Một số vấn đề cơ bản về tự tử và quyền được chết

30/08/2017

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỀ TỰ TỬ VÀ QUYỀN ĐƯỢC CHẾT

Phạm Thu Hương*

Trong xã hội phát triển với tốc độ chóng mặt hiện nay, các cá nhân phải chịu nhiều áp lực xã hội do hậu quả của khủng hoảng kinh tế, những biến đổi giá trị văn hóa – xã hội và chuẩn mực xã hội. Hơn nữa, những bất ổn liên quan đến an ninh con người như chiến tranh, dịch bệnh, nghèo đói cũng đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở hầu khắp mọi nơi trên thế giới. Ranh giới giữa sự sống và cái chết vì thế trở nên vô cùng mong manh, đôi khi chỉ trong gang tấc. Cái chết trong hiện thực đó đôi khi không chỉ bị tước đoạt bởi người khác, mà nó còn đến từ chính bản thân chủ thể. Vì vậy, khái niệm tự tử và quyền được chết ra đời như một tất yếu rất cần được nghiên cứu và bàn luận.

Quả thực, tự tử và quyền được chết không chỉ là vấn đề của y học mà nó còn là vấn đề về xã hội liên quan đến nhiều mặt của đời sống kinh tế, chính trị. Bởi vậy, bài viết bước đầu tập trung bàn luận về các vấn đề cơ bản của tự tử và quyền được chết, đồng thời đặt hai vấn đề này trong mối quan hệ so sánh với nhau để có cái nhìn đa chiều hơn về những lĩnh vực còn mới mẻ trong nghiên cứu khoa học xã hội.

I.                   Tự tử

1.      Khái niệm tự tử và cách phân loại

Danh từ “tự tử” được dùng lần đầu tiên bởi tu viện trưởng nhà thờ Desfontaines vào năm 1737. Sau đó được dùng lại do các nhà làm từ điển bách khoa, nhưng phải chờ đến thế kỷ XIX, với sự phát triển của khoa học, khái niệm tự tử mới thật sự bàn đến trong các công trình nghiên cứu khoa học.

Theo WHO, hành vi tự tử được chia làm 3 loại:

- Ý tưởng tự tử (Suicidial ideation): thể hiện đơn thuần trong ý nghĩ, muốn chết nhưng chưa thành công.

- Toan tự tử (parasuicide): bao gồm các hành vi khác nhau và những cố gắng thao tác để tự giết mình nhưng không đạt được.

- Tự tử (suicide): tự tử còn được gọi là tự sát, được đề cập đến bất kỳ tử vong nào mà do kết quả trực tiếp hay gián tiếp của hành vi tích cực hoặc tiêu cực được hoàn thành bởi chính nạn nhân và cũng chính nạn nhân biết hoặc tin rằng hành vi đó sẽ tạo ra cái chết nhưng vẫn làm.

Thuật ngữ “tự sát” hay “tự tử” chỉ áp dụng trong trường hợp chết.

Thực hiện hành vi nguy hiểm đưa đến chết người nếu người đó biết được trước hậu quả gián tiếp của nó mà vẫn làm thì gọi là tự sát. [21]

Nhà Xã hội học người Pháp, E.Durkheim thì đưa ra định nghĩa khái nhiệm tự tử như sau: Tự tử được áp dụng cho mọi cái chết trực tiếp hoặc gián tiếp, xảy ra bởi hành vi tích cực hoặc tiêu cực của chính bản thân nạn nhân, người biết rõ sẽ gây ra kết quả này.

Durkheim chia thành bốn loại tự tử dựa trên cơ sở điều hòa và hòa nhập xã hội:

(1)  Tự tử vị tha – cá nhân tự sát, xả thân vì mục tiêu của nhóm. Tự tử vị tha có thể diễn ra dưới hình thức bắt buộc, không thể làm khác trong một tình huống nhất định. Hành động tự tử này có thể quy định, quy ước có tính truyền thống của nhóm, có thể đơn giản là do quan niệm đó là sự hi sinh. Dù dưới hình thức cụ thể nào thì kiểu tự tử vị tha chủ yếu là do sự gắn kết quá mạnh của cá nhân với cộng đồng xã hội.

(2)  Tự tử vị kỷ: xảy ra khi cá nhân bị bỏ rơi, không được quan tâm và cá nhân sống chỉ vì bản thân mình. Đây là kiểu tự tử do chủ nghĩa cá nhân quá lớn, quá mạnh gây ra.

(3)  Tự tử vô quy: đó là sự tự sát trong tình huống nhiễu loạn, hỗn loạn, khủng hoảng, “vô tổ chức”. Trong tình huống xã hội như vây, các chuẩn mực cũ không còn tác dụng kiểm soát, điều tiết hành vi cá nhân, nhưng các chuẩn mực mới chưa xuất hiện. Cá nhân rơi vào trạng thái mất phương hướng, chơi vơi vì có quá nhiều các chuẩn mực, không biết cần phải tuân theo những chuẩn mực nào.

(4)  Tự tử cuồng tín: là sự tự tử do niềm tin mù quáng chi phối, do bị kiểm soát, điều tiết quá gắt gao, trừng phạt quá nặng nề về mặt giá trị, chuẩn mực.

Tóm lại, tự tử hay tự sát được sử dụng để nói đến bất kỳ cái chết nào trực tiếp hoặc gián tiếp xảy ra bởi hành vi tích cực hoặc tiêu cực của chính bản thân nạn nhân, người biết rõ sẽ gây ra kết quả là cái chết.

2.      Nguyên nhân tự tử

Tự tử là hiện tượng cá nhân, nhưng tỷ lệ tự tử, nạn tự tử là hiện tượng xã hội và có mối liên hệ tỷ lệ nghịch với sự chuyển động không ngừng của đời sống xã hội. Điều này tạo ra sự khác biệt về tỷ lệ tự tử giữa các quốc gia, giữa các giai đoạn lịch sử.

Vì thế, theo Durkheim – nhà chức năng luận nổi tiếng với nghiên cứu sâu sắc đầu tiên về tự tử thì mức độ đoàn kết, gắn kết, hòa nhập xã hội, sự điều hòa của xã hội là những biến số độc lập quan trọng tác động đến hành vi tự tử của các cá nhân.

Hòa nhập xã hội: Sự ít hòa nhập cũng có thể là do thiếu các gắn kết gia đình hoặc do cấu trúc xã hội vững chắc. Trong tác phẩm kinh điển “Suicide”, Durkheim đã cho rằng: “Một xã hội hòa nhập mạnh sẽ kiểm soát được các cá nhân, bắt họ phục vụ nó và do đó ngăn cấm họ cố ý tự quyết định số phận của mình. Do vậy, nó chống lại việc cá nhân trốn tránh các trách nhiệm của mình với xã hội khi tìm đến cái chết” [16]. Do đó, sự hòa nhập được Durkheim coi là biến độc lập quan trọng đầu tiên để giải thích các chuẩn mực tự tử. Một xã hội hòa nhập tốt đòi hỏi con người phục vụ các nhu cầu của mình cho xã hội là có ý nghĩa thông qua quá trình hòa nhập. Khi mức độ hòa nhập xã hội giảm xuống, con người càng ngày càng trở nên xa rời đời sống xã hội, dần dần mất niềm tin vào ý nghĩa của các hành động và sự tồn tại của chính mình, họ không còn phục vụ cho mục đích xã hội mà họ đã tin tưởng.

Sự điều hòa của xã hội là biến độc lập quan trọng thứ hai trong lập luận của Durkheim. Sự điều hòa là “mức độ sức ép bên ngoài lên con người”. Vì nhu cầu của con người vốn là vô tận, vai trò của xã hội là sử dụng một số cơ chế để hạn chế những nhu cầu đó. Xã hội thực hiện nhiệm vụ này bằng cách thiết lập những quy tắc ứng xử là các luật lệ xã hội. Tuy nhiên, những xã hội khác nhau lại có những khả năng khác nhau để thực hiện những điều hòa đó. Khi một xã hội có sự bất ổn trong quyền lực điều hành, có thể do những biến đổi đột ngột về kinh tế hay chính trị, con người cảm thấy bị ném vào hoàn cảnh mới nơi các luật lệ cũ không còn hiệu lực. Do những luật lệ mới được ban hành nhưng các cá nhân trong xã hội tạm thời sẽ không thể thích nghi được ngay với hoàn cảnh mới. Sự mất cân bằng giữa phương tiện và nhu cầu con người thường có trong các xã hội với mức điều hành phải chăng bị mất đi tính cân bằng khi sự điều hành giảm xuống hay tăng lên dẫn đến tự tử.

Với tư cách là nhà Xã hội học theo trường phái chức năng, Durkheim luôn gắn chặt sự hòa nhập và điều hòa với khái niệm của ông về ý thức tập thể và sự thể hiện tập thể. Ông lập luận rằng, những tập thể khác nhau dẫn đến sự khác nhau trong ý thức và thể hiện tập thể, và đến lượt nó lại sinh ra những khuynh hướng xã hội khác nhau. Điều này dẫn đến các tỷ lệ tự tử khác nhau trong những xã hội khác nhau. Hơn nữa, những thay đổi trong ý thức tập thể gây ra những thay đổi trong trào lưu xã hội là điều chắc chắn dẫn đến sự thay đổi trong tỷ lệ tự tử. Nói cách khác, những khác biệt và thay đổi trong tỷ lệ tự tử là hệ quả trực tiếp của những thay đổi hay khác biệt trong trào lưu xã hội – là những thay đổi hay khác biệt trong ý thức tập thể. Durkheim cũng nhấn mạnh rằng chính yếu tố điều hòa và hòa nhập là hai phương cách để nhận thức xã hội, là yếu tố cơ bản dự báo tỷ lệ tự tử.

Vì vậy, dựa trên quan điểm của lý thuyết chức năng cho thấy cần nhìn nhận tự tử như một hiện tượng mang tính xã hội chứ không chỉ đơn thuần là yếu tố cá nhân. Hơn nữa, tự tử được nhìn nhận như một hành vi lệch chuẩn xã hội do sự mất cân bằng về mặt chức năng từ những thay đổi của chuẩn mực xã hội theo sự biến đổi đột ngột của môi trường xã hội nơi các cá nhân đang sinh sống. Do đó, nghiên cứu về tự tử không thể không tìm hiểu những yếu tố xã hội đã tác động đến hành vi này đặc biệt là hai biến độc lập quan trọng mà E. Durkheim đã chỉ ra là: sự điều hành xã hội và sự hòa nhập xã hội của các cá nhân gắn chặt với hai biến này là ý thức tập thể và sự thể hiện tập thể.

3.      Thực trạng tự tử trên thế giới hiện nay

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ước tính rằng tự tử là nguyên nhân thứ 13 gây ra tử vong trên toàn thế giới. Hàng năm có hơn một triệu người chết do tự tử, số người chết vì tự tử nhiều gấp ba lần số người chết trong thảm họa sóng thần ở Đông Nam Á hồi tháng 12/2004. Cũng theo số liệu thống kê về tỷ lệ tự tử chung của nhóm tuổi 12 – 15 trên toàn thế giới chiếm 97 – 131 người/100.000 dân; nhóm tuổi từ 16 – 20 là 277 – 341 người/100.000 dân. Dự báo của WHO, đến năm 2020 tự tử sẽ là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước phát triển và hàng thứ hai ở các nước đang phát triển. Trước thực trạng đó, WHO đã lấy ngày 10 tháng 9 hàng năm làm Ngày Thế giới Ngăn ngừa tự tử.

Tại châu Á số lượng tự tử chiếm 60% trong tổng số các vụ tự tử của các quốc gia trên thế giới. WHO cũng đã ước tính tỷ lệ tự tử ở châu Á là 19,3/100.000 người trong khi tỷ lệ toàn cầu là 14/100.000 người. Trung bình mỗi ngày ở châu Á có tới 1100 người chết vì tự tử và số người có ý định tự tử cao gấp 20 lần con số này. Trong đó, Nhật Bản và Trung Quốc có số người tự tử chiếm tỷ lệ cao nhất: 40% số người tự tử trên toàn thế giới. Những con số này phản ánh tính tiêu cực của hiện tượng tự tử tưởng chừng như là vấn đề riêng của các cá nhân đối với nhiều mặt của đời sống xã hội.

Ở Việt Nam, hiện chưa có con số thống kê cụ thể nào để cho biết chính xác tỷ lệ tự tử hàng năm, mặc dù hiện tượng này đang ngày càng gia tăng. Chính điều đó đã gây ra nhiều khó khăn trong việc ngăn chặn tự tử trên quy mô quốc gia. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận tích cực rằng, chủ đề này trong những năm gần đây đã bắt đầu được các nhà khoa học, nhà quản lý lưu tâm.

II.               Quyền được chết

1.      Khái niệm

Quyền được chết ban đầu xuất hiện gắn liền với khái niệm “cái chết êm ả”. Từ này bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “euthanatos”, trong đó, “eu” là “tốt” và “thanatos” là “chết”. Danh từ này bắt đầu xuất hiện vào thế kỷ XVII nhằm khuyến khích các bác sỹ quan tâm đến sự đau đớn của người bệnh và giúp đỡ họ thoát khỏi thế giới này một cách nhẹ nhàng nhất có thể.

Tuy nhiên, thuật ngữ quyền được chết chỉ thực sự ra đời vào cuối thế kỷ XIX, khi con người đã tìm ra cách khống chế sự đau đớn, thuật ngữ này không còn bó hẹp với ý nghĩa giúp bệnh nhân thoát khỏi đau đớn nữa mà nó còn ám chỉ cho hành động đặc biệt nhằm tạo ra cái chết cho những bệnh nhân được coi là vô phương cứu chữa. Và dần dần, khái niệm quyền được chết được sử dụng thay cho khái niệm “cái chết êm ả”.

Quyền được chết hiện nay chưa được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận trong luật pháp, đồng thời cũng chưa có định nghĩa cụ thể về quyền được chết, tuy nhiên, dựa vào những quan điểm về các đạo luật an tử, quyền được chết có thể được hiểu: là một quyền nhân thân của con người đã thành niên đang phải chịu sự đau đớn về thể chất hoặc tinh thần kéo dài và không thể chịu đựng được sau một tai nạn hay một bệnh lý mà y học không thể cứu chữa. [7]

2.      Đặc điểm của quyền được chết

Thứ nhất, cần phải nhấn mạnh rằng, quyền được chết phải bao hàm sự tự nguyện được thực hiện cái chết êm ả khi còn tỉnh táo, có thể biểu lộ ý chí cá nhân của mình hoặc tự nguyện chỉ định người đại diện cho mình trong trường hợp lúc rơi vào giai đoạn không ý thức, không biểu lộ được ý chí. Người đại diện lúc đó sẽ có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc có tiếp tục chữa trị cho bệnh nhân hay không.

Thứ hai, chủ thể có quyền này phải là người đã thành niên và đang chịu sự đau đớn kéo dài do bệnh tật, tai nạn bởi mục đích của quyền này là giúp người bệnh được kết thúc cuộc sống một cách nhanh nhất theo mong muốn.

Thứ ba, quyền này có thể được thực hiện thông qua chính người đó hoặc người đại diện.

3.      Các tiêu chí để thực hiện quyền được chết

a.    Tiêu chí y học: Việc xác định bệnh nhân nào có thể tiến hành quyền được chết hiện nay còn gây nhiều tranh cãi bởi hiện nay y học chứng kiến rất nhiều loại bệnh với nhiều tình trạng bệnh khác nhau. Tuy nhiên, giới y học đều thống nhất có 2 dạng bệnh nhân: những trường hợp chết não và trường hợp bệnh nhân mất ý thức kéo dài và không có khả năng hồi phục.

b.    Tiêu chí về pháp luật: cần phải xác định rõ rằng, hành vi của quyền được chết phải là hành vi hợp pháp được quy định trong luật pháp. Bác sỹ thực hiện hành vi của quyền được chết hoàn toàn dựa trên yêu cầu của bệnh nhân và theo những quy trình nghiêm ngặt do luật định. Như vậy, quyền được chết phải là quyền không bị cấm hay được cho phép thì việc thực hiện nó mới hoàn toàn hợp pháp. [7]

c.    Cách thức thực hiện trong y học gồm:

-         Chủ động: bác sỹ trực tiếp gây tử vong theo yêu cầu của bệnh nhân

-         Thụ động: bác sỹ không điều trị, ngừng mọi biện pháp kéo dài sự sống đối với bệnh nhân hoặc bác sỹ chỉ cho cách để chết và đó chỉ là sự tư vấn, người bệnh hoặc người đại diện tự rút ống dẫn…

4.      Thực trạng pháp luật về quyền được chết

Hiện nay trên thế giới, trong số hơn 200 quốc gia chỉ có một số ít nước cho phép trợ tử bệnh nhân là Bỉ, Luxembourg và Hà Lan. Riêng tại Mỹ, luật pháp cho phép bệnh nhân tự nguyện dừng điều trị để tự tìm đến cái chết nhưng cấm mọi người khác gợi ý, kê đơn hoặc cung cấp phương tiện cho họ tự sát.

Hà Lan được coi là nước đầu tiên áp dụng Luật về “cái chết êm ả”. Tháng 11 năm 2000, Hạ viện Hà Lan đã thông qua dự thảo Luật An tử. Đến ngày 10/04/2001, Thượng viện Hà Lan đã bỏ phiếu thông qua đạo luật này. Theo điều tra toàn quốc cho thấy gần 90% người dân nước này ủng hộ đạo Luật an tử vì nó đảm bảo quyền cá nhân của công dân. Năm 2006, Hà Lan còn cho phép an tử đối với trẻ em, trẻ sơ sinh mắc bệnh nặng không thể cứu chữa. Bỉ cũng chấp thuận thông qua Luật về quyền được chết vào ngày 16/05/2002.

Tại Mỹ, Luật liên bang cấm thực hiện quyền được chết hay cái chết êm ả, tuy nhiên bang Oregon là bang đầu tiên từ năm 1994 cho phép bệnh nhân yêu cầu được chết, nhưng Tòa án bang đã chống lại việc thực thi điều luật này, mãi đến năm 1997 Tòa án tối cao của bang này đã chấp nhận. Năm 1999, bang Texas cũng cho phép an tử. Đến hết năm 2006, cả 50 bang của Mỹ đã có đạo luật cho phép bệnh nhân ở trong một số điều kiện nhất định được xin chết. [7]

Năm 2014, tòa án tỉnh Quebec của Canada từng cho phép trợ tử nhưng năm 2015, tòa án tối cao của nước này đã bác bỏ phán quyết cho luật này vì cho rằng nó vi phạm điều 7 trong Hiến chương về quyền và tự do và điều 14 Luật hình sự theo đó nghiêm cấm mọi hành vi tước đoạt mạng sống của người khác mà không có phán quyết của tòa án. [15]

Tại Việt Nam, quyền được chết còn khá mới mẻ, trong cả năm bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) đều không quy định cá nhân có quyền được chết. Bộ Luật Dân sự của nước ta cũng không quy định quyền được chết là quyền nhân thân của cá nhân. Trong quá trình xây dựng Bộ Luật dân sự 2005, đã có lúc vấn đề này được đưa ra bàn luận, tuy nhiên điều này đã gây ra nhiều tranh cãi trong các cuộc họp của Quốc hội cũng như trong dư luận xã hội. Do đó, mà đề xuất này đã không được thông qua.

Có thể nói, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xem hành vi thực hiện quyền được chết là có tội, tuy rằng có nước không xử phạt hay ngầm chấp nhận nhưng lại không hợp pháp hóa quyền được chết.

5.      Ý nghĩa và hậu quả của quyền được chết

a.      Ý nghĩa

Về mặt pháp lý: khi quyền được chết còn chưa được công nhận thì những tranh luật pháp lý sẽ vẫn còn kéo dài, nhiều vụ việc liên quan đến quyền được chết dễ rơi vào bế tắc hoặc được xét xử không đúng với bản chất của vụ án do có sự nhầm lẫn giữa cái chết êm ả và những hành vi khác.

Về mặt xã hội: Quyền được chết còn được nhìn nhận là cái chết nhân đạo khi mà sự sống của con người không còn được đảm bảo nữa hoặc sự sống của họ kéo dài trong đau đớn thì việc thực hiện quyền được chết có ý nghĩa rất tốt đẹp. Điều này không chỉ đem lại sự thanh thản cho chủ thể thực hiện quyền mà đối với cả gia đình và xã hội.

b.      Hậu quả

Hậu quả về pháp luật: Luật an tử trong một số trường hợp có thể là công cụ tiếp tay cho hành vi giết người có chủ đích. Một số trường hợp sẽ lợi dụng quyền được chết và sơ hở của pháp luật để tiến hành giết người, gian lận trong bảo hiểm mà không sợ bị pháp luật trừng trị.

Hậu quả về y tế: Những kỳ tích trong y tế là điều chúng ta đã từng chứng kiến trong thực tế, do đó khi thực hiện quyền được chết thì bệnh nhân không còn cơ hội chữa trị sau này nữa, đó sẽ là vô tình giết hại một sinh mạng. Hoặc có trường hợp bác sỹ chuẩn đoán sai bệnh của bệnh nhân, nếu áp dụng quyền được chết cũng sẽ là vô tình giết người. Hơn nữa, việc thi hành quyền trợ tử cũng sẽ dẫn tới nhiều bệnh nhân không còn muốn đấu tranh với tật bệnh hoặc lựa chọn cái chết để giảm thiểu chi phí điều trị…

Hậu quả về mặt tâm lý xã hội: Việc ký cam kết vào giấy an tử đối với người bệnh sẽ để lại tâm lý nặng nề đối với những người còn sống. Đối với y bác sỹ việc tiến hành trợ tử cũng tạo ra những hệ quả tâm lý bởi lương tâm nghề nghiệp, lương tâm con người không cho phép.

III.    Phân biệt tự tử và quyền được chết

1.      Đặc điểm chung

Có thể nói tự tử và quyền được chết đều có một đặc điểm chung dễ nhận thấy nhất đó chính là việc các cá nhân tự tìm đến cái chết một cách chủ động. Không bàn tới nguyên nhân dẫn đến hành vi tự tử hay việc thực hiện cái chết êm ả thì cả hai việc làm này đều được tiến hành từ ý chí chủ quan của chính bản thân chủ thể.

Việc thực hiện hành vi tự tử và quyền được chết như vậy đều giống nhau ở chủ thể của người thực hiện, bên cạnh đó, nó cũng giống nhau ở kết quả của hành động. Cả việc tự tử và quyền được chết thì chủ thể đó đều biết hoặc tin rằng hành vi đó sẽ dẫn đến cái chết mà vẫn làm.

Cũng cần lưu ý một điểm chung nữa là tính tích cực của hành vi tự tử và quyền được chết. Tính tích cực của quyền được chết thì đã thấy rõ, nhưng liệu rằng hành vi tự tử có tính tích cực hay không thì câu trả lời là có, bởi: như đã phân tích ở trên, tự tử được phân thành 4 loại, trong đó tự tử vị tha trong một số trường hợp lại thể hiện tính tích cực một cách rõ nét. Khi các cá nhân tự tử, xả thân vì mục tiêu của nhóm, cộng đồng. Ví dụ như trường hợp của hòa thượng Thích Quảng Đức đã tẩm xăng tự thiêu vào năm 1963 ở một ngã tư đông đúc ở Sài Gòn nhằm phản đối chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Hành động này sau đó đã tạo ra tiếng vang dư luận quốc tế rất lớn, gây ra sức ép với chính quyền của ông Ngô Đình Diệm buộc ông này phải có những chính sách thay đổi trong cách đối xử với giới Phật tử. Đây có thể coi là một trong nhưng điển hình của hành vi tự tử có tính tích cực.  

2.      Đặc điểm riêng

Điều khác biệt đầu tiên giữa tự tử và quyền được chết thể hiện ở độ tuổi của chủ thể. Chủ thể của hành vi thực hiện quyền được chết này đa phần là người đã thành niên, một số quốc gia có Luật An tử còn quy định rõ độ tuổi thực hiện quyền này phải là người đã thành niên. Còn về độ tuổi của tự tử hầu như không giới hạn từ trẻ vị thành niên đến người cao tuổi.

Thứ hai, là điều kiện để thực hiện: quyền được chết chỉ được thực hiện khi tình trạng sức khỏe của chủ thể rơi vào trạng thái vô phương cứu chữa. Việc thực hiện quyền này là để giúp cho người bệnh có thể kết thúc cuộc sống một cách nhanh nhất có thể nhằm giảm đau đớn theo sự mong muốn của họ.

Còn về tự tử, chủ thể tiến hành hành vi này bên cạnh nguyên nhân là mắc bệnh hiểm nghèo dẫn đến quẫn bách về tinh thần từ đó đi đến quyết định kết thúc cuộc sống của mình, thì đa phần những nguyên nhân dẫn đến tự tử đều không phải do những yếu tố về tình trạng sức khỏe nguy kịch. Điều kiện để tự tử như vậy thực ra có thể nói là không có điều kiện ràng buộc mà nguyên nhân sâu xa là do những tác động từ sự hòa nhập và điều hòa xã hội của các cá nhân.

Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến việc thực hiện quyền được chết và tự tử hầu như hoàn toàn khác nhau. Nếu nguyên nhân để quyền được chết được thực thi là vì tình trạng sức khỏe quá yếu do bệnh tật hoặc tai nạn của chủ thể, thì tự tử nguyên nhân của nó lại khác nhau trong từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, theo như đã phân tích ở trên thì từ các nguyên nhân đơn lẻ của từng cá thể, Durkheim đã chỉ ra hai nguyên nhân được xem là bao quát nhất là do sự hòa nhập xã hội và điều hòa xã hội. Như vậy, có thể thấy quyền được chết và tự tử giống nhau là do chủ thể quyết định nhưng khác nhau căn bản ở chỗ hành vi tự tử của các cá nhân không chỉ đơn thuần là quyết định của từng người mà nó chịu tác động rất lớn từ các yếu tố xã hội. Còn quyền được chết có thể nói được thực hiện từ chính ý thức chủ quan của chủ thể mà hầu như không chịu tác động của các yếu tố về xã hội. Cá nhân thực hiện quyền này như một quyền nhân thân chính đáng của mình dưới sự quy định của luật pháp mà không chịu sự tác động nào từ những sức ép, biến đổi của từ xã hội.  

Thứ tư, về cách thức thực hiện: với quyền được chết được thực hiện bởi chính bác sỹ hoặc chính bệnh nhân nhưng dưới sự trợ giúp của bác sỹ. Cách thức thực hiện quyền được chết thường sử dụng các biện pháp của y học như dừng các bệnh pháp điều trị, sử dụng thuốc hoặc rút ống thở… Với tự tử, việc thực hiện đa số được tiến hành bởi chính bản thân chủ thể và hiếm khi có sự trở giúp từ bên ngoài, thông qua nhiều cách thức khác nhau: sử dụng dao, súng, thuốc, treo cổ, nhảy lầu… Nếu các bác sỹ thực hiện quyền được chết cho bệnh nhân được luật pháp bảo hộ thì việc trợ giúp hay xúi giục người khác tự sát (tại Việt Nam theo điều 101 Bộ Luật Hình sự năm 1999) được coi là có tội và bị luật pháp trừng phạt.

Như vậy, có thể thấy, quyền được chết và tự tử về cơ bản là khác nhau nhưng cũng có những điểm chung nhất định. Căn cứ trên những điểm chung và riêng này có thể giúp chúng ta phân biệt được đâu là hành vi được xem là có tội và bị lên án với việc làm nhân đạo là giúp con người được chết một cách thanh thản và nhẹ nhàng. Dựa trên những căn cứ này cũng sẽ giúp các nhà khoa học có hướng đi rõ ràng hơn trong nghiên cứu về tự tử cũng như nghiên cứu về quyền được chết, từ đó có những gợi ý về mặt chính sách để sớm có những biện pháp về mặt luật pháp với việc chấp nhận quyền này.

IV.              Kết luận

Bối cảnh biến đổi xã hội diễn ra trên khắp thế giới trong đó có Việt Nam trong những năm gần đây với những đặc trưng rõ nét nhất là sự thay đổi của nền kinh tế và các hệ giá trị xã hội. Tuy nhiên, đi đôi với cơ hội có được từ sự biến đổi xã hội còn là những khó khăn, thách thức mà cả hầu hết các quốc gia đang phải đối mặt, như: sự lệch lạc xã hội, mâu thuẫn về lợi ích, giá trị… Tất cả những khó khăn, thách thức đó đã, đang và sẽ tiếp tục làm gia tăng tỷ lệ tự tử, đặc biệt là ở nhóm tuổi thanh thiếu niên. Vì thế, tự tử không còn là vấn đề của riêng các cá nhân mà nó đã trở thành vấn đề của xã hội cần được nghiên cứu để có những can thiệp sớm nhằm hạn chế tỷ lệ này, đặc biệt ở một số quốc gia phát triển với tỷ lệ tự tử cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc… Với Việt Nam, tự tử cũng đang bắt đầu trở thành vấn đề thách thức với xã hội cần được quan tâm thích đáng hơn nữa để tỷ lệ này không tăng lên trong thời gian tới.

Cùng chung trong bối cảnh đó, việc ra đời và thực thi quyền được chết tại một số quốc gia đã đáp ứng được nhu cầu về quyền nhân thân cho các cá nhân khi rơi vào tình trạng bệnh tật, tai nạn nặng nề không thể cứu chữa. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia còn lại thì quyền này vẫn chưa được chấp nhận bởi nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau do những quy định, chuẩn mực về tín ngưỡng, văn hóa, quyền được sống…

Từ hai vấn đề trên, bài viết không cố gắng đi vào việc phân tích nên hay không nên có quyền được chết trong luật pháp, việc đó xin dành cho các nhà làm luật, nhà nghiên cứu luật đưa ra quan điểm tranh luận của mình, hay đi phê phán việc tự tử của các cá nhân là tốt hay xấu, bài viết chỉ tập trung đưa ra những quan điểm lý luận cơ bản nhất về tự tử và quyền được chết để nhằm cung cấp cho người đọc những thông tin khoa học về hai vấn đề vốn được xem là khá nặng nề, nhạy cảm và khó nghiên cứu trong xã hội hiện nay. Đồng thời, bài viết cũng muốn nhấn mạnh rằng hành vi tự tử không nên chỉ được xem xét là việc của từng cá nhân đơn lẻ mà cần nhìn nó là vấn đề xã hội và các nhà nghiên cứu, tư vấn, các cơ quan truyền thông nên vào cuộc để hạn chế sự gia tăng của nó. Hơn nữa, qua việc phân tích sự giống và khác nhau giữa tự tử và quyền được chết cũng giúp cho mọi người phân biệt rõ hơn việc trợ tử và tự tử, từ đó hạn chế việc lo ngại việc ra quyền được chết được chấp nhận hay ra đời luật an tử sẽ bị lợi dụng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tài liệu tham khảo

Tài liệu trong nước

1.      Cao Tiến Đức (2007), Tự sát – Một vấn đề cần quan tâm, Tạp chí Thông tin Y dược, số 12.

2.      Lâm Đức Hùng (1976), Một số nhận xét bước đầu qua 24 bệnh nhân tâm thần chết bằng tự sát (1968 – 1974), Tạp chí Thông tin Y học chuyên đề tâm thần học.

3.      Trần Thị Thanh Hương và cộng sự (2004), Mối liên quan giữa một số yếu tố văn hóa, xã hội và ý tưởng tự tử tại cộng đồng dân cư quận Đống Đa, Hà Nội, Tạp chí nghiên cứu Y học, số 2.

4.      Nguyễn Hữu Kỳ (1996), Nghiên cứu các nhân tố ngoại lai, tâm lý và tâm thần ở người toan tự sát, Luận án Phó tiến sỹ Y dược, Đại học Y Hà Nội.

5.      Đỗ Kim Lan (1996), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và một số ý kiến thúc đẩy hành vi tự sát ở bệnh nhân tâm thần, Luận án chuyên khoa cấp. Học viện Quân y.

6.      Đỗ Văn Quân (2009), Hiện tượng tự tử trong thanh thiếu niên ở Việt Nam hiện nay qua góc nhìn báo chí, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 1.

7.      Trương Hồng Quang (2009). Bàn về quyền được chết và vấn đề luật an tử ở Việt Nam. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6.

8.      Nguyễn Phương Thảo (2006), Giới và hành vi tự tử của thanh niên, Tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 3.

9.      Nguyễn Viết Thiêm và cộng sự (2009), Tự sát và các biện pháp phòng chống, NXB Y học. 

10. Phạm Bá Thịnh (1993), Rút kinh nghiệm qua các trường hợp tử vong do tự tử ở bệnh viện tâm thần Biên Hòa, Bệnh viện tâm thần Biên Hòa, Nội san số 5.

11. Hoàng Gia Trang và cộng sự (2001), Nạn nhân tự tử và bạo hành trong gia đình (Những chân dung phác thảo), Đề tài cấp Bộ, Viện Xã hội học.

12. Hoàng Gia Trang (2002), Mâu thuẫn gia đình và tự tử trong thanh thiếu niên nông thôn, Tạp chí Khoa học về Phụ nữ, số 3.

13. Cao Văn Tuấn (1997), Nhận xét các nhân tố nguy cơ toan tự sát ở thanh thiếu niên, Luận văn thạc sỹ Bác sỹ đa khoa, Đại học Y Hà Nội.

14. Tổng cục thống kê, Bộ Y Tế, Trung Ương Đoàn (2006 và 2008), Điều tra Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam.

15. http://vi.wikipedia.org/wiki/Quyền_được_chết

 

Tài liệu nước ngoài

16. E. Durkheim (1951), Suicide. Copyright 1951 by the Free Press, A Corporation. Printed in the United States of America by American Book – Knickerbocker Press, New York.

17. Hawton-K, Fagg-J, Platt-S, Hawkins-M (1993), Factors associated with suicide after parasuicide in young people, University Department of Psychiatry, Warneford Hospital, Oxford. BMJ, 1993 Jun 19.

18. Isacsson – G, Holmgren – P, Wasserman – D, Bergman- U (1994), Use of antidepressants among people commiting suicide in Sweden, Department of Clinical Neuroscience and Family Medicine, Kazolinska Institute, Huddinge University Hospital, Sweden. BMJ, 1994 Feb 19.

19. Quan Dang Hien Mai (2012), A test of Durkheim’s long – standing theory of suicide. Case study of South Korea. Vanderbilt University.

20. WHO (1993), Guidelines for the primary prevention of mental, neurological and psychosocial disorders. Part 4: Suicide.

21. WHO (1993), Báo cáo số 46.

22. http://www.who.int/en/, Suicide and Suicide prevention in Asia,

23. http://www.who.int/en/, Suicide prevention: Emerging from Darkness.

24. http://www.who.int/en/, Guidelines for the primary prevention of mental, neurological and psychosocial disorders.

 

 

 

 

 


* Viện nghiên cứu Con người