Sinh hoạt khoa học: "Chỉ số phát triển con người Việt Nam"

26/10/2015

Sáng ngày 22 tháng 10, đồng chí Nguyễn Văn Tiền – cán bộ Trung tâm Phân tích và Dự báo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, đã đến Viện Nghiên cứu Con người trình bày một số vấn đề cơ bản về chỉ số phát triển con người Việt Nam. Tại buổi sinh hoạt khoa học, diễn giả đã giới thiệu về cách tính chỉ số phát triển con người cũ và mới, cách tính chỉ số nghèo khổ cũ và mới, đồng thời, trình bày số liệu chi tiết về các chỉ số này của Việt Nam.

1. Về chỉ số phát triển con người HDI, đây là chỉ số được Mahbub ul Huq và Amatya Sen đưa ra vào năm 1990 nhằm chỉ số hóa sự phát triển con người trên ba lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế thành một đơn vị (có giá trị từ 0-1) có thể được sử dụng để so sánh giữa các quốc gia. Chỉ số HDI lúc đầu được đo lường thông qua một số chỉ báo như: tuổi thọ, tỷ lệ nhập học các cấp và tỷ lệ người lớn biết chữ, GDP bình quân đầu người. Tuy nhiên, do xã hội ngày càng phát triển và khả năng thu thập số liệu ngày càng tốt hơn, người ta thấy rằng các chỉ số cũ không đo lường hết được sự phát triển con người. Do đó, năm 2010, có một số sự điều chỉnh trong cách tính toán chỉ số HDI, bao gồm sự thay đổi về chỉ báo đo lường,  cách tính toán các chỉ số thành phần và công thức tính.

Thứ nhất, về chỉ báo đo lường, chỉ số thu nhập GDP trong cách tính cũ đã được thay thế bằng chỉ số GNI bởi người ta thấy rằng chỉ số này phán ánh đúng hơn mức thu nhập của người Việt Nam. Chỉ số giáo dục trong cách tính mới bao gồm số năm đi học kỳ vọng và số năm đi học trung bình của người lớn. Theo diễn giả, sự thay đổi trong cách tính chỉ số giáo dục giúp phản ánh tốt hơn sự phát triển của giáo dục. Những số liệu sẵn có cũng giúp cho việc có thể tính toán, đo lường sự phát triển giáo dục. Đối với các nước tiên tiến, số năm đi học trung bình là khoảng 15 năm (gần bằng với giá trị 1 – giá trị tối đa), trong khi đó, số năm đi học trung bình của Việt Nam khoảng 6 năm (tương đương với giá trị khoảng 0.3).

Thứ hai, về cách tính các chỉ số thành phần, mặc dù công thức tính không thay đổi nhưng có sự thay đổi các giá trị quan sát của công thức. Cụ thể, đối với chỉ số tuổi thọ, theo cách tính cũ thì giá trị quan sát tối đa là 85 và giá trị quan sát tối thiểu là 25 (năm) thì trong cách tính mới, giá trị quan sát tối thiểu được điều chỉnh là 20 (năm). Số năm đi học kỳ vọng có giá trị quan sát tối đa và tối thiểu lần lượt là 18 và 0 (năm); số năm học trung bình của người lớn có giá trị quan sát tối đa và tối thiểu lần lượt là 15 và  0 (năm). Chỉ số thu nhập GNI có giá trị quan sát tối đa là 75000 và giá trị quan sát tối thiểu là 100 (USD PPP).

Ngoài việc thay đổi đối với một số chỉ báo thành phần trong HDI, diễn giả còn giới thiệu sự thay đổi trong công thức tính đối với chỉ số HDI. Nếu theo cách tính HDI cũ, giá trị của chỉ số sẽ được tính bằng trung bình cộng của ba chỉ số thành phần giáo dục, thu nhập và y tế thì trong cách tính mới, giá trị của chỉ số được tính bằng trung bình nhân của ba chỉ số thành phần. Theo diễn giả, cách tính mới này phản ánh tốt hơn sự phát triển con người, theo đó, nếu không có sự phát triển đồng đều trên ba lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế (tức là độ chênh lệch giữa các chỉ số thành phần cao) thì sẽ làm giảm giá trị của chỉ số HDI. Bên cạnh việc trình bày sự thay đổi trong cách tính toán, diễn giả cũng giới thiệu sự thay đổi về giá trị HDI và các chỉ tiêu thành phần trong HDI của Việt Nam giai đọan 1999 – 2012 và so sánh sự khác biệt của giá trị chỉ số HDI Việt Nam trong cách tính cũ và mới.

2. Về chỉ số nghèo khổ, trước đây UNDP sử dụng chỉ số nghèo con người (Human Poverty Index – HDP) thì bây giờ được thay thế bằng chỉ số Nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index – MPI). Mặc dù MPI đo lường các chiều cạnh giống như HPI nhưng các chỉ tiêu thành phần của MPI có sự thay đổi. Chỉ số MPI toàn cầu đo lường 3 chiều cạnh và thông qua 10 chỉ số. Cụ thể, chiều cạnh sức khỏe được đo lường qua các chỉ tiêu về tỷ lệ tử vong trẻ em và dinh dưỡng; chiều cạnh giáo dục được đo lường qua các chỉ tiêu  về số năm đi học và trẻ em đi học; chiều cạnh điều kiện sống được đo lường qua chỉ tiêu về điện, nước sạch, vệ sinh, sàn nhà, chất đốt, tài sản. Trong khi đó, đối với Việt Nam, dựa trên số liệu điều tra mức sống dân cư và nhằm mục đích so sánh được giữa các tỉnh thành, khu vực, các vùng miền và các nhóm trong nước, Việt Nam tính toán chỉ số MPI qua 5 chiều cạnh và 9 chỉ số. Cụ thể, (1) chiều cạnh sức khỏe được phản ánh qua tỷ lệ có bảo hiểm y tế; (2) chiều cạnh chiều cạnh giáo dục phản ánh qua các chỉ tiêu số năm đi học, trẻ em đi học; (3) chiều cạnh nhà ở phản ánh qua chất lượng nhà ở và diện tích trung bình; (4) chiều cạnh nước sạch và vệ sinh phản ánh qua chỉ số về sử dụng nước sạch và nhà vệ sinh; (5) chiều cạnh tiếp cận thông tin phản ánh qua chỉ số tài sản để tiếp cận dịch vụ truyền thông như điện thoại hoặc internet và tài sản để tiếp cận thông tin như tivi, đài, máy tính.

Về mặt công thức, chỉ số MPI được đo lường bằng tích của hai đại lượng là tỷ lệ nghèo đếm đầu (H - tỷ lệ số người nghèo đa chiều trong tổng dân số) và mức độ nghèo (A – phản ánh tỷ lệ của các chỉ tiêu thành phần có trọng số, trong đó có tính trung bình những người nghèo bị thiếu thốn). Diễn giả cũng giới thiệu số liệu về chỉ số MPI của Việt Nam theo cách tính toàn cầu và cách tính Việt Nam.

Tại buổi sinh hoạt, các cán bộ trong viện đã sôi nổi đặt ra nhiều câu hỏi cho diễn giả cũng như chia sẻ kinh nghiệm, hiểu biết liên quan đến chỉ số HDI. Có thể thấy, nội dung được trình bày tại buổi sinh hoạt khoa học rất hữu ích, giúp cho người nghe hiểu được rõ hơn về cách tính toán chỉ số HDI, MPI và các chỉ số thành phần của chúng, từ đó, giúp nâng cao khả năng phân tích sự phát triển con người qua các chỉ số này.

Vũ Thanh

Một số hình ảnh: