khi giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; cấp 1 ngôi nhà có diện tích 42 m2 gồm 01 phòng khách, 01 phòng ngủ, bếp, khu vệ sinh, 1 bể nước có dung tích 3 m3 và cơ sở hạ tầng kèm theo; hỗ trợ di chuyển người và tài sản 5 triệu đồng/hộ, hỗ trợ lương thực bằng tiền mặt 18 tháng từ ngày ra đảo với mức 30 kg/người/tháng, hỗ trợ con giống 1 triệu đồng/hộ và công cụ sản xuất 5 triệu đồng/hộ để phát triển sản xuất; cho vay vốn 50 triệu đồng/hộ không cần tài sản thế chấp để phục vụ sản xuất; cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí theo quy định; hưởng các chính sách phát triển thủy sản, an sinh xã hội, hỗ trợ phát triển kinh tế của Trung ương và địa phương tương tự như đang áp dụng cho hộ nghèo ở vùng đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh.

        Ngay từ khi kế hoạch được thông qua, Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị cấp bổ sung kinh phí cho công tác di dân, phối hợp với các sở ngành và chính quyền địa phương của các huyện ven biển để thống nhất các nội dung và thông báo về kế hoạch di dân, tổ chức vận động tuyên truyền và gặp mặt các hộ dân có nguyện vọng đăng ký di dân ra đảo, thành lập hội đồng thẩm định và xét tuyển các hộ gia đình di dân ra đảo, kiểm tra các điều kiện đảm bảo sinh hoạt của các hộ dân tại các căn hộ trên đảo, xây dựng kế hoạch đi thực tế tại huyện đảo và tổ chức kiểm tra sức khỏe cho các hộ dân... [10]. Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ cấp bổ sung 375,4 triệu đồng kinh phí cho công tác di dân ra đảo (theo Quyết định số 97/QĐ-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc cấp bổ sung kinh phí thực hiện di dân ra đảo năm 2016 - 2017).

        Năm 2018, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 08/2018/QĐ-UBND ngày 25 tháng 5 năm 2018 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định mức hỗ trợ di dân ra đảo Cồn Cỏ ban hành kèm theo Quyết định số 37/2015/QĐ-UBND ngày 23 tháng 12 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng trị về việc ban hành quy định mức hỗ trợ di dân ra đảo Cồn Cỏ và mở rộng đối tượng áp dụng là hộ gia đình, cá nhân tự nguyện đến sinh sống lâu dài tại huyện đảo Cồn Cỏ; có ngành nghề phù hợp với tình hình thực tế trên địa bàn như nghề ngư, dịch vụ hậu cần nghề cá, có khả năng nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản, dịch vụ - du lịch, dịch vụ ăn uống, kinh doanh, buôn bán; có tuổi đời dưới 50 tuổi, có sức khỏe tốt, nhân thân tốt và có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Quảng Trị từ đủ 36 tháng trở lên. Đồng thời, quy định các hộ gia đình, cá nhân khi được giao đất, giao nhà phải ký cam kết không được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhà ở trong thời gian 30 năm kể từ ngày giao đất, giao nhà. Bên cạnh đó, mức hỗ trợ 30 kg gạo/người/tháng đối với lao động được sửa đổi thành mức hỗ trợ 30 kg gạo/nhân khẩu/tháng. Ngoài ra, Quyết định số 26/2018/QĐ-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2018 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành quy định mức hỗ trợ cho hộ gia đình và chi phí quản lý Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21 tháng 11 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ trên địa bàn tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2018 - 2020 được ban hành.

        Nhờ có chủ trương và cơ chế chính sách nêu trên, huyện đảo Cồn Cỏ đã lần lượt tiếp nhận các hộ gia đình di dân ra đảo. Cụ thể:

        - Năm 2017, huyện đảo Cồn Cỏ tiếp nhận 7 hộ gia đình với 21 nhân khẩu thuộc các xã Vĩnh Thái, Vĩnh Thạch và thị trấn Cửa Tùng của huyện Vĩnh Linh (theo Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 22 tháng 5 năm 2017 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc tiếp nhận các hộ gia đình di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ năm 2017).

        - Năm 2018, huyện đảo tiếp nhận 3 hộ gia đình với 13 nhân khẩu thuộc các xã Vĩnh Thạch của huyện Vĩnh Linh và thị trấn Cửa Việt của huyện Gio Linh (theo Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2019 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc tiếp nhận các hộ gia đình di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ năm 2018).

        - Năm 2019, huyện đảo tiếp nhận 1 hộ gia đình với 3 nhân khẩu từ xã Gio Hải của huyện Gio Linh (theo Quyết định số 114/QĐ-UBND ngày 15 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc tiếp nhận các hộ gia đình di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ năm 2019).

        - Năm 2022, huyện đảo tiếp nhận 2 hộ gia đình với 7 nhân khẩu từ thị trấn Cửa Việt của huyện Gio Linh (theo Quyết định số 75/QĐ-UBND ngày 31 tháng 8 năm 2022 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc tiếp nhận các hộ gia đình di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ năm 2022).

        Trong số 13 hộ gia đình và 44 nhân khẩu di dân ra đảo Cồn Cỏ trong giai đoạn 2017 - 2022 tại thời điểm tiếp nhận, độ tuổi trung bình của chủ hộ là 34 tuổi, 13 nhân khẩu còn nhỏ và 6 nhân khẩu là học sinh; hầu hết nhân khẩu trong độ tuổi lao động có trình độ học vấn từ trung học cơ sở (lớp 9/12) đến trung học phổ thông (lớp 12/12); 22 nhân khẩu là người lao động có nghề chính là đánh cá, còn lại làm các nghề thu mua hải sản, chế biến và kinh doanh thủy hải sản, thu gom rác thải nhựa hoặc lao động phổ thông (tổng hợp từ các quyết định tiếp nhận các hộ gia đình di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ các năm 2017, 2018, 2019 và 2022).

        Nhằm ổn định cuộc sống của người dân đảo, chính quyền huyện đảo Cồn Cỏ đã tiến hành giao đất theo kế hoạch tổ chức di dân ra đảo. Trong năm 2020, Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ đã bàn giao 1.600 m2 đất cho 8 hộ gia đình di dân ra đảo tại Khu dân cư số 1 để sử dụng vào mục đích đất ở với diện tích cấp cho mỗi hộ 200 m2 và thời hạn sử dụng đất lâu dài theo hình thức nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, các chủ sử dụng đất được miễn tiền sử dụng đất và lệ phí trước bạ khi giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất sản xuất (theo Quyết định số 89/QĐ-UBND ngày 30 tháng 9 năm 2020 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc giao đất theo Kế hoạch tổ chức di dân ra huyện đảo Cồn CỏQuyết định số 107/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2020 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc giao đất theo Kế hoạch tổ chức di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ). Chính quyền địa phương đã thành lập đoàn kiểm tra, giao đất trên thực địa để xác định cụ thể mốc giới, giao đất và tài sản gắn liền với đất trên thực địa; kiểm tra, hướng dẫn các hộ gia đình sử dụng đất đúng mục đích và đúng ranh giới được giao (Quyết định số 87/QĐ-UBND ngày 30 tháng 7 năm 2021 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc thành lập Đoàn kiểm tra, giao đất trên thực địa theo Kế hoạch di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ).

        Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng đã được đầu tư xây dựng như: nhà máy phát điện diezel và phòng trực vận hành với 2 tổ phát điện diezel có công suất 2 x 500 kVA và tổ máy 250 kVA được xây dựng trước đó để vận hành cấp điện liên tục; hệ thống bể trữ nước mưa và nước ngầm với 2 hồ chứa nước nhân tạo có dung tích 20.900 m3; hệ thống mạng Internet phủ sóng toàn đảo; nhà máy thu gom rác đảm bảo thu gom và xử lý 90% lượng rác trên địa bàn đảo; 1 trường mầm non - tiểu học; 1 trung tâm y tế quân - dân y trực thuộc Sở Y tế tỉnh Quảng Trị; 9 cơ sở lưu trú bao gồm các nhà khách và homestay; phương tiện đi lại chủ yếu là tàu trên biển và xe máy, xe điện trên đảo, nhà văn hóa, đài truyền thanh, nhà thi đấu thể dục thể thao đa chức năng... [9].

        Theo báo cáo của UBND huyện Cồn Cỏ, đến hết năm 2022, người dân tại huyện đảo Cồn Cỏ đã khai thác khoảng 9.500 kg thủy hải sản ở vùng biển quanh đảo cho doanh thu khoảng 630 triệu đồng, thu hoạch khoảng 25.000 kg sản lượng rau củ quả và khoảng 25.000 kg sản lượng thịt quy đổi, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân và du khách trên địa bàn đảo [11]. Đảo Cồn Cỏ cũng đón khoảng hơn 8.000 lượt khách và thu về khoảng 12.079 triệu đồng doanh thu từ hoạt động du lịch trong năm 2022 [11].

        Đến hết năm 2021, huyện đảo có 2 doanh nghiệp hoạt động với tổng nguồn vốn 5,8 tỷ đồng, giá trị tài sản cố định 1,5 tỷ đồng và doanh thu thuần sản xuất kinh doanh 1,1 tỷ đồng với tổng số 6 lao động; trong đó có 4 lao động nữ, có thu nhập bình quân 6.556 nghìn đồng/tháng [3]. Đến năm 2022, huyện đảo có 10 cơ sở kinh tế cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản với 16 lao động; trong đó có 11 lao động nữ [3].

        Thu nhập bình quân đầu người dân trên đảo năm 2022 đạt trên 47 triệu đồng, 21/21 hộ dân đã có việc làm ổn định; 1 lớp/nhóm trẻ mầm non công lập với 2 giáo viên và 13/13 trẻ em được đến trường trong năm học 2022 – 2023; 1 cơ sở y tế là phòng khám đa khoa khu vực có 15 giường bệnh với 1 bác sĩ, 2 y sĩ, 1 hộ sinh, 1 kỹ thuật viên y và 1 dược sĩ; 100% hộ dân và cơ quan có nước sạch hợp vệ sinh, tỷ lệ rác thải sinh hoạt trên địa bàn được thu gom và xử lý đạt 90%, tỷ lệ chất thải rắn và chất thải nhựa được thu gom đạt trên 95%, không có tội phạm [3, 11].

        Nhìn chung, công tác di dân ra đảo và bố trí dân cư tại huyện đảo Cồn Cỏ đã và đang được thực hiện bài bản, góp phần giúp người dân yên tâm và ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng trên đảo. Đặc biệt, 100% cán bộ, chiến sĩ trên đảo Cồn Cỏ an tâm tư tưởng, xác định nhiệm vụ, xây dựng củng cố các công trình quốc phòng, xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh và khu vực phòng thủ vững chắc [11]. Đến hết năm 2022, kinh tế - xã hội của huyện đảo được tiếp tục phát triển, cơ sở hạ tầng được quan tâm đầu tư với một số công trình được hoàn thành và đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả thiết thực, các mô hình phát triển sản xuất được triển khai và tạo việc làm ổn định cho người dân, các hoạt động văn hóa - thể thao được tổ chức, các thiết chế văn hóa được tiếp tục đầu tư xây dựng; an ninh trật tự được giữ vững, an ninh - quốc phòng được đảm bảo ổn định và tăng cường... [11].

        Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị đã làm việc với Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ về việc xây dựng Đề án di dân ra đảo Cồn Cỏ giai đoạn 2023 - 2025, liên quan đến các vấn đề quỹ đất để bố trí dân cư, nguồn lực thực hiện, sinh kế, phát triển sản xuất... nhằm xây dựng đề án di dân ra đảo một cách toàn diện, đồng bộ và phù hợp với điều kiện của huyện đảo, đồng thời huy động các nguồn lực để thực hiện cơ chế chính sách phù hợp với tình hình phát triển chung của huyện đảo [7]. Tuy nhiên, huyện đảo Cồn Cỏ vẫn là một trong những địa phương hải đảo đặc biệt khó khăn (theo Quyết định số 352/QĐ-TTg ngày 15 tháng 3 năm 2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang, ven biển và hải đảo giai đoạn 2021 - 2025), tình hình phát triển kinh tế - xã hội chưa có sự đột phá do nguồn thu ngân sách và nguồn vốn đầu tư trên địa bàn còn hạn chế, cơ sở hạ tầng còn chưa đồng bộ, một số chương trình và dự án còn chậm tiến độ so với kế hoạch, chất lượng dịch vụ phục vụ du lịch chưa đáp ứng được mục tiêu đặt ra, việc quản lý khai thác và sử dụng tài nguyên chưa bền vững... [11,12].

3. Bài học kinh nghiệm về di dân ra đảo tại Việt Nam

        Không chỉ tại huyện đảo Cồn Cỏ của tỉnh Quảng Trị, công tác di dân ra đảo và bố trí dân cư tại các hải đảo cũng đã và đang được thực hiện tại nhiều địa phương khác như đảo Trần của tỉnh Quảng Ninh, đảo Bạch Long Vĩ của thành phố Hải Phòng, đảo Lý Sơn của tỉnh Quảng Ngãi, Côn Đảo của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đảo Thổ Chu của tỉnh Kiên Giang... qua đó góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho không gian biển đảo trong quá trình phát triển kinh tế biển của Việt Nam [4]. Thực tế này không chỉ xuất phát từ chủ trương và quy hoạch phát triển của các cấp chính quyền mà còn nhờ có các cơ chế và chính sách khuyến khích người dân định cư lâu dài tại các hải đảo từ trước đến nay của Việt Nam. Đặc biệt, kể từ khi có Đề án xây dựng “đảo Thanh niên” toàn quốc giai đoạn 2013 - 2020 và Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2013 - 2015 và định hướng đến năm 2020, các cơ chế chính sách có liên quan ngày càng được cụ thể hóa, tạo cơ sở thuận lợi cho các huyện đảo tiếp nhận và bố trí dân cư, phát triển kinh tế, ổn định xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng tại một số hải đảo.

        Di dân ra đảo là một hoạt động có ý nghĩa chiến lược đối với việc phát triển kinh tế, ổn định xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia của Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh  Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 đã nhấn mạnh mục tiêu đưa “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển; phát triển bền vững, thịnh vượng”. Việc triển khai công tác di dân ra đảo góp phần tạo ra một môi trường sinh sống mới của người dân và khẳng định chủ quyền quốc gia. Mặc dù đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân định cư tại các đảo còn gặp nhiều khó khăn, quá trình di dân ra đảo đã bước đầu đạt được những kết quả nhất định theo đúng định hướng chính sách và phù hợp với tình hình, điều kiện phát triển thực tế của các địa phương. Tuy nhiên, công tác di dân ra đảo của Việt Nam đã và đang đạt được nhiều thành quả về tổ chức xã hội và phát triển kinh tế tại một số huyện đảo và xã đảo lớn nhưng cũng tạo ra các tác động đa chiều nếu việc di dân ra đảo không được thực hiện đồng bộ và thiếu kiểm soát đầu vào [4].

        Từ thực trạng di dân ra đảo tại huyện đảo Cồn Cỏ của tỉnh Quảng Trị, một số bài học kinh nghiệm trong công tác di dân ra đảo tại Việt Nam có thể được rút ra:

        Trước hết, chính quyền các cấp cần có định hướng chiến lược và quy hoạch di dân ra đảo cụ thể, gắn với quy hoạch và kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng của địa phương, phù hợp với bối cảnh và điều kiện thực tế, nguyện vọng và nhu cầu của người dân;

        Thứ hai, cơ sở hạ tầng cần được đặc biệt chú trọng đầu tư, bổ sung và hoàn thiện, đặc biệt là các công trình dân sinh và công trình phúc lợi nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và sản xuất để người dân yên tâm ổn định trên đảo cũng như sẵn sàng cho các đợt di dân theo kế hoạch của địa phương;

        Thứ ba, các cơ quan quản lý nhà nước các cấp cần có những cơ chế và chính sách vận động, khuyến khích và hỗ trợ di dân ra đảo cụ thể và đặc thù để hỗ trợ hoạt động sinh hoạt và sản xuất tại vùng biển đảo, đặc biệt chú trọng các vấn đề về đất đai, nhà ở, di chuyển người và tài sản, ổn định đời sống, phát triển sản xuất, đảm bảo an sinh xã hội, kết nối đảo và đất liền, phối hợp cộng đồng cùng tham gia và cùng hưởng lợi...

        Đặc biệt, tác động và thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của công tác di dân ra đảo cần được đánh giá định kỳ nhằm xác định những khó khăn và vướng mắc, xác định nguyên nhân, đồng thời xác định các ưu tiên phát triển và nhu cầu thực tiễn của địa phương nhằm kịp thời điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện định hướng, chính sách và cơ chế phù hợp.

        Ngoài ra, kinh phí thực hiện di dân ra đảo cần được huy động từ các nguồn khác nhau, từ ngân sách đến xã hội hóa được huy động hợp pháp khác nhằm tăng quy mô nguồn lực hỗ trợ di dân và bố trí dân cư, ổn định đời sống và phát triển bền vững trên đảo.

Tài liệu tham khảo

1. Lê Đức An và nhóm nghiên cứu (1995), Đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội các đảo ven bờ trong chiến lược phát triển kinh tế, Viện Địa lý - Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia.

2. Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), 100 câu hỏi - đáp về biển đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam, Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.

3. Cục Thống kê tỉnh Quảng Trị (2023), Niên giám thống kê tỉnh Quảng Trị 2022, Nhà xuất bản Thống kê.

4. Lê Văn Hương và nhóm nghiên cứu (2021), Luận cứ khoa học và giải pháp bố trí dân cư phục vụ phát triển bền vững, đảm bảo an ninh - quốc phòng hệ thống đảo ven bờ Việt Nam, Viện Địa lý - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2020), Báo cáo tổng kết Chương trình bố trí dân cư theo Quyết định số 1776/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và đề xuất nội dung bố trí dân cư các vùng: Thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, khu rừng đặc dụng giai đoạn 2021 - 2025, định hướng đến năm 2030.

6. Dương Quỳnh Phương (chủ biên), Phạm Thu Thủy, Nghiêm Văn Long và Nguyễn Thị Bình (2016), Giáo trình đại cương địa lý Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên.

7. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị (2023), Sở Nông nghiệp và PTNT làm việc với UBND huyện đảo Cồn Cỏ về xây dựng Đề án di dân ra đảo Cồn Cỏ giai đoạn 2023-2025, xem tại: http://sonnptnt.quangtri.gov.vn/chi-tiet/-/view-article/1/1648176515703/1686884093979

8. Đoàn Quang Sinh (2012), Một số ý kiến về việc hoàn thiện chính sách ổn định dân định cư lâu dài trên các hải đảo phục vụ phát triển kinh tế và giữ chủ quyền vùng biển của Tổ quốc, Tạp chí Biển Việt Nam số 6 - 7 trang 29-38.

9. Trang thông tin điện tử huyện đảo Cồn Cỏ (2016), Giới thiệu tổng quan về huyện đảo Cồn Cỏ, xem tại: https://conco.quangtri.gov.vn/

10. Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ (2016), Báo cáo số 51/BC-UBND ngày 19 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ báo cáo tình hình triển khai, thực hiện Quyết định số 2814/KH-UBND ngày 04 tháng 11 năm 2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị về ban hành kế hoạch di dân ra huyện đảo Cồn Cỏ.

11. Ủy ban nhân dân huyện đảo Cồn Cỏ (2022), Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2022; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh năm 2023.

12. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Trị (2023), Sở Nông nghiệp và PTNT làm việc với UBND huyện đảo Cồn Cỏ về xây dựng Đề án di dân ra đảo Cồn Cỏ giai đoạn 2023-2025, xem tại: http://sonnptnt.quangtri.gov.vn/chi-tiet/-/view-article/1/1648176515703/1686884093979.