ĐƯỜNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VĂN HÓA VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XII

17/10/2016

 Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016) là một nhiệm vụ mới, liên quan đến sự đổi mới tư duy về phát triển văn hóa phù hợp với tiêu chí của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đồng thời, phát triển công nghiệp văn hóa cần thiết phải gắn kết với yêu cầu xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới - nhiệm vụ đã luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam định hướng, chỉ đạo trong cả các văn kiện, nghị quyết, chiến lược,… trước Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng.

1. Khái niệm “Công nghiệp văn hóa”

Khái niệm “công nghiệp văn hóa” xuất hiện đầu tiên ở Mỹ, sau đó được nêu ra đầy đủ và hoàn thiện hơn trong luận điểm của một số học giả phương Tây. Những thập niên cuối thế kỷ XX, khi nền văn hóa đại chúng xuất hiện ở nhiều nước trên thế giới thì công nghiệp văn hóa được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn từ lý thuyết đến thực tiễn. Đến Hội nghị Thượng đỉnh về hoạt động văn hóa được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển) tháng 4/1998, thuật ngữ công nghiệp văn hóa chính thức được công bố và thông qua bởi đại biểu của gần 200 quốc gia.

Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn đang tồn tại nhiều tranh luận trong quan niệm về ngành công nghiệp văn hóa cũng như sự phân loại các lĩnh vực thuộc ngành công nghiệp này. Xuất phát từ các góc độ tiếp cận khác nhau của các nhà khoa học, các nhà quản lý cũng như từ điều kiện phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi định chế kinh tế, văn hóa, khái niệm các ngành công nghiệp văn hóa còn được biết tới với nhiều tên gọi khác nhau. Khá phổ biến là các khái niệm:

- Khái niệm “Các ngành công nghiệp văn hóa” (Cultural Industries) được Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) và nhiều nước như Phần Lan, Tây Ban Nha, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc,... sử dụng rộng rãi. Theo quan điểm của UNESCO, thuật ngữ “Các ngành công nghiệp văn hoá” được áp dụng cho “các ngành công nghiệp kết hợp sự sáng tạo, sản xuất và khai thác các nội dung có bản chất phi vật thể và văn hóa. Các nội dung này thường được bảo vệ bởi luật bản quyền và thể hiện dưới dạng sản phẩm hay dịch vụ” (UNESCO, 2009).

Cũng theo UNESCO, các ngành công nghiệp văn hóa thường bao gồm: in ấn, xuất bản, đa phương tiện, nghe nhìn, ghi âm, điện ảnh, thủ công và thiết kế.

- Khái niệm “Các ngành công nghiệp sáng tạo” (Creative Industries) được một số nước như Anh, Ô-xtrây-lia, Niu Di-lân, Xin-ga-po sử dụng. Được gọi là “công nghiệp sáng tạo” bởi đây là những hoạt động bắt nguồn từ sự sáng tạo, kỹ năng và năng khiếu của cá nhân, có tiềm năng tạo ra của cải qua quá trình khai thác quyền sở hữu trí tuệ. Với quan điểm này, ngành công nghiệp sáng tạo đã trở thành một phần của chính sách kinh tế. Tại Anh, khái niệm “Công nghiệp sáng tạo” xuất hiện từ cuối thế kỷ XX đã tạo ra quan điểm kinh tế về chính sách văn hóa. Chính phủ Anh đã xác định danh mục 13 ngành thuộc công nghiệp sáng tạo, bao gồm: quảng cáo; kiến trúc; thị trường nghệ thuật và đồ cổ; nghề thủ công; thiết kế; thiết kế thời trang; phim, video và nhiếp ảnh; âm nhạc, nghệ thuật thị giác và nghệ thuật biểu diễn; xuất bản; phần mềm, các trò chơi máy tính và xuất bản điện tử; truyền hình và phát thanh (Andrew Senior, 8/2008).

- Khái niệm “Các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo” (Cultural and Creative Industries) được Đài Loan, Vương quốc Anh và Ô-xtrây-lia sử dụng. Bên cạnh quan điểm chính thống của chính phủ về “ngành công nghiệp sáng tạo” thì khái niệm “công nghiệp văn hóa và sáng tạo” hay “nền kinh tế sáng tạo và văn hoá” vẫn được sử dụng song song với hàm ý nhấn mạnh vào hai đặc tính chính của lĩnh vực (Phạm Bích Huyền & Đặng Hoài Thu, 2009). Theo quan điểm này, ngành công nghiệp văn hóa không thể thiếu yếu tố sáng tạo vì sáng tạo là bản chất của văn hóa, nghệ thuật. Nếu văn hóa, nghệ thuật không có tìm tòi, đổi mới, không có thể nghiệm thì không thể tồn tại. Mặt khác, mọi sự sáng tạo của con người có ý nghĩa xã hội và nhân văn đều có tính văn hóa. Hai mặt “sáng tạo” và “văn hóa” là hai phạm trù có tính chất nhân quả và được gắn kết chặt chẽ.

- Khái niệm “Các ngành công nghiệp nghệ thuật” (Arts Industries) được một số học giả Ca-na-đa và Mỹ đưa ra. Theo cách hiểu này thì công nghiệp nghệ thuật là các ngành sử dụng và sáng tạo ra sản phẩm nghệ thuật, tương tự như nghĩa “khai thác” và “sáng tạo”, “sản xuất” sản phẩm nghệ thuật. Quan điểm này có điểm chung nhưng cũng có sự khác biệt với quan niệm về công nghiệp văn hóa và công nghiệp sáng tạo được trình bày ở trên. Công nghiệp nghệ thuật bao gồm các doanh nghiệp: Sử dụng một hoặc nhiều loại hình nghệ thuật như một yếu tố cơ bản của sản xuất (quảng cáo, thời trang, thiết kế,...); dựa trên một hoặc nhiều loại hình nghệ thuật như các hàng hóa gắn kết trong tiêu thụ (các phần cứng và phần mềm giải trí gia đình); sản xuất các sản phẩm thuộc một hoặc nhiều loại hình nghệ thuật như những sản phẩm cuối cùng (Harry Hilman Chartrand, 2000).

- Các ngành công nghiệp bản quyền (Copyright Industries) sử dụng dựa theo định nghĩa của Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, xuất hiện khá phổ biến ở Mỹ, Hồng Kông. Theo quan điểm này, các “ngành công nghiệp bản quyền” được hiểu là tất cả các ngành công nghiệp sáng tạo ra sản phẩm bản quyền hoặc sản phẩm liên quan như những sản phẩm cơ bản, cốt lõi của ngành. Với cách tiếp cận ở góc độ sở hữu trí tuệ, trong đó nhấn mạnh trọng tâm là các nội dung bản quyền - kiểu mẫu - nhãn hiệu thương mại - thiết kế, việc phân loại các lĩnh vực thuộc ngành “công nghiệp bản quyền” cũng khá gần với cách phân loại theo khái niệm “công nghiệp sáng tạo”. Theo đó, bao gồm các lĩnh vực cơ bản như: quảng cáo, thiết kế, nhiếp ảnh, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, xuất bản, truyền hình, trò chơi điện tử...

Tóm lại, các ngành công nghiệp văn hóa ra đời và phát triển gắn liền với sự phát triển của nền văn hóa đại chúng, sản xuất hàng loạt, sản xuất công nghiệp. Các ngành công nghiệp văn hóa có sự kết hợp chặt chẽ giữa văn hóa, nghệ thuật với kinh tế và công nghệ. Các ngành này đều mang dấu ấn sáng tạo cá nhân, được sản xuất và phân phối theo các cấp độ và trình độ khác nhau. Trong dây chuyền sản xuất các sản phẩm và dịch vụ ấy, việc sử dụng nguồn lực trí tuệ của con người là đặc biệt quan trọng, như những nguyên vật liệu đầu vào then chốt. Con người, với sự sáng tạo đa chiều trong nghệ thuật và năng động trong kinh doanh, kết hợp với những tiến bộ của công nghệ sẽ định hình giá trị và thương hiệu của các sản phẩm công nghiệp văn hóa cũng như tính phổ biến của các sản phẩm này đối với công chúng.

Định hình khái niệm, quan niệm về “công nghiệp văn hoá”, “công nghiệp sáng tạo”, “công nghiệp bản quyền” hay là sự kết hợp “công nghiệp văn hóa và sáng tạo”... cũng như phạm vi của các ngành công nghiệp trực thuộc có thể khác nhau tùy theo đặc thù, nhất là đặc thù văn hóa của mỗi vùng, mỗi quốc gia, tùy thuộc vào sự nhấn mạnh những đặc tính khác nhau của công nghiệp văn hóa. Nhưng dù nhìn ở góc độ nào thì các quan niệm về công nghiệp văn hóa cũng thường nhấn mạnh đến hai yếu tố: công nghiệp và sáng tạo. Gọi là công nghiệp bởi đây thực sự là một ngành kinh doanh hùng mạnh, giàu tiềm năng. Ngành kinh doanh này dựa trên năng lực sáng tạo của các cá nhân trong lĩnh vực giải trí thông qua các phương tiện công nghệ hiện đại. Đây là một hệ thống liên kết trên phạm vi công nghiệp hoạt động sáng tạo của nghệ sĩ với công chúng. Chính vì thế, theo quan niệm của UNESCO, “công nghiệp văn hóa” cũng được biết đến như là công nghiệp sáng tạo, bao gồm sự sáng tạo, sản xuất và phân phối các sản phẩm và dịch vụ mang tính chất văn hóa và thường được bảo vệ bởi bản quyền.

Công nghiệp văn hóa, công nghiệp sáng tạo có thể phát triển nhanh hơn công nghiệp chế tạo vì đầu tư cho công nghiệp sáng tạo không quá lớn, chủ yếu là đầu tư chất xám và quảng bá sản phẩm nhưng lại đem lại hiệu quả kinh tế cao và lâu dài (đặc biệt là khi đã xây dựng được thương hiệu). Đã vậy, sự phát triển của công nghiệp văn hóa giúp cho nhu cầu giải trí của công chúng được đáp ứng một cách dễ dàng, sẵn có, thông qua việc tiêu dùng những sản phẩm văn hóa đại chúng. Ngành công nghiệp văn hóa có khả năng tác động mạnh mẽ vào đời sống của quảng đại quần chúng nhân dân, đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng và phức tạp của xã hội. Sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa góp phần tạo nên quá trình đa dạng hóa và dân chủ hóa về tri thức cho xã hội.

Từ những tổng hợp trên, có thể định nghĩa: Công nghiệp văn hóa là ngành công nghiệp sáng tạo, sản xuất, tái sản xuất, phổ biến, tiêu dùng các sản phẩm và các dịch vụ văn hóa bằng phương thức công nghiệp hóa, tin học hóa, thương phẩm hóa, nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa đa dạng của xã hội, các hoạt động đó được bảo vệ bởi bản quyền.

2. Định hướng phát triển công nghiệp văn hóa gắn với xây dựng con người ở Việt Nam trong thời kỳ mới

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 5, khoá VIII (năm 1998), Đảng ta đã đưa ra chính sách “kinh tế trong văn hóa” và chính sách “văn hóa trong kinh tế”, nhấn mạnh sự gắn kết kinh tế với văn hóa; xây dựng cơ chế kinh doanh, dịch vụ văn hóa theo hướng kinh tế thị trường; khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia các hoạt động văn hóa… (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1998). Đây là những luận điểm quan trọng trong tư duy phát triển đất nước, thể hiện sự nhạy bén của Đảng về phát triển văn hóa, đặt phát triển văn hóa trong sự phát triển toàn diện và chỉ ra sự thẩm thấu, tác động lẫn nhau giữa kinh tế và văn hóa.

Đến Hội nghị Trung ương 10, khóa IX (năm 2004), nhận thức về vấn đề gắn kết giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa được mở rộng hơn một bước, trong đó, Đảng ta nhấn mạnh: các hoạt động văn hóa không chỉ mang tính chất sự nghiệp mà còn mang tính kinh doanh với sự tham gia của các doanh nghiệp văn hóa; thị trường văn hóa cần phải được vận hành và điều tiết theo quy luật kinh tế thị trường (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2004). 

Từ những thành quả bước đầu của thực tiễn đổi mới, năm 2009, “Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020” đã đưa ra nhận định: “Cơ chế thị trường huy động được sự tham gia của các thành phần kinh tế vào sản xuất, phổ biến các sản phẩm văn hóa, kích thích một số ngành sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực văn hóa xuất hiện, mở ra khả năng giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, tạo tiền đề cho việc phát triển “công nghiệp văn hóa” ở nước ta” (Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009). Chiến lược cũng khẳng định: “Phát triển công nghiệp văn hóa đang là xu thế lớn và quan trọng trong chính sách văn hóa của các nước trên thế giới” (Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2009). 

Yêu cầu đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa một lần nữa được Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương khóa XI nhấn mạnh trong Nghị quyết về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Với những nhận thức đúng đắn về vai trò của ngành công nghiệp văn hóa cũng như sự cần thiết phải thúc đẩy nhanh sự phát triển các lĩnh vực thuộc ngành này trong giai đoạn hiện nay, lần đầu tiên trong các văn kiện của Đảng, khái niệm “công nghiệp văn hóa” chính thức được đề cập. Một trong 6 nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước được Đảng ta xác định tại Hội nghị có nhiệm vụ “phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa” với mục đích “khai thác và phát huy những tiềm năng và giá trị đặc sắc của văn hóa Việt Nam; khuyến khích xuất khẩu sản phẩm văn hoá, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014, tr.56).

Cân nhắc yêu cầu, điều kiện cụ thể của đất nước trong 5 năm tới, kế thừa có chọn lọc Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI và tiếp thu những định hướng được nêu trong Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI về văn hóa, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII lựa chọn, định hướng 7 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, trong đó nhấn mạnh một số nội dung mới, trong đó: Đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là: 1) Đúc kết, từng bước xây dựng trong thực tế các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân; 2) Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật; làm cho mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc; khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn; 3) Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người; ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam. 

Gắn xây dựng con người với xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, trong đó chú trọng: 1) Xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa lành mạnh trong hệ thống chính trị, trong mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và mỗi gia đình; 2) Phát huy vai trò văn hóa trong gia đình, nhà trường, cộng đồng; 3) Thường xuyên quan tâm xây dựng nếp sống văn hóa tiến bộ, văn minh, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội; nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"; 4) Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và các giai tầng xã hội; 5) Phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng. 

Đề cao nhiệm vụ xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế: 1) Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; 2) Thường xuyên quan tâm xây dựng văn hóa trong kinh tế; xây dựng văn hóa doanh nghiệp, văn hóa doanh nhân. Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa, cụ thể: 1) Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa; 2) Tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp văn hóa, văn nghệ, thể thao, du lịch thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển; 3) Đổi mới, hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi để xây dựng, phát triển thị trường văn hóa lành mạnh; đẩy mạnh phát triển công nghiệp văn hóa...

Kết luận

Phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế mà trong thực tế, công nghiệp văn hóa đã được thừa nhận như một ngành sản xuất, như lực lượng sản xuất văn hóa, có khả năng tạo ra các sản phẩm tinh thần cao đẹp cho xã hội, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần bảo đảm cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam trong thời gian tới. Công nghiệp văn hóa có tầm ảnh hưởng rất lớn đến đông đảo người dân cho nên nếu việc định hướng, chỉ đạo và có những bước đi chuẩn xác trong xây dựng, phát triển ngành công nghiệp văn hóa ở nước ta thì sẽ có hiệu quả rất to lớn đối với việc xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nhận thức đúng đắn về điều này, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII đã tiếp tục kế thừa, phát triển các quan điểm chỉ đạo và những định hướng lớn của Đảng trong các văn kiện, nghị quyết, chiến lược… trước đó và đã hoàn chỉnh hơn nữa, làm rõ hơn nữa nhiệm vụ về Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa gắn liền với yêu cầu về xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Andrew Senior, (8/2008), Nurturing the Creative Industries (Nuôi dưỡng các ngành công nghiệp sáng tạo), London: Hội đồng Anh.
  2. Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2009), Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, ban hành kèm theo Quyết định số 581-QĐ/Ttg ngày 6/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
  3. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương  khóa VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  4. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ mười Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị Quốc gia,Hà Nội.
  5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia. Hà Nội.
  6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2014), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khoá XI, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
  7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII", http://daihoi12.dangcongsan.vn/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=28340728&cn_id=401248, truy cập ngày 15/4/2016.
  8. Harry Hilman Chartrand (2000), Đời sống xã hội của Nghệ thuật ở Mỹ, (Joni Cherbo và M.Wyszomirski (hiệu đính), Nxb. Đại học Tổng hợp Rutgers, New York.
  9. Phạm Bích Huyền và Đặng Hoài Thu (2009), Giáo trình các ngành công nghiệp văn hóa, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
  10. UNESCO (2009), "Các ngành công nghiệp văn hóa - Tâm điểm của văn hóa trong tương lai", http://portal.unesco.org/culture/en/ev,    Truy cập ngày 2/5/2016.

 

Nguyễn Thắm