Sinh hoạt khoa học: “Trí tuệ cảm xúc (Emotional Inteligence - EI)-Nghiên cứu và ứng dụng ở nước ngoài và Việt Nam”

19/03/2008
Ngày 13/3/2008, tại buổi sinh hoạt khoa học của Viện nghiên Con người, PGS.TS Nguyễn Huy Tú - Giảng viên cao cấp của ĐHSP đã có dịp chia sẻ với các cán bộ của Viện về nghiên cứu: “Trí tuệ cảm xúc (Emotional Inteligence - EI)-Nghiên cứu và ứng dụng ở nước ngoài và Việt Nam”.PGS.TS. Nguyễn Huy Tú cho biết từ năm 1900-1969 trí tuệ và xúc cảm thường đươc nghiên cứu tách biệt. Phải đến những năm 1970 -1989 các nhà tâm lý học mới tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng giữa xúc cảm và trí tuệ. Từ năm 1990-1994 trí tuệ cảm xúc nổi lên như một chủ điểm nghiên cứu của tâm lý học. Khái niệm trí tuệ cảm xúc trở nên phổ biến từ năm 1995 và hiện tại các nhà tâm lý học đang nghiên cứu để làm sáng tỏ về loại trí tuệ này .

Ngày 13/3/2008, tại buổi sinh hoạt khoa học của Viện nghiên Con người, PGS.TS Nguyễn Huy Tú - Giảng viên cao cấp của ĐHSP đã có dịp chia sẻ với các cán bộ của Viện về nghiên cứu: “Trí tuệ cảm xúc (Emotional Inteligence - EI)-Nghiên cứu và ứng dụng ở nước ngoài và Việt Nam”.PGS.TS. Nguyễn Huy Tú cho biết từ năm 1900-1969 trí tuệ và xúc cảm thường đươc nghiên cứu tách biệt. Phải đến những năm 1970 -1989 các nhà tâm lý học mới tập trung nghiên cứu về ảnh hưởng giữa xúc cảm và trí tuệ. Từ năm 1990-1994 trí tuệ cảm xúc nổi lên như một chủ điểm nghiên cứu của tâm lý học. Khái niệm trí tuệ cảm xúc trở nên phổ biến từ năm 1995 và hiện tại các nhà tâm lý học đang nghiên cứu để làm sáng tỏ về loại trí tuệ này .

Trong bài trình bày, PGS. Nguyễn Huy Tú đề cập tới các mô hình lý thuyết về EI và các phương pháp đo lường EI trong đó có Mô hình EI thuần năng lực của J. Mayer và Salovey (1990); Mô hình EI thuần năng lực được chỉnh sửa của Mayer và Salovey (1997); Mô hình EI hỗn hợp của Bar-on “Mô hình trí tuệ xã hội và xúc cảm”. Hiện nay, có hai phương pháp đo lường EI: các test EI – Emotional Intelligence Test (EIT) và các thang tự đánh giá EI – Emotional Intelligence Scale (EIS). Đến nay, EIT nổi bật nhất và thông dụng nhất là MSCEIT và MEIS. Hội nghị khoa học về EI sau 15 năm kết luận rằng có 3 hướng nghiên cứu EI chủ yếu: (1) Hướng nghiên cứu phổ biến khoa học với những đóng góp lớn của Daniel Goleman; (2) Những nghiên cứu khoa học có tính hàn lâm nghiêm ngặt về EI của John Mayer và Peter Salovey và cộng sự những người đầu tiên đưa khái niệm EI đến với những nghiên cứu khoa học về EI mang tính học thuật chặt chẽ, và (3) Những nghiên cứu ứng dụng khái niệm EI vào các hoạt động giáo dục hoạt động tổ chức - quản lý, kinh doanh 

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu EI là rất cần thiết bởi các nhu cầu thực tiễn về kinh tế - xã hội và giáo dục. Tuy nhiên, theo PGS. Tú, đội ngũ nghiên cứu EI còn quá yếu về số lượng và chất lượng. Các nhà nghiên cứu mới chủ yếu tiếp xúc với tài liệu phổ biến khoa học về EI của Daniel Goleman mà chưa tiếp cận được một cách cơ bản đến lý thuyết khoa học về EI cũng như ít am hiểu về các phương pháp đo lường EI. Ngoài ra, cho tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có cơ sở đào tạo nào giảng dạy về EI. Thực tế này đòi hỏi định hướng rõ ràng cho hoạt động nghiên cứu EI ở Việt Nam trong thời gian tới 

Nghiên cứu của PGS. TS Nguyễn Huy đã thu hút được sự quan tâm của các cán bộ Viện Nghiên cứu Con người. Nhiều thảo luận, câu hỏi được đặt ra xoay quanh tính ứng dụng của các nghiên cứu về EI vào các hoạt động kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ hiện nay