THẬP KỶ PHỤC HỒI HỆ SINH THÁI TOÀN CẦU VÀ SÁNG KIẾN MỘT TỶ CÂY XANH CỦA VIỆT NAM 14/12/2021

TS. Nguyễn Đình Đáp

Viện Địa lí nhân văn

Mở đầu

         Thế giới đang chứng kiến tốc độ suy thoái đa dạng sinh học và hệ sinh thái chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Do vậy, Đại hội đồng Liên hợp quốc tuyên bố giai đoạn 2021 - 2030 là Thập kỷ về phục hồi hệ sinh thái toàn cầu nhằm nhân rộng trên quy mô lớn việc phục hồi các hệ sinh thái đang bị suy thoái để chống lại cuộc khủng hoảng khí hậu, cải thiện chất lượng môi trường sống, tăng cường an ninh lương thực, nguồn nước và đa dạng sinh học. Việt Nam được đánh giá là 1 trong 16 quốc gia có đa dạng sinh học cao. Tuy nhiên, cũng như nhiều quốc gia khác, chúng ta đang đứng trước không ít thách thức trong suy giảm đa dạng sinh học và hệ sinh thái. Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện những giải pháp phục hồi hệ sinh thái, tiêu biểu nhất là sáng kiến trồng mới một tỷ cây xanh vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Suy giảm hệ sinh thái toàn cầu

        Theo Báo cáo đánh giá dịch vụ hệ sinh thái toàn cầu của Liên hợp quốc (năm 2019), 75% hệ sinh thái trên bề mặt trái đất đã có sự thay đổi, 85% diện tích khu vực đất ngập nước bị mất đi, suy thoái đất làm giảm 23% năng suất các hệ sinh thái cạn, khoảng từ hơn 200 đến hơn 500 tỷ đô la từ sản lượng cây trồng toàn cầu hàng năm đối mặt với rủi ro cao do mất nguồn hỗ trợ cho thụ phấn [11].

        Ngăn chặn tốc độ suy thoái, tăng cường phục hồi hệ sinh thái là nhiệm vụ hết sức thách thức đang được đặt ra và thảo luận trong khuôn khổ thực hiện Công ước Đa dạng sinh học cũng như các quốc gia trên thế giới [1]. Sự suy thoái của hệ sinh thái đất liền và biển làm giảm phúc lợi của 3,2 tỷ người và làm mất khoảng 10% tổng sản phẩm toàn cầu hàng năm do mất các loài và dịch vụ hệ sinh thái [11]. Hiện tại, khoảng 20% bề mặt thảm thực vật trên hành tinh cho thấy xu hướng giảm năng suất liên quan đến xói mòn, cạn kiệt và ô nhiễm ở tất cả các nơi trên thế giới. Đến năm 2050, suy thoái và biến đổi khí hậu có thể làm giảm 10% năng suất cây trồng trên toàn cầu và tới 50% ở một số khu vực [12].

        Theo tính toán, việc khôi phục 350 triệu ha đất bị thoái hóa từ nay đến năm 2030 có thể tạo ra 9 nghìn tỷ USD giá trị dịch vụ hệ sinh thái và hấp thu thêm 13-26 tỷ tấn khí thải nhà kính từ khí quyển [9]. Ngoài ra, một nghiên cứu cho thấy hơn hai tỷ ha cảnh quan bị phá hủy và suy thoái của thế giới có tiềm năng phục hồi [6].

Sáng kiến phục hồi hệ sinh thái toàn cầu

        Thập kỷ về phục hồi hệ sinh thái của Liên hợp quốc 2021-2030 nhằm bảo vệ và hồi sinh các hệ sinh thái trên toàn thế giới, vì lợi ích của con người và thiên nhiên; ngăn chặn sự suy thoái của các hệ sinh thái và khôi phục chúng để đạt được các mục tiêu toàn cầu. Chỉ với các hệ sinh thái lành mạnh, chúng ta mới có thể nâng cao sinh kế của người dân, chống lại biến đổi khí hậu và ngăn chặn sự sụp đổ của đa dạng sinh học. Năm 2030 cũng là thời hạn cuối cùng của các Mục tiêu Phát triển bền vững và mốc thời gian mà các nhà khoa học đã xác định là cơ hội cuối cùng để ngăn chặn thảm họa biến đổi khí hậu.

        Phục hồi hệ sinh thái được định nghĩa là một quá trình đảo ngược sự xuống cấp của các hệ sinh thái như cảnh quan thiên nhiên, biển và đại dương để lấy lại chức năng sinh thái của chúng, nói cách khác là cải thiện năng suất và năng lực của các hệ sinh thái để đáp ứng nhu cầu xã hội. Điều này có thể được thực hiện bằng cách để các hệ sinh thái bị khai thác quá mức được tái sinh tự nhiên hoặc bằng cách trồng cây và các loại thực vật khác [10].

Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái 2021 - 2030 của Liên hợp quốc

Nguồn: UNEP, 2021

        Tất cả các hệ sinh thái có thể phục hồi được, bao gồm rừng, đất nông nghiệp, đất ngập nước, đại dương, hệ sinh thái đô thị... Các sáng kiến ​​phục hồi có thể được thực hiện từ các chính phủ đến các cơ quan phát triển, các doanh nghiệp, cộng đồng và cá nhân, từ những việc làm nhỏ nhất như trồng thêm cây xanh, cải thiện cơ chế chính sách bảo tồn tài nguyên và bảo vệ môi trường [12].

        Ví dụ, sự suy thoái có thể xuất phát từ các chính sách phát triển kinh tế nhưng thiếu chú trọng bảo vệ môi trường, chuyển đổi mục đích sử dụng đất dẫn đến mất rừng và suy thoái rừng; ô nhiễm biển và đại dương do chất thải công nghiệp và sinh hoạt, đặc biệt là chất thải nhựa; đô thị hóa, gia tăng dân số, phát triển hạ tầng và giao thông có thể khiến nông thôn và thành phố có quá nhiều đường nhựa và quá ít không gian xanh.

Suy thoái các hệ sinh thái tại Việt Nam

        Các hệ sinh thái với nguồn tài nguyên sinh vật phong phú đã mang lại những lợi ích trực tiếp cho con người và đóng góp to lớn cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực quốc gia; duy trì nguồn gen tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp các nguồn dược liệu, thực phẩm… Ngoài ra, trong bối cảnh ô nhiễm ngày càng gia tăng, biến đổi khí hậu đang trở nên khắc nghiệt thì vai trò của các hệ sinh thái càng có ý nghĩa lớn trong cải thiện chất lượng môi trường và giúp giảm nhẹ các tác động tiêu cực của thiên tai [2,4].

        Tuy nhiên, theo Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng (MCD), Việt Nam là một trong các quốc gia tổn hại lớn về hệ sinh thái tự nhiên. Với hệ sinh thái rừng, hiện diện tích đất có rừng toàn quốc gần 14,5 triệu ha, trong đó rừng tự nhiên hơn 10 triệu ha và rừng trồng hơn 4 triệu ha. Từ năm 2005 đến năm 2017, diện tích rừng trồng và cải tạo tự nhiên đã tăng từ 34,6% đến hơn 41,4%; diện tích rừng tự nhiên giảm từ 12 triệu ha còn 2,8 triệu ha, trong đó tới 80% ở mức duy trì kém; giai đoạn 2012-2017, 11% diện tích rừng tự nhiên đã bị mất do chặt phá trái phép, 89% còn lại do chuyển mục đích sử dụng [7].

        Điều đáng lo ngại là chất lượng rừng tự nhiên tiếp tục giảm. Tuy độ che phủ rừng có xu hướng tăng nhưng chủ yếu là rừng trồng với mức đa dạng sinh học thấp, trong khi rừng tự nhiên có đa dạng sinh học cao nhưng tỷ lệ bảo tồn rất thấp. Theo Cục Bảo tồn thiên nhiên và Đa dạng sinh học, rừng nguyên sinh chỉ còn khoảng 0,57 triệu ha, chỉ 1% các rạn san hô có độ phủ trên 75%, số loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam ngày càng tăng với 1.112 loài [10].

        Môi trường hệ sinh thái đất ngập nước ven biển, vùng biển ven bờ đang chịu ảnh hưởng do xung đột giữa phát triển khu công nghiệp và bảo tồn ở vùng cửa sông châu thổ sông Hồng, rác thải từ nhà máy công nghiệp ở miền Trung, phát triển quá mức lồng bè nuôi ở các vụng, vịnh biển.

        Diện tích các hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên như rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng tràm, hồ tự nhiên có xu hướng suy giảm nhưng các kiểu đất ngập nước nhân tạo như hồ chứa nước, ao nuôi trồng thủy sản, đất trồng lúa, ao xử lý nước thải… có chiều hướng gia tăng. Vùng đầm lầy than bùn cũng bị thu hẹp diện tích và giảm độ dày tầng than bùn. Năm 1950, khu vực rừng tràm vùng U Minh có đến 400.000 ha thì hiện nay, diện tích đất than bùn chỉ còn 2.800 ha ở U Minh Thượng và 7.500 ha ở U Minh Hạ với độ dày từ 0,4 - 1,2 m. Thảm cỏ biển năm 2012 cũng giảm diện tích 50% so với năm 1999, riêng ở đầm Tam Giang - Cầu Hai là đầm phá lớn nhất đã giảm tới 60% [5, 8].

Sáng kiến một tỷ cây xanh của Việt Nam

        Việt Nam đã và đang tích cực tham gia các Điều ước quốc tế về môi trường như: Công ước Đa dạng sinh học, Công ước Ramsar, Công ước CITES, Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu... Trong đó, Việt Nam là nước thứ 7 ở ASEAN tham gia CITES, là nước đầu tiên ở ASEAN xây dựng kế hoạch hành động quốc gia về quản lý buôn bán động thực vật hoang dã. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực trong quá trình xây dựng khung toàn cầu về đa dạng sinh học và biến đổi khí hậu, giảm thiểu rác thải nhựa đại dương...

        Tuy nhiên, thời gian qua, vấn đề ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn của Việt Nam, các hiện tượng thiên tai và thời tiết cực đoan diễn ra ngày càng khốc liệt hơn, với tần suất dày hơn. Điển hình là hậu quả bão lũ và sạt lở đất ở miền Trung, vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên do địa hình dốc đứng, do sự tác động của con người, trong đó có thủy điện nhỏ, công trình hạ tầng… điều đó cho thấy vai trò quan trọng của việc bảo vệ rừng, nâng cao độ che phủ của cây xanh.

        Theo Đề án trồng một tỷ cây xanh được Thủ tướng phê duyệt, đến hết năm 2025, cả nước trồng được một tỷ cây xanh, trong đó 690 triệu cây trồng phân tán ở các khu đô thị và vùng nông thôn, 310 triệu cây trồng tập trung trong rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và trồng mới rừng sản xuất, nhằm góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, cải thiện cảnh quan và ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

        Cây xanh giúp quốc gia đạt được lợi ích kinh tế, xã hội, cải thiện uy tín của chính phủ như nhiều quốc gia đã làm. Một tỷ cây xanh - đó là cam kết mạnh mẽ của Việt Nam đóng góp vào nỗ lực phục hồi hệ sinh thái toàn cầu của Liên hợp quốc, là khởi đầu của một đất nước ứng xử tử tế hơn với môi trường và các thế hệ tương lai.

        Tại khu vực đô thị, cây xanh được trồng trên vỉa hè đường phố, công viên, vườn hoa, quảng trường; trong khuôn viên các trụ sở, trường học, bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, các công trình tín ngưỡng, vườn nhà và các công trình công cộng khác.

        Tại khu vực nông thôn, cây xanh được trồng trên đất vườn nhà, hành lang giao thông, ven sông, kênh, mương, bờ vùng, bờ thửa, nương rẫy; trong khuôn viên các trụ sở, trường học, bệnh viện, nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp, khu chế xuất, các công trình tín ngưỡng và các công trình công cộng khác; kết hợp phòng hộ trong khu canh tác nông nghiệp và các mảnh đất nhỏ phân tán; các khu vực có nguy cơ sạt lở cao, đất bị suy thoái, sa mạc hóa, bãi thải khai thác khoáng sản và đất chưa sử dụng khác.

        Đối với rừng đặc dụng, trồng các loài cây bản địa có phân bố tự nhiên trong hệ sinh thái của rừng đặc dụng đó; đối với rừng phòng hộ, trồng các loài cây có bộ rễ sâu bám chắc, ưu tiên cây bản địa, sinh trưởng được trong điều kiện khắc nghiệt và có khả năng chống chịu tốt; đối với rừng sản xuất, trồng các loài cây có năng suất, chất lượng cao, khuyến khích sử dụng các giống cây sản xuất bằng mô, hom, kết hợp trồng cây gỗ nhỏ mọc nhanh và cây gỗ lớn dài ngày.

Kết luận

        Cũng giống như nhiều quốc gia khác trên toàn cầu, Việt Nam cũng đang đối mặt với nguy cơ suy thoái đa dạng sinh học và sự mất cân bằng hệ sinh thái diễn ra mạnh mẽ, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người. Mối đe dọa này đến từ những nguyên nhân khách quan như áp lực tăng dân số, khai thác và sử dụng quá mức các nguồn đa dạng sinh học, tác động của biến đổi khí hậu và cả những nguyên nhân chủ quan do tác động của con người.

        Triển khai hành động vì Thập kỷ phục hồi hệ sinh thái, Việt Nam đã ban hành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể. Đặc biệt là sáng kiến một tỷ cây xanh do Thủ tướng Chính phủ phát động; tập trung xây dựng hoàn thiện Chiến lược quốc gia về Đa dạng sinh học trong giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; Đề án kiểm kê, quan trắc, lập báo cáo và xây dựng cơ sở dữ liệu đa dạng sinh học giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2040…

        Bên cạnh đó, cấp độ chính sách, cần khuyến khích nghiên cứu và áp dụng các giải pháp dựa vào thiên nhiên, tiếp cận hệ sinh thái trong quá trình xây dựng các quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh để giảm nhẹ tác động từ sự phát triển kinh tế - xã hội tới các hệ sinh thái; quản lý hiệu quả các khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên; áp dụng tiếp cận hệ sinh thái trong quản lý tổng hợp đới bờ, lưu vực sông, quản lý rừng bền vững, chú trọng vai trò và quyền lợi của cộng đồng; xây dựng và thực hiện các mô hình kinh tế tuần hoàn, sử dụng bền vững và tối ưu hoá tài nguyên thiên nhiên.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021), Dự thảo Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2013), Báo cáo quốc gia lần thứ 5 thực hiện Công ước ĐDSH, giai đoạn 2009 - 2013.

3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Báo cáo giữa kỳ về tình hình thực hiện Chiến lược quốc gia về ĐDSH đến 2020, tầm nhìn đến 2030.

4. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2018). Báo cáo đa dạng sinh học quốc gia.

5. Hoàng Thị Thanh Nhàn (2021), Kết quả thực hiện Chiến lược quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 và định hướng Chiến lược đến năm 2030. Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, kỳ 2, tháng 8/2020.

6. IPBES (2019), Báo cáo đánh giá toàn cầu về đa dạng sinh học và các dịch vụ hệ sinh thái, IUCN-Việt Nam.

7. Lê Xuân Cảnh (2021), Hiện trạng hệ sinh thái ở Việt Nam: Những thách thức và đề xuất một số giải pháp phục hồi, Tạp chí Môi trường, số Chuyên đề tiếng Việt III/2021.

8. Thuaire B, Allanic Y, Hoàng Việt A, Lê Khắc Q, Lưu Hồng T, Nguyễn Thế C, Nguyễn Thị T (2021), Đánh giá đa dạng sinh học ở Việt Nam - Phân tích tác động từ một số lĩnh vực kinh tế. WWF- Việt Nam.

9. Trần Huyền Trang, Thập kỷ Liên hợp quốc về phục hồi hệ sinh thái 2021 - 2030, Tạp chí Môi trường, số 4/2021.

10. Trần Văn Bằng (2020), Đa dạng sinh học ở Việt Nam: thực trạng và thách thức bảo tồn, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, số tháng 4/2020.

11. UNEP (2020), Ecological restoration.

12. UNEP (2021), Ecosystem restoration playbook. Developed for World Environment Day 2021. To kick off the United Nations Decade on Ecosystem Restoration (2021-2030).