Sinh hoạt khoa học: “Quan hệ Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (INGOs) ở Việt Nam trong lĩnh vực phát triển” (State Relations in Vietnam: Who leads development?).

13/11/2009
Sáng 29 tháng 10 năm 2009 tại Hội trường Viện Nghiên cứu Con người, Thạc sỹ Lê Thị Đan Dung - cán bộ nghiên cứu Phòng Nguồn lực con người đã  báo cáo nội dung Luận văn Thạc sỹ thực hiện tại Đại học Macquarie (Úc) với đề tài: “Quan hệ Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (INGOs) ở Việt Nam trong lĩnh vực phát triển” (State Relations in Vietnam: Who leads development?).

            Sáng 29 tháng 10 năm 2009 tại Hội trường Viện Nghiên cứu Con người, Thạc sỹ Lê Thị Đan Dung - cán bộ nghiên cứu Phòng Nguồn lực con người đã  báo cáo nội dung Luận văn Thạc sỹ thực hiện tại Đại học Macquarie (Úc) với đề tài: “Quan hệ Nhà nước và các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (INGOs) ở Việt Nam trong lĩnh vực phát triển” (State Relations in Vietnam: Who leads development?).

            Báo cáo trình bày vấn đề tính hiệu quả (được cho là) của các tổ chức INGOs (Tổ chức phi chính phủ) hiện đang hoạt động tại Việt Nam thông qua các nghiên cứu trường hợp được tiến hành với 5 INGOs hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em tại Việt Nam. Câu hỏi nghiên cứu mà tác giả đặt ra là: Chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực điều hành và ảnh hưởng đến các hoạt động của INGOs như thế nào? Làm thế nào INGOs tự biểu hiện trong các môi trường chính trị và văn hóa? Làm thế nào họ tăng cường giá trị cho các dự án hoạt động  để có thể gây ảnh hưởng tới chính sách của Nhà nước và các quy định về hướng phát triển? Quyền tự chủ và kiểm soát có thể được dung hòa trong xây dựng các mô hình của sự hợp tác trong phát triển hay không? Từ định hướng nghiên cứu đó, tác giả đã thực hiện 23 cuộc phỏng vấn sâu với các nhân viên INGOs, nhân viên trong các bộ, ngành Chính phủ và tổ chức UNICEF (16 cuộc từ 5 INGOs: 4 là ngoại kiều và 12 Việt; 5 từ 2 cơ quan Chính phủ và 2 từ UNICEF). Tác giả cho rằng, các INGOs đã có những đóng góp đáng kể trong việc cải thiện tình hình trẻ em ở Việt Nam ở các lĩnh vực giáo dục, sức khỏe và dinh dưỡng, bảo vệ và chăm sóc trẻ em thông qua cung cấp các dịch vụ cơ bản, đào tạo, nâng cao năng lực cho cán bộ làm việc trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc trẻ em ở địa phương, đề xuất sự thay đổi chính sách liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và thiệt thòi, nâng cao nhận thức cho người dân về quyền trẻ em. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động của các INGOs vẫn có nhiều vấn đề trong hoạt động: các dự án của INGOs vẫn chưa tiếp cận được đến những người nghèo nhất trong số những người nghèo, thiếu tính bền vững (khi thực hiện xong dự án thì không có một hình thức nào để tiếp tục duy trì, dẫn đến sự chồng chéo các dự án của INGOs khác nhau trên cùng một địa bàn), thiếu sự hiểu biết về văn hóa và đặc thù địa phương dẫn đến một số mô hình triển khai không hiệu quả, v.v… Trong mối quan hệ với Nhà nước, các INGOs đã thường xuyên kết hợp với các bộ, ngành để triển khai các dự án của mình và thông qua đó nhằm tác động vào việc thay đổi chính sách liên quan đến trẻ em. Tuy nhiên, các INGOs ở Việt Nam vẫn ít nhận được sự hỗ trợ từ Nhà nước, cụ thể như tình trạng chồng chéo dự án ở một số địa phương do việc tư vấn các dự án chưa được thực hiện đồng bộ, các dự án nhiều khi chưa thật sự lồng ghép vào trong các chương trình phát triển của quốc gia, khi thực hiện các dự án tại địa phương thì việc kết hợp với các tổ chức cơ sở như Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi,… - vốn không hoàn toàn là các tổ chức dân sự đã làm cho các dự án của INGOs bị chi phối, cụ thể như việc rải ngân của các dự án được coi trọng hơn là lợi ích của cộng đồng. Ở đây cũng phải nói tới vấn đề lợi ích của chính INGOs, báo cáo viên đã lấy Dự án phát triển trẻ em ở Móng Cái - Quảng Ninh làm ví dụ minh họa, vì các bậc phụ huynh cho rằng con họ cần phải dành thời gian cho học tập nên đã không cho trẻ tham gia, thay vì có những phương án tác động nhằm thay đổi nhận thức thì INGOs lại đi tìm địa bàn mới. Bên cạnh đó, việc chia sẻ thông tin và kinh nghiệm cũng còn hạn chế dẫn đến việc các dự án thành công ít được nhân ra và triển khai trên diện rộng. Cuối cùng, báo cáo viên đã đưa ra 2 kết luận khá hữu ích từ Luận văn của mình: (1) Nhà nước Việt Nam hoan nghênh sự đóng góp của INGOs để cải thiện điều kiện sống của trẻ em nhưng yêu cầu họ không được tái phân bổ hỗ trợ phát triển từ Chính phủ. (2) INGOs tại Việt Nam luôn chọn cách “dung hòa” với Nhà nước Việt Nam - tức là chọn giải pháp điều hòa.

           Báo cáo khoa học đã nhận được sự thảo luận, góp ý rất thiết thực của các cán bộ trong Viện. Các góp ý tập trung vào phân tích những lợi ích của INGOs và những lợi ích chung của quốc gia nhằm đưa ra khung hợp tác hợp lý giữa hai bên, tạo ra văn hóa quản lý cần thiết để hoạt động của các INGOs có hiệu quả thiết thực hơn đối với cộng đồng.

Nguyễn Thị Thắm