Sinh hoạt khoa học: “Kinh tế Thế giới và Việt Nam 2013, dự báo 2014” do TS. Lê Đăng Doanh trình bày

03/03/2014

Ngày 17 tháng 2 năm 2014 tại Hội trường Viện Nghiên cứu Con người diễn ra  buổi báo cáo của TS. Lê Đăng Doanh (Viện Quản lý Kinh tế Trung Ương) với chủ đề “Kinh tế Thế giới và Việt Nam 2013, dự báo 2014: Cơ hội và thách thức” trước toàn thể cán bộ của Viện Nghiên cứu Con người. Báo cáo của TS. Lê Đăng Doanh rất bổ ích đối với cán bộ nghiên cứu của Viện vì có ý nghĩa cả về khoa học và thực tiễn với người nghe. Báo cáo đã cung cấp bức tranh toàn cảnh về nền kinh tế thế giới, kinh tế khu vực và kinh tế Việt Nam trong những năm qua và chỉ ra những cơ hội và thách thức đối với kinh tế Việt Nam hiện nay.

Phần đầu, TS.Lê Đăng Doanh trình bày bối cảnh kinh tế thế giới trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21 với những thay đổi rõ rệt: tương quan địa- chính trị (Mỹ, Trung Quốc, Châu Âu); những thay đổi về khí hậu, tài nguyên đối với môi trường; khủng hoảng lương thực, ảnh hưởng tới sức khỏe con người v.v... Những thay đổi đó vừa tạo ra sự đa dạng cho phát triển, vừa đặt ra rủi ro cho kinh tế toàn cầu. Tác giả đã phân tích cụ thể của từng nước để thấy được cục diện kinh tế thế giới hiện nay phát triển như thế nào. Ví dụ nền kinh tế Trung Quốc trong những năm qua đã có những bước phát triển nổi bật nhưng đó không phải là bước tăng trưởng bền vững vì Trung Quốc hiện nay đang gặp phải những khó khăn về lương thực, về vấn đề nợ xấu ngoại tệ. Tác giả cũng chỉ ra một số nền kinh tế đầu tàu thế giới đã có bước hồi phục trong đó nổi bật là Nhật Bản. Nhật Bản là nước chịu tác động tiêu cực từ kinh tế thế giới và tác động xấu của môi trường nhưng họ đã  áp dụng đúng tinh thần “dân tộc chủ nghĩa” để vực nền kinh tế của mình.

Bối cảnh kinh tế thế giới nêu trên vừa tạo ra cơ hội nhưng cũng là thách thức không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam. Nếu chúng ta không nắm bắt được cơ hội của sự vận động đó thì sẽ khó phát triển nền kinh tế. TS. Lê Đăng Doanh cũng chỉ ra năm yêu cầu đối với nền kinh tế Việt Nam hiện nay: Nền kinh tế phải có tính chịu đựng; Nền kinh tế phải bền vững trong tăng trưởng thay vì tốc độ tăng trưởng cao, phá hoại môi trường (Ví dụ TQ); Nền kinh tế phải sáng tạo vì sáng tạo là động lực để phát triển; Nền kinh tế phải công bằng và bao dung đối với tất cả các tầng lớp xã hội; Nền kinh tế phải có năng lực cạnh tranh được nâng lên, trước hết là thông qua cải cách thể chế, chính sách, khoa học- công nghệ. Nếu như năm yêu cầu này đối với nền kinh tế được thực hiện một cách đồng  bộ và khoa học thì khi đó sẽ thúc đẩy sự phát triển. Bởi Việt Nam đã có những cơ hội nhất định đối với phát triển như đã tham gia vào TPP, WTO. Tuy nhiên khi vào các tổ chức thương mại này chúng ta cũng cần phải phát huy thế mạnh nào mà mình có thể cạnh tranh được, còn cái gì không cạnh tranh được thì mình có thể không cho vào chiến lược của phát triển. Tác giả làm rõ lập luận này khi phân tích cụ thể một số ngành như: dệt may, nông nghiệp.

Bên cạnh những cơ hội, Việt Nam cũng gặp những thách thức không nhỏ đối với phát triển kinh tế: Dân số vàng nhưng lao động không có; Kinh tế Việt Nam đang trong thời kỳ lạm phát, tăng trưởng giảm; Dịch vụ có tăng nhưng chỉ tăng chút ít, xây dựng và nông nghiệp giảm, nợ doanh nghiệp nhà nước v.v... Việt Nam phải giải quyết được các vấn đề trên mới có thể phát triển được. Nguyên nhân của những thách thức này cũng được TS. Lê Đăng Doanh chỉ ra chính là do thể chế quyết. Thể chế có thể ngăn cản khoa học- công nghệ và vốn con người vì cách mạng khoa học công nghệ, vốn con người không thể đem lại sự thịnh vượng nếu như không có cải cách thể chế, nếu như không có pháp luật về sở hữu trí tuệ, không có quyền tự do sáng tạo thì không khuyến khích phát triển.

Báo cáo của TS. Lê Đăng Doanh đã thu hút cán bộ nghiên cứu của Viện vì phát triển kinh tế là một trong những thành tố cấu thành của chỉ số phát triển con người. Các cán bộ tham dự đã thảo luận sổi nổi xoay quanh vấn đề phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và đặc biệt là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với phát triển con người.

Nguyễn Thị Nga