CHƯƠNG TRÌNH OCOP CỦA VIỆT NAM: XUẤT PHÁT ĐIỂM VÀ CÁCH TIẾP CẬN 20/12/2021

ThS. Lê Hồng Ngọc

Viện Địa lí nhân văn

 

Mở đầu

        OCOP (One Commune One Village - Mỗi xã một sản phẩm) của Việt Nam là một chương trình phát triển kinh tế nông thôn theo hướng phát huy nội sinh và gia tăng giá trị, tăng thu nhập của người dân nông thôn và góp phần xây dựng nông thôn mới tại Việt Nam. OCOP có xuất phát điểm từ việc học hỏi kinh nghiệm và áp dụng thực hành mô hình phát triển kinh tế - xã hội tại khu vực nông thôn sử dụng các nguồn lực có sẵn làm động lực phát triển tại một số quốc gia trên thế giới, tiêu biểu là Chương trình OVOP (One Village One Product - Mỗi làng một sản phẩm) của Nhật Bản và Chương trình OTOP (One Tambon One Village - Mỗi xã một sản phẩm) của Thái Lan. Tuy nhiên, OCOP của Việt Nam có sự tiếp cận độc đáo, tận dụng được ưu điểm của OVOP và OTOP nhằm vận dụng linh hoạt trong bối cảnh và điều kiện phát triển nông nghiệp - nông thôn tại Việt Nam.

Xuất phát điểm của OCOP

        Từ những năm 1960, OVOP đã được người dân triển khai tại thị trấn Oyama thuộc tỉnh Oita của Nhật Bản với mục đích phát triển cộng đồng địa phương thông qua hoạt động canh tác cây mận và hạt dẻ trên địa hình đất núi dốc thay vì trồng lúa trên cánh đồng có năng suất thấp, qua đó ổn định sản xuất bằng cách triển khai hệ thống sản xuất quy mô nhỏ với đa dạng sản phẩm dựa trên các đặc điểm đa dạng sinh học của địa phương và nâng cấp hoạt động chế biến nông sản trở thành một ngành công nghiệp sơ cấp nhằm tạo ra việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân [1]. OVOP sau đó đã được chuyển đổi thành một phong trào phát triển nguồn nhân lực mới từ năm 1965 nhằm tập huấn cho các trang trại và hợp tác xã nông nghiệp, sau đó trở thành một phong trào phát triển cộng đồng vào những năm 1970 nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và giữ chân lao động trẻ tại địa phương trước khi trở thành phong trào OVOP diễn ra trên địa bàn toàn tỉnh Oita và lan rộng đến các vùng nông thôn khác của Nhật Bản từ những năm 1980 [2].

        Bản chất của OVOP mang tính khuyến khích các cộng đồng địa phương sản xuất nông nghiệp tạo ra một sản phẩm mang tính độc đáo nhằm tạo ra sự khác biệt về sản phẩm trên thị trường. Thông thường, một tổ chức được thành lập để phối hợp hoạt động của các chủ thể tham gia, đồng thời cung cấp những tư vấn kỹ thuật và hỗ trợ tiếp thị, thông tin thị trường cho các chủ thể này. Chính quyền địa phương chỉ đóng vai trò hỗ trợ bổ sung dưới các hình thức cung cấp các dịch vụ khuyến nông và tập huấn quảng bá sản phẩm...  và Chính phủ đóng vai trò hỗ trợ phát triển sản phẩm thông qua nâng cao công nghệ bằng cách thúc đẩy liên kết với các tổ chức nghiên cứu và đào tạo khuyến nông, hỗ trợ phân phối và mở rộng thị trường thông qua việc kêu gọi các hoạt động như tiêu dùng sản phẩm địa phương, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực bằng việc đào tạo, hỗ trợ tài chính và hướng dẫn quản lý tài chính thông qua việc thể chế hóa các hoạt động quản lý... [3].

        Phong trào này được nhân rộng và vượt ra khỏi phạm vi biên giới Nhật Bản, được triển khai tại nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Thái Lan. OTOP được triển khai vào năm 2001 trong khuôn khổ gói biện pháp hỗ trợ chính sách nhằm mục tiêu chuyển đổi nền kinh tế Thái Lan dựa vào tri thức để bắt kịp với xu thế toàn cầu và tận dụng các nguồn lực sẵn có để tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế đối với các cú sốc bên ngoài [4]. Tuy nhiên, OTOP khác với OVOP do sự khác nhau về thể chế và mục đích chính trị của Thái Lan và Nhật Bản khi chính quyền Oita mang tính tự trị cao trong khi chính quyền địa phương tại Thái Lan không thể thay thế chính phủ trong việc cải thiện các nguồn lực phục vụ phong trào [3,4] thông qua một số điểm nổi bật như:

        Về cách tiếp cận, OTOP tiếp cận từ trên xuống với sự chỉ đạo từ chính quyền trung ương trong khi OVOP tiếp cận từ dưới lên từ cộng đồng địa phương với sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. OVOP mang tính mở hơn đối với cộng đồng địa phương khi tham gia vào phong trào trong khi OTOP yêu cầu người dân phải đăng ký với ủy ban OTOP địa phương trước khi triển khai... Về tổng thể, cách tiếp cận chủ đạo của hai chương trình cũng có sự khác biệt khi OVOP tiếp cận từ dưới lên, trong khi OTOP chủ yếu tiếp cận từ trên xuống.

         Về phát triển nguồn nhân lực qua các hoạt động phát triển sản phẩm và tập huấn, đào tạo, tăng cường tri thức và kỹ năng cho người dân địa phương, OVOP tạo điều kiện cho người dân được học hỏi từ chính những người thành công và chuyên gia trong lĩnh vực sản xuất của chính sản phẩm mà họ đang sản xuất và kinh doanh, trong khi OTOP chỉ cung cấp các buổi đào tạo nghề cơ bản mà không đi sâu vào cụ thể từng sản phẩm dẫn đến người dân khó có thể xác định được lợi thế so sánh của họ trong sản xuất và kinh doanh.

        Về quản lý tài chính, OVOP khuyến khích người dân chủ động và sáng tạo trong việc tìm kiếm nguồn tài chính mà không có sự trợ cấp từ chính phủ, trong khi nguồn tài chính dành cho OTOP hoàn toàn được cấp từ ngân sách nhà nước.

        Về quảng bá và marketing, hai phong trào có sự tương đồng về các hoạt động quảng bá như xây dựng các cửa hàng địa phương, đưa các sản phẩm địa phương vào những chuỗi nhà hàng và hội chợ ẩm thực, quảng cáo trên các trang web và các kênh phương tiện truyền thông... Tuy nhiên, OVOP nhấn mạnh đây là hoạt động quan trọng, trong khi OTOP chỉ khuyến khích sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương đối với người dân trong việc quảng bá sản phẩm.

        Nhìn chung, OVOP được đánh giá là một chính sách phát triển nội sinh thực sự đối với địa phương trong khi OTOP thực chất là một hoạt động do chính phủ điều phối dành cho các nhà sản xuất đặc sản địa phương. Việc ứng dụng và nhân rộng OVOP của Nhật Bản cũng được triển khai tại nhiều quốc gia khác. Mặc dù có tên gọi khác nhau tại mỗi quốc gia, các chương trình đều có những đặc điểm chung như tiếp cận phát huy giá trị nội sinh gắn với tổ chức cộng đồng, tổ chức sản xuất gắn với phát huy tiềm năng của các sản phẩm đặc sản địa phương, phát triển kinh tế gắn với các chính sách hỗ trợ phù hợp, xúc tiến thương mại gắn với tiếp cận thương mại các giá trị địa phương và quốc gia để thúc đẩy tiêu dùng và nâng cao giá trị gia tăng...

Cách tiếp cận của OCOP

         Trọng tâm của OCOP là phát triển sản phẩm nông nghiệp và phi nông nghiệp cùng các dịch vụ có lợi thế ở các địa phương theo chuỗi giá trị gắn với các chủ thể tham gia là các thành phần kinh tế tập thể và tư nhân; trong đó nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách thực hiện, định hướng quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa và dịch vụ, quản lý và giám sát tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, hỗ trợ các khâu (đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học - công nghệ, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm...) [5]. Tương tự như OVOP và OTOP, OCOP được thực hiện trong phạm vi quốc gia và lựa chọn đơn vị "xã" (một xã hoặc nhiều xã, liên xã, liên huyện sản xuất một hoặc nhiều sản phẩm) để triển khai. Đặc biệt, OCOP được lồng ghép thực hiện gắn với đối tượng "xã nông thôn mới" trong chương trình xây dựng nông thôn mới và gắn với hệ thống chính quyền cấp xã thực hiện trực tiếp [6] cho thấy sự kết nối với các chương trình phát triển nông nghiệp - nông thôn khác đã và đang được triển khai tại địa phương.

Logo OCOP của Chương trình OCOP Quốc gia iColor Branding

Nguồn: ocop.gov.vn/

        OCOP được thực hiện dựa trên các nguyên tắc: Hành động địa phương hướng đến toàn cầu nhằm phản ánh niềm tự hào của văn hóa địa phương làm điểm mạnh để cạnh tranh, luôn yêu cầu cải tiến công nghệ truyền thống để tạo ra sản phẩm được thị trường thế giới chấp nhận; tự lực, tự tin và sáng tạo thông qua các cách thức hành động phù hợp trong lựa chọn sản phẩm của địa phương và tổ chức sản xuất hiệu quả nhất; đào tạo nguồn nhân lực trẻ thông qua việc tạo động lực và trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để đem lại hiệu quả cho việc phát triển nông thôn của địa phương. Do đó, OCOP hướng đến mục tiêu phát triển các hình thức tổ chức sản xuất và kinh doanh để sản xuất các sản phẩm truyền thống và dịch vụ có lợi thế đạt tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước góp phần phát triển kinh tế nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập và đời sống cho người dân, qua đó góp phần thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý, bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá trị truyền thống tốt đẹp của nông thôn Việt Nam [5, 6].

        OCOP có cách tiếp cận từ dưới lên khi xuất phát từ các yêu cầu phát huy tiềm năng và lợi thế truyền thống của địa phương để phát triển các sản phẩm đặc sản có giá trị cao về kinh tế và văn hóa, phát huy sự sáng tạo và sức mạnh cộng đồng để tổ chức sản xuất và hình thành các sản phẩm gắn với giá trị cộng đồng, phát triển liên kết theo chuỗi giá trị để nâng cao năng lực sản xuất và phát triển bền vững các sản phẩm hàng hóa. Sản phẩm OCOP bao gồm hàng hóa và dịch vụ có nguồn gốc từ địa phương hoặc được thuần hóa (đặc sản vùng, miền) trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh và điều kiện sinh thái, văn hóa, nguồn gen, tri thức và công nghệ của địa phương. Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác và các hộ sản xuất có đăng ký kinh doanh tại địa phương.

        Tuy nhiên, OCOP có cách tiếp cận hệ thống và toàn diện hơn khi quá trình triển khai OCOP có sự đồng hành từ trên xuống của Chính phủ, Bộ ngành, chính quyền địa phương và các cơ quan hữu quan trong các hoạt động xác định và phát triển sản phẩm và dịch vụ OCOP, xây dựng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm OCOP, đào tạo nhân lực, xúc tiến thương mại sản phẩm OCOP, xây dựng và triển khai các nhiệm vụ, đề án, dự án thành phần OCOP... Trong đó, vai trò của nhà nước được đặc biệt nhấn mạnh trong công tác xúc tiến thương mại như quảng cáo và tiếp thị sản phẩm, thương mại điện tử, tổ chức sự kiện quảng bá sản phẩm OCOP gắn liền với phát triển du lịch, hội chợ, triển lãm sản phẩm OCOP các cấp, xây dựng hệ thống Trung tâm thiết kế sáng tạo phát triển sản phẩm OCOP gắn với hỗ trợ khởi nghiệp và thiết kế mẫu mã sản phẩm OCOP, xây dựng Điểm giới thiệu và bán sản phẩm... đối với sản phẩm OCOP từ hạng 3 sao trở lên và thuộc danh mục sản phẩm trong kế hoạch thực hiện OCOP và danh mục sản phẩm chủ lực của tỉnh, tiêu biểu và đặc trưng, đặc sản, tiềm năng, lợi thế của địa phương do Sở Công thương lựa chọn... đã được ban hành [7].

        Cách tiếp cận hệ thống này được thể hiện rõ trong quy trình triển khai OCOP trên cơ sở nguyên tắc "dân biết, dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng" đề xuất từ dưới lên dựa vào nhu cầu và khả năng của hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp. Xuất phát từ công tác tuyên truyền được thực hiện rộng rãi trong cộng đồng và chủ thể sản xuất giúp các chủ thể hiểu được kế hoạch và nội dung OCOP và xây dựng được phiếu đăng ký ý tưởng sản phẩm, cán bộ OCOP cấp xã sẽ thực hiện nhận ý tưởng sản phẩm từ chủ thể và chuyển cán bộ OCOP cấp huyện tổ chức đánh giá ý tưởng sản phẩm. Những ý tưởng đạt yêu cầu sẽ được tiến hành tập huấn xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, trong khi những ý tưởng sản phẩm không đạt sẽ được trả lại. Sau tập huấn, các chủ thể cần xây dựng được phương án sản xuất kinh doanh và nộp cho OCOP xã, huyện. Cán bộ OCOP huyện tiến hành nhận phương án, dự án sản xuất kinh doanh và tiến hành tổ chức đánh giá. Những phương án không đạt sẽ được trả lại chủ thể để xây dựng lại, những phương án được chấp nhận sẽ được tập huấn, tư vấn, hướng dẫn để triển khai phương án. Chủ thể sẽ tiến hành triển khai, đưa phương án, dự án sản xuất kinh doanh vào thực tế. Các bên liên quan gồm cán bộ OCOP, cơ quan nhà nước, nhà tư vấn sẽ tư vấn và hỗ trợ tại cơ sở. Kết quả của bước này là chủ thể phải có sản phẩm hoàn thiện nhất có thể, chuẩn bị đầy đủ minh chứng và hồ sơ về sản phẩm. OCOP các cấp sẽ thực hiện công tác đánh giá, phân hạng sản phẩm theo quy trình đánh giá cấp huyện, tỉnh, Trung ương. Những sản phẩm đạt từ 3 sao trở lên sẽ được hỗ trợ xúc tiến thương mại trong nước và quốc tế.

Nguồn: [5]

         Sản phẩm OCOP được đánh giá tại cấp huyện và được công nhận, xếp hạng tại cấp tỉnh và trung ương. Tuy nhiên, các tiêu chí đánh giá này không quy định những tiêu chuẩn tối thiểu của mỗi cấp độ dẫn tới việc chuẩn hóa sản phẩm không đồng đều giữa các nội dung đánh giá. Để khắc phục những bất cập này, quy định về những tiêu chuẩn tối thiểu mà mỗi cấp độ phải đạt được đã được ban hành nhằm mục tiêu xác định rõ sự khác biệt giữa các cấp độ, khắc phục được một số hạn chế trong xây dựng các giải pháp nâng cấp, chuẩn hóa, phát triển sản phẩm cũng như hỗ trợ định hướng mục tiêu cho chủ thể chuẩn hóa và phát triển sản phẩm [8].

        Qua đây, có thể thấy rằng từ việc học hỏi tiếp nhận kinh nghiệm quốc tế cho đến ứng dụng thực tiễn các mô hình OVOP và OTOP, Việt Nam đã rất linh hoạt và sáng tạo trong việc triển khai OCOP, đặc biệt có cách tiếp cận hệ thống và toàn diện hơn gắn với việc lồng ghép thực hiện các mục tiêu phát triển nông nghiệp - nông thôn nói riêng và phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước nói chung. OCOP đã được triển khai trong giai đoạn 2018 - 2020 tại 100% tỉnh, thành phố trên cả nước và đạt được nhiều kết quả tích cực như tốc độ phát triển mạnh mẽ với các sản phẩm chủ lực cấp địa phương, thúc đẩy ngành nghề tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn... mang hiệu quả tác động về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường, góp phần quảng bá hình ảnh của nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam trong phát triển kinh tế - xã hội và giảm nghèo bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Katsuaki Takai (2012), Endogenous regional development utilizing local resources in Japan, Nagoya.

2. Nguyen Thi Anh Thu (2013), One Village One Product (OVOP) in Japan to One Tambon One Product (OTOP) in Thailand: Lessons for grass root development in developing countries, Journal of Social and Development Sciences, 4 (12), 529-537.

3. Jun Yamazaki (2010), A comparative analysis of One Village One Product (OVOP) and its replicability in international development, Hague.

4. Chaweewan Denpaiboon & Kochakorn Amatasawatdee (2012), Similarity and difference of One Village One Product (OVOP) for rural development strategy in Japan and Thailand, Japanese Studies Journal Special Issues: Regional Cooperation for Sustainable Future in Asia, 52-62.

5. Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 7/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020.

6. Quyết định số 2277/QĐ-BNN-VPĐP ngày 5/6/2017 của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về việc phê duyệt Đề cương Đề án Chương trình quốc gia Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2017 - 2020 định hướng đến năm 2030 và bộ công cụ điều tra, khảo sát.

7. Quyết định số 920/QĐ-BCT ngày 16/4/2019 của Bộ trưởng Bộ Công thương về việc ban hành Tiêu chí Điểm giới thiệu và bán sản phẩm thuộc Chương trình Mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2019 - 2020.

8. Quyết định số 781/QĐ-TTg ngày 8/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số Phụ lục Quyết định số 1048/QĐ-TTg ngày 21 tháng 8 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá, phân hạng sản phẩm Chương trình mỗi xã một sản phẩm.