Thực trạng nghèo đa chiều ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay

30/08/2017

THỰC TRẠNG NGHÈO ĐA CHIỀU Ở VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ HIỆN NAY

Phạm Thu Hương

1.      Đặt vấn đề

Hiện nay, phát triển con người đang hướng tới việc phát triển thể chất, năng lực xã hội của con người và môi trường phát triển con người, nhấn mạnh đến việc đồng thời nâng cao năng lực lựa chọn và mở rộng cơ hội lựa chọn nhằm thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người. Những mục tiêu trên được đánh giá dựa trên ba tiêu chí cơ bản: một cuộc sống có học vấn cao, một cuộc sống vật chất đầy đủ và một cuộc sống khỏe mạnh, trường thọ. Nghèo đói, vì thế đã, đang và sẽ trở thành rào cản đối với việc phát triển con người một cách rất rõ nét và cụ thể qua việc không có khả năng tiếp cận các cơ hội học tập, chăm sóc sức khỏe và tăng thu nhập. Như vậy, nghĩa là nghèo đói trong chính bản thân nó không chỉ là biểu hiện của lĩnh vực kinh tế, do đó, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu đã đưa ra một số chỉ số nghèo đói phi tiền tệ bên cạnh chỉ số nghèo đói tiền tệ truyền thống để đánh giá nghèo đói ở từng cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng. Qua đó, các nhà hoạch định chính sách sẽ có những chính sách giảm nghèo phù hợp và hiệu quả. Những chỉ số này hiện nay được đánh giá cao và áp dụng nhiều ở các quốc gia trên thế giới.

Tại Việt Nam, chỉ số nghèo đói phi tiền tệ đặc biệt là chỉ số nghèo đa chiều đã được Chính phủ áp dụng tính toán cho các vùng miền trên cả nước. Qua các chỉ số nghèo đói phi tiền tệ, bức tranh nghèo đói được khắc họa một cách sâu sắc hơn, toàn diện hơn so với bức tranh mà chỉ số nghèo tiền tệ đem lại. Xem xét cụ thể đến từng vùng miền cho thấy nghèo đói ở Việt Nam nói chung và nghèo đa chiều có sự khác nhau rõ nét giữa các vùng miền. Với vùng duyên hải nam trung bộ, mặc dù có nhiều lợi thế về du lịch và không thuộc nhóm cao nhất nước về nghèo đói nhưng điều đó không có nghĩa nghèo đói phi tiền tệ không diễn ra tại đây. Bài viết này, do đó mong muốn đi tìm hiểu về thực trạng nghèo đói phi tiền tệ ở vùng duyên hải nam trung bộ.

1.      Vì sao cần đo lường nghèo đói phi tiền tệ

Thứ nhất, nghèo đói phi tiền tệ được coi là xu hướng nghiên cứu và đánh giá về nghèo đói hiện nay trên thế giới. Từ năm 1997, UNDP đã sớm đưa ra chỉ số nghèo khả năng phát triển con người (HPI – Human poverty index) và gần đây nhất tổ chức OPHI (Oxford Poverty and Human Development Initiative) trực thuộc trường đại học Oxford đã công bố chỉ số nghèo đa chiều (MPI – Multidimensional poverty index) và được nhiều tổ chức, quốc gia ủng hộ và đo lường theo chỉ số này. Các tổ chức thế giới UNDP, ADP, WB, UNICEF… đều hướng những nghiên cứu của mình vào việc đo lường nghèo đói với các chỉ số nghèo đói phi tiền tệ, thông qua hàng loạt các nghiên cứu như: hệ thống các báo cáo phát triển con người của các quốc gia từ năm 1990 đến nay của UNDP dựa trên các tính toán nghèo đói phi tiền tệ và hàng loạt các nghiên cứu về nghèo đói đa chiều của ADB, WB được tiến hành những năm gần đây đi kèm với đó là những đề xuất chính sách tới các chính phủ tại hầu khắp các quốc gia trên thế giới nơi đã minh chứng cho việc nghèo đói phi tiền tệ đang là sự quan tâm của cộng đồng thế giới. 

Thứ hai, việc đo lường nghèo đói truyền thống dựa trên tiền tệ qua cách thức sử dụng chuẩn nghèo (dựa vào thu nhập/chi tiêu) kéo dài trong suốt thời gian qua đã cho thấy tính không phù hợp, bộc lộ nhiều hạn chế, như bỏ sót đối tượng, độ bao phủ chưa cao, thiếu công bằng trong việc thực hiện chính sách giảm nghèo, chưa đánh giá, đo lường mức độ chuyển biến về tiếp cận các nhu cầu xã hội cơ bản của người dân.... dẫn đến việc ra đời cách tiếp cận nghèo đói phi tiền tệ.

Thứ ba, các chỉ số nghèo phi tiền tệ có thể giúp tổng kết mức độ nghèo ở một số chiều cạnh hoặc đa chiều cạnh và sự gia tăng khoảng cách nghèo khổ. Điều này mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực hơn so với việc chỉ dựa trên các chỉ số đo lường về thu nhập. Hơn nữa, qua những chỉ số này cũng giúp các nhà hoạch định chính sách xác định được các vùng tập trung nghèo đói của quốc gia mình, từ đó xếp hạng được các địa phương trong nước làm cơ sở cho việc xác định những người chịu nhiều bất lợi nhất trong quá trình phát triển con người, qua đó có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục và thúc đẩy sự phát triển con người một cách toàn diện.

2.      Chỉ số nghèo đa chiều (MPI)

Sau một thời gian sử dụng chỉ số HPI, UNDP đã chỉ ra rằng chỉ số HPI đo lường những thiếu hụt ở mức độ tổng hợp và không thể xác định các nhóm hay các hộ cụ thể bị thiếu hụt đồng thời ở nhiều chiều.

Để giải quyết những hạn chế đó, báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2010 đã giới thiệu một phương pháp mới để tính toán chỉ số HDI với ba chỉ số mới là: chỉ số nghèo đa chiều (MPI), chỉ số bất bình đẳng giới (GII) và chỉ số HDI điều chỉnh bất bình đẳng (IHDI).[1] Trong đó, chỉ số nghèo đa chiều (MPI) là một dạng chỉ số nghèo phi tiền tệ đã có những điều chỉnh nhằm khắc phục hạn chế của chỉ số HPI[2].

Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ánh tất cả phạm vi tác động của nghèo đói. Chỉ số này được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của đói nghèo hay nghèo đếm đầu (Incidence of Poverty or headcount ratio) (H) và cường độ trung bình tác động lên người nghèo hay độ sâu nghèo đói (Average Intensity Across the Poor) (A).

Cụ thể, MPI được tính toán dựa trên 3 chiều cạnh lớn. Ba chiều cạnh lớn này được cấu thành từ 10 chỉ số. Mỗi chiều cạnh được tính điểm trọng số bằng nhau, trong mỗi chiều cạnh thì mỗi chỉ số cũng được tính điểm trọng số bằng nhau, thể hiện trong bảng sau:

Bảng 1: Các chiều cạnh và chỉ số của MPI

(Nguồn: OPHI (2015)

Để đo lường nghèo đói, MPI được tính toán dựa trên những cá nhân bị loại trừ khỏi các chỉ số trong ba chiều cạnh nói trên dưới cách tiếp cận hộ gia đình. Cụ thể như sau:

Đối với chiều cạnh giáo dục (mỗi chỉ số có trọng số 1/6)

-         Trình độ học vấn: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu không có thành viên nào trong gia đình có thời gian đi học là 05 năm.

-         Tỷ lệ trẻ em đến trường: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu bất kỳ trẻ em trong độ tuổi đi học của hộ gia đình không đi học từ khi 1 tuổi đến 8 tuổi.

Đối với chiều cạnh sức khỏe (mỗi chỉ số có trọng số 1/6)

-         Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu có bất kỳ trẻ em nào trong gia đình chết khi sinh.

-         Dinh dưỡng: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu bất kỳ thành viên hoặc trẻ em nào trong gia đình bị suy dinh dưỡng.

Đối với chiều cạnh tiêu chuẩn sống (mỗi chỉ số có trọng số 1/18)

-         Điện: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu hộ gia đình không có điện

-         Nước uống: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu hộ gia đình không được tiếp cận với nước sạch hoặc nguồn nước sạch cách nhà hơn 30 phút đi bộ (hai chiều).

-         Vệ sinh: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu gia đình không có công trình vệ sinh hoặc dùng chung nhà vệ sinh.

-         Hiện trạng nhà ở: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu gia đình có nhà cát hoặc đất.

-         Nhiên liệu nấu nướng: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu gia đình nấu nướng bằng củi, than hoặc phân.

-         Sở hữu tài sản: các cá nhân trong hộ gia đình bị loại trừ nếu hộ gia đình không sở hữu nhiều hơn một radio, TV, xe đạp, xe máy, tủ lạnh hoặc không sở hữu một chiếc xe ô tô hoặc máy kéo.

Với mỗi chỉ số thành phần, hộ gia đình bị loại trừ hoàn toàn sẽ có điểm là 1, nếu hoàn toàn không bị loại trừ sẽ có điểm là 0. Các điểm số này sẽ được nhân với trọng số rồi tính tổng các kêt quả để biết được điểm số về nghèo của một hộ gia đình. Hộ gia đình đó được cho là không nghèo nếu điểm số tổng cộng nhỏ hơn 1/3 (0.333) và được cho là nghèo nếu điểm số tổng cộng lớn hơn 1/3 (0.333). Sau đó, phạm vi ảnh hưởng của đói nghèo hay nghèo đếm đầu (H) sẽ được xác định bằng tổng số thành viên của các gia đình nghèo chia cho tổng dân số. Còn độ sâu của nghèo đói là số trung bình của điểm nghèo của các gia đình nghèo. Người nghèo theo chỉ số MPI sẽ được coi là nghèo sâu sắc (acute poverty). Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu sẽ tính tỷ lệ số dân “nghèo đa chiều” của một tỉnh, hay một quốc gia.[3]

Như vậy, có thể thấy chỉ số nghèo đa chiều bao quát trực tiếp sự túng thiếu, tổn thất trong tác động đến sức khỏe, giáo dục và các dịch vụ thiết yếu như nước sạch, vệ sinh và năng lượng. Ở một số nước các nguồn này được cung cấp miễn phí hoặc với một giá rất thấp trong khi một số nơi chúng vượt quá mức so với thu nhập của người lao động.[4]

Có thể nói, chỉ số nghèo khổ đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục, những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Theo OPHI và UNDP, những chỉ số này cung cấp đầy đủ hơn bức tranh về nghèo đói so với các thang đo về thu nhập giản đơn. Thang đo này biểu lộ cả tính tự nhiên và quy mô của sự nghèo khổ ở các cấp độ khác nhau: từ cấp độ gia đình đến cấp độ khu vực, cấp độ quốc gia và cấp độ quốc tế. Cụ thể, OPHI đã nhận định: “Thang đo này xác định được phần lớn các nhóm và hộ gia đình bị tổn thương và thúc đẩy chúng ta hiểu chính xác hơn những nguyên nhân gây ra những túng quẫn cho cuộc sống của họ”. Ngoài ra, bà Alkire – chuyên gia của OPHI cũng nói thêm rằng “Thang đo mới này có thể giúp cho các Chính phủ và các Tổ chức phát triển cung cấp sự viện trợ linh hoạt hơn đến từng cộng đồng riêng biệt, cụ thể”.[5]

3.      Nghèo đói đa chiều vùng duyên hải nam trung bộ hiện nay

3.1.  Nghèo đói đa chiều ở Việt Nam nói chung

Ở Việt Nam, tỷ lệ người nghèo đã giảm đáng kể từ 37.4% năm 1998 xuống 11.1% năm 2012. Đói nghèo nông thôn giảm từ 44.9% xuống 14.1% trong khi đói nghèo thành thị giảm từ 9.5% xuống 4.3%.[6] Tốc độ giảm nghèo của Việt Nam được coi là điểm sáng trong việc đạt được mục tiêu thiên niên kỷ. Tuy nhiên, tỷ lệ nghèo có khả năng bị đánh giá thấp hơn thực tế do chuẩn nghèo của Việt Nam khá thấp so với tiêu chuẩn quốc tế và một số nhóm dễ bị tổn thương nhất thường nằm ngoài các cuộc điều tra quốc gia.

Nếu theo cách tính toán của các chỉ số nghèo đói phi tiền tệ HPI và MPI chúng ta sẽ có những kết quả khác nhau về tình trạng nghèo đói ở Việt Nam. Chỉ số HPI của Việt Nam trong năm 2012 là 11.1%, tỷ lệ nghèo đa chiều của nước ta còn cao hơn nhiều, 21.3%[7]. Không những tỷ lệ nghèo phi tiền tệ cao hơn so với tỷ lệ nghèo đói tiền tệ mà độ sâu nghèo đói ở nước ta cũng đáng lưu tâm. Qua tỷ lệ về độ sâu của nghèo đói sẽ nói lên nhiều điều hơn là việc chúng ta chỉ tập trung về số lượng người nghèo trên tổng dân số. Làm phép so sánh về tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam qua cách đo lường của nghèo đa chiều và nghèo tiền tệ sẽ cho chúng ta nhìn rõ hơn sự khác biệt về độ sâu nghèo đói.

Bảng 2: Nghèo đói đa chiều ở Việt Nam

Chỉ số nghèo đa chiều (MPI=HxA)

0.029

Nghèo đếm đầu (H)

7.1%

Độ sâu của nghèo đói (A)

40.7%

Phần trăm dân số nghèo thu nhập (1.90 USD/1 ngày)

3.1%

Phần trăm dân số nghèo thu nhập (3.10 USD/1 ngày)

12.0%

Phần trăm dân số nghèo (theo đường nghèo quốc gia)

13.5%

Bất bình đẳng về thu nhập (Hệ số Gini)

0.376

(Nguồn: (OPHI 2017))[8]

Rõ ràng là nếu tính theo tiêu chuẩn nghèo tiền tệ của quốc gia thì tỷ lệ nghèo đói của Việt Nam hoàn toàn không quá đáng lo ngại. Tuy nhiên, khi nhìn nhận dưới góc độ nghèo đói đa chiều thì vấn đề sẽ được làm sáng tỏ hơn. Theo báo cáo mới nhất của OPHI năm 2017 dựa trên số liệu của Ngân hàng thế giới năm 2017 để tính toán nghèo đói ở Việt Nam cho thấy, nghèo đa chiều của Việt Nam là 0.029, trong đó có 7.1% tổng dân số Việt Nam được coi là nghèo. Trong số 7.1% dân số đó thì độ sâu nghèo đói của họ là 40.7%. Có nghĩa là những người nghèo ở Việt Nam không bị loại trừ 100% khỏi 10 chỉ số trong ba chiều cạnh giáo dục, y tế và tiêu chuẩn sống nhưng bị loại trừ ở mức trung bình 40.7% (bảng 2).

Con số tính toán nghèo đa chiều ở Việt Nam cũng có sự khác nhau giữa các tổ chức tính toán và qua từng năm.

Bảng 3: So sánh tình trạng nghèo đa chiều của Việt Nam năm 2010-2011 và năm 2013 - 2014

Nghèo đa chiều

2010-2011

2013-2014

Chỉ số nghèo đa chiều (MPI=HxA)

0.026

0.016

Nghèo đếm đầu  (H)

6.4%

3.9%

Độ sâu của nghèo đói (A)

40.7%

39.9%

(Nguồn: (UNDP 2005)và (UNDP 2016))

Số liệu bảng 3 cho thấy, nghèo đa chiều ở Việt Nam đã có sự giảm xuống qua các năm. Chỉ số MPI, nghèo đếm đầu và độ sâu nghèo đói đều giảm từ năm 2010 đến năm 2014. Tuy nhiên, số liệu này của UNDP được tính toán cho Việt Nam với 9 chiều cạnh do thiếu số liệu cho chiều cạnh về dinh dưỡng. Nếu như so sánh với số liệu của OPHI năm 2017 (bảng 2) cho thấy có sự khác biệt về kết quả tính toán MPI cho Việt Nam. Để làm rõ điều này, cần phải có nhiều hơn những nghiên cứu về nghèo đa chiều cũng như có thêm đầy đủ số liệu cần thiết cho việc tính toán.  

3.2.  Nghèo đói đa chiều vùng duyên hải nam trung bộ

Như đã nói, nghèo đói có mối quan hệ chặt chẽ với vị trí địa lý của từng vùng miền, kể cả là nghèo đói tiền tệ và phi tiền tệ. Duyên hải nam trung bộ là một vùng đặc thù của Việt Nam với những điều kiện thiên nhiên đặc thù đã đem đến những thuận lợi nhất định về kinh tế và du lịch cho các tỉnh trong vùng. Vì thế mà tăng trưởng kinh tế của vùng được đánh giá ở mức cao so với các vùng lân cận. Tuy nhiên,  tuy nhiên điều đó không có nghĩa nghèo đói đa chiều không diễn ra ở duyên hải nam trung bộ và không phải tăng trưởng kinh tế cao thì tỷ lệ nghèo đói đa chiều sẽ thấp hơn. Để thấy rõ được điều này, việc phân tích nghèo đói phi tiền tệ của duyên hải nam trung bộ so sánh với 5 vùng còn lại trên cả nước là rất có ý nghĩa.

Bảng 4: Chỉ số MPI của 6 vùng ở Việt Nam

Vùng

Chỉ số MPI

(MPI=HxA)

Tỷ lệ nghèo đếm đầu

(H) (%)

Độ sâu nghèo đói

(A) (%)

Tây Nguyên

0.057

12.8

44.3

Đồng bằng sông Cửu Long

0.030

7.5

39.7

Bắc trung bộ và duyên hải miền trung

0.024

6.3

38.8

Trung du và miền núi phía Bắc

0.064

14.4

44.7

Đồng bằng sông Hồng

0.013

3.8

34.8

Đông Nam Bộ

0.017

4.4

39.1

 

(Nguồn: (OPHI 2017)

Với tỷ lệ nghèo đếm đầu trên tổng dân số cho thấy tỷ lệ cao nhất là ở Trung du và miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long (tương ứng là 14.4%, 12.8% và 7.5%). Có thể thấy vùng bắc trung bộ và duyên hải miền trung thuộc trong nhóm các vùng có tỷ lệ nghèo đếm đầu thấp trong cả nước. Điều này cũng tương tự với độ sâu nghèo đói, do đó mà chỉ số MPI của vùng cũng trong nhóm các vùng có chỉ số nghèo đa chiều thấp.

Tình trạng thiếu thốn ở vùng này cũng được xem xét tính toán cụ thể, 0.4% dân số đang trong tình trạng thiếu thốn các nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Nhưng tỷ lệ này so với các vùng miền khác trên cả nước vẫn được coi là thấp, ví dụ như so sánh với vùng đồng bằng sông Cửu Long là 0.8% và bằng so với vùng đồng bằng sông Hồng 0.4% mặc dù đồng bằng sông Hồng có tỷ lệ nghèo đếm đầu thấp hơn gần gấp đôi vùng duyên hải nam trung bộ.(OPHI 2017)

Bảng 5. Đóng góp của các chiều cạnh vào chỉ số MPI ở vùng duyên hải nam trung bộ

Chiều cạnh

Chỉ báo

Tỷ lệ (% đóng góp)

Giáo dục

Trình độ học vấn của người lớn

6.5

Tỷ lệ trẻ em đến trường

2.2

 

Y tế

Tỷ lệ chết trẻ sơ sinh

70.8

Dinh dưỡng

-

Tiêu chuẩn sống

Điện

0.2

Vệ sinh

4.3

Nước uống

4.6

Hiện trạng nhà ở

0.5

Nhiên liệu đun nấu

9.6

Tài sản

1.2

(Nguồn: (OPHI 2017)

Như vậy, có thể thấy ở vùng duyên hải nam trung bộ, tỷ lệ đóng góp cao nhất cho chỉ số MPI là ở chiều cạnh sức khỏe (70.8%), trong đó số liệu về dinh dưỡng ở Việt Nam bị khuyết, chiều cạnh sức khỏe vì thế chỉ tính cho tình trạng chết trẻ sơ sinh. Chiều cạnh tiêu chuẩn sống ở duyên hải nam trung bộ đóng góp 20.4% vào chỉ số MPI, trong đó, cao nhất là ở chỉ báo về nhiên liệu đun nấu, vệ sinh và nước sạch. Chiều cạnh thực hiện tốt hơn cả là về giáo dục với tỷ lệ trẻ em nhập học chỉ chiếm 2.2% trong tổng số 8.7% của chiều cạnh này đóng góp cho chỉ số MPI.

Có thể nói, Việt Nam với những thành tích tốt trong công tác xóa đói giảm nghèo trong suốt những năm qua được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên, việc giảm nghèo dựa trên tiêu chí thu nhập mới chỉ giải quyết được phần nào những khó khăn, thách thức trong cuộc sống chật vật của người nghèo trên cả nước. Do đó, việc tham chiếu các chỉ số nghèo phi tiền tệ cho chúng ta thấy một bức tranh nhiều màu sắc hơn, chân thực và rõ nét hơn về tình trạng nghèo đói phi tiền tệ. Riêng với vùng duyên hải nam trung bộ, với chiều cạnh sức khỏe với chỉ báo về chết trẻ sơ sinh đóng góp nhiều cho chỉ số MPI cho thấy đây là vấn đề cần được xem xét kỹ lưỡng và đưa ra giải pháp khắc phục thiết thực nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng trên.

Nếu các cách đo lường nghèo đói tiền tệ chỉ cho chúng ta thấy nghèo đói về thu nhập thì các cách đo lường nghèo đói phi tiền tệ, đặc biệt là cách đo lường nghèo đa chiều còn cho chúng ta thấy một thực tế đáng lo ngại ở Việt Nam nói chunh và vùng duyên hải miền trung nói riêng là độ sâu của nghèo đói. Ngay cả khi tỷ lệ nghèo đa chiều tương đối thấp ở những vùng có mức độ tăng trưởng kinh tế cao trên cả nước thì những người nghèo ở đây phải đối mặt với nhiều thiếu hụt phi tiền tệ dẫn đến độ sâu nghèo đói cao. Người nghèo sẽ tiếp tục rơi vào cái vòng luẩn quẩn của đói nghèo do những tổn thương mà độ sâu nghèo đói đem lại về sức khỏe và giáo dục. Kể cả khi họ đã thoát nghèo thì những rủi ro đa chiều này cũng sẽ là nguy cơ đưa họ quay trở lại thành người nghèo.

4.      Kết luận

Với cách đo lường nghèo đói kéo dài suốt những thập niên qua dựa trên yếu tố tiền tệ đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Nhiều đối tượng bị bỏ sót, độ bao phủ chưa cao, chưa đánh giá, đo lường mức độ chuyển biến về tiếp cận các nhu cầu xã hội cơ bản của người dân... đã trở thành thách thức cho các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu trong việc tìm ra các biện pháp tối ưu nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói. Việc ra đời cách đo lường nghèo đói phi tiền tệ với những chỉ tiêu tính toán đa chiều đã cho thấy tính ưu việt hơn trong việc chỉ ra được đâu là đối tượng của nghèo đói, độ bao phủ rộng lớn hơn và đã đo lường, tính toán được những nhu cầu xã hội cơ bản của người nghèo.

Qua những số liệu thực tế về cách đo lường nghèo đói phi tiền tệ ở trên đã cho thấy, Việt Nam cần quan tâm hơn nữa đến các yếu tố về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, bảo trợ xã hội, đặc biệt là các tiêu chí để đảm bảo tiêu chuẩn sống cơ bản cho người dân, từ đó giúp người dân nghèo có thể tham gia vào quá trình phát triển. Các chính sách xã hội cần phải khuyến khích tính đa dạng, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân để củng cố tăng trưởng kinh tế trong dài hạn thông qua việc xây dựng một nguồn lực lao động có cả trí và lực. Đặc biệt với vùng duyên hải nam trung bộ, việc cần phải có những biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu tình trạng chết trẻ sơ sinh, cải thiện điều kiện chăm sóc sức khỏe cho người dân đang là vấn đề trọng tâm nhất. Chỉ có như vậy, người dân mới có thể thoát ra khỏi những thiếu hụt đa chiều, phát triển bản thân, từ đó nâng cao chất lượng sống hướng đến xóa đói và xóa nghèo.

Cuối cùng, với những chỉ tiêu này đã, đang và sẽ giúp cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách xác định rõ hơn các lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, đưa ra được các giải pháp xóa đói giảm nghèo có hiệu quả và tăng cường những dịch vụ xã hội cơ bản cho người nghèo nhằm khắc phục tính bị loại trừ xã hội của họ giúp họ hòa nhập xã hội tốt hơn, xóa đói giảm nghèo bền vững hơn. Đồng thời, việc làm này cũng góp phần đảm bảo tính công bằng xã hội và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội hướng tới một xã hội phát triển vì con người, hướng đến con người.

 

Tài liệu tham khảo

1.      Đặng Quốc Bảo (chủ biên), Trương Thúy Hằng, Đặng Thị Thanh Huyền (2008). Nghiên cứu chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam

2.      Mai Quỳnh Nam (Chủ nhiệm) (2011). Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Bộ. Một số vấn đề cơ bản về phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.

3.      OPHI (2015). Multidimensional poverty index at a glance. Country briefing: Vietnam. Oxford Department of International Development, Queen Elizabeth House, University of Oxford.

4.      OPHI (2017). Global multidimensional poverty index (MPI) at a glace. OPHI country briefing 2017: Vietnam. Oxford Department of International Development, Queen Elizabeth House, University of Oxford.

5.      Sabina Alkire and Maria Emma Santos (2011). Training material for producing national human development reports: The Multidimensional Poverty Index.

6.      UNDP (2011) Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2011. Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người.

7.      UNDP (2015). Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2015. Tăng trưởng vì mọi người

8.      UNDP (2015). Human development report 2015. Work for Human development.

9.      UNDP (2016). Human development report 2016: Human development for everyone.

10. http://www.ihs.org.vn/index.asp?url=detail&id=265&su

11. http://www.ihs.org.vn/index.asp?url=detail&id=262&sub=

12. https://data.undp.org/dataset/Table-5-Multidimensional-Poverty-Index/7p2z-5b33

 


[1] UNDP (2011). Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2011. Dịch vụ xã hội phục vụ phát triển con người.

[2] Chỉ số nghèo khổ đa chiều (MPI) được phát triển, ứng dụng bởi OPHI (Oxford Poverty and Human Development Initiative) trực thuộc trường đại học Oxford và được UNDP ủng hộ.

 

[3] Sabina Alkire and Maria Emma Santos (2011). Training material for producing national human development reports: The Multidimensional Poverty Index.

[4] http://www.ihs.org.vn/index.asp?url=detail&id=265&su

[5] http://www.ihs.org.vn/index.asp?url=detail&id=265&su

[6] UNDP (2015). Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2015. Tăng trưởng vì mọi người.

[7] UNDP (2015). Báo cáo Quốc gia về phát triển con người năm 2015. Tăng trưởng vì mọi người.

[8] Các số liệu được tổ chức OPHI tính toán trong báo cáo Nghèo đa chiều của Việt Nam năm 2017 dựa trên số liệu thống kê của Việt Nam được điều tra vào năm 2013-2014.