Sinh hoạt khoa học: “An sinh xã hội ở Việt Nam trong mối quan hệ với phát triển con người: thực trạng và định hướng phát triển”

14/03/2016

Sáng ngày 14 tháng 3 năm 2016, tại hội trường Viện Nghiên cứu con người diễn ra buổi sinh hoạt khoa học “An sinh xã hội ở Việt Nam trong mối quan hệ với phát triển con người: thực trạng và định hướng phát triển” do TS. Nguyễn Hữu Dũng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu An sinh xã hội và phát triển hòa nhập trình bày.

Bài trình bày gồm ba phần: tổng quan nhận thức cơ bản về an sinh xã hội (ASXH) ở Việt Nam; khái quát thực trạng về thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống ASXH Việt Nam trong thời gian tới.

Phát triển hệ thống ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng cho mọi thành viên trong cộng đồng trong trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau – gọi là những “rủi ro xã hội”. Diễn giả nhấn mạnh lý thuyết về “Rủi ro xã hội” là lý thuyết rất cơ bản là cơ sở lý luận của hệ thống ASXH. Bên cạnh đó, diễn giả cũng giới thiệu và phân tích về một số khái niệm về ASXH của các tổ chức khác nhau như ILO, WB, ADB; cũng như quan niệm của các tổ chức Liên hợp quốc, ESCAP, ASEAN về các trụ cột của ASXH. Tóm lại, Hệ thống ASXH với khái niệm rộng, bao gồm:

- Chính sách thị trường LĐ và Việc làm.

- Chính sách Bảo hiểm Xã hội, BHYT.

- Xóa đói, giảm nghèo.

- Chính sách Trợ giúp xã hội.

- Sàn an sinh xã hội (WHO & ILO) (y tế, nước sạch và vệ sinh, giáo dục, thực phẩm, nhà ở, thông tin, cứu trợ người và tài sản).

- Chương trình lưới an toàn XH (có tính tạm thời).

An sinh xã hội có mối quan hệ với phát triển con người (PTCN). Thực hiện các chính sách về An sinh xã hội chính là góp phần thúc đẩy phát triển con người. Theo tác giả, ASXH hướng vào mục tiêu PTCN, vì con người, do con người, của con người; đầu tư cho ASXH là đầu tư cho con người và PTCN. ASXH dựa trên cơ sở quyền con người, đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người về ASXH. ASXH hướng tới bao phủ toàn dân, ưu tiên nhóm người nghèo, yếu thế, dễ bị tổn thương, đồng bào dân tộc thiểu số…

Diễn giả giới thiệu một số mô hình ASXH và xu hướng lựa chọn trên thế giới. Nhìn chung xu hướng đó là:

- Lựa chọn mô hình hệ thống ASXH hoàn chỉnh và hiệu quả, kết hợp nêu cao trách nhiệm của :cá nhân + cộng đồng + nhà nước.

- Đó là  một hệ thống chính sách ASXH đa tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ lẫn nhau, đảm bảo phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục được các rủi ro xã hội cho mọi người, không một ai bị gạt ra bên lề xã hội (không bị loại trừ xã hội).

- Kết hợp tăng trưởng kinh tế và đảm bảo ASXH để tạo sự gắn kết xã hội.

- Chính sách ASXH tiếp cận dựa trên quyền con người và đảm bảo chuẩn mức sống tối thiểu tiếp cận đa chiều.

- Xây dựng Hệ thống ASXH theo vòng đời.

- Xây dựng Khung chiến lược về ASXH với tầm nhìn dài hạn.

- Đầu tư cho ASXH như là một khoản đầu tư cho con người và phát triển con người, đầu tư cho phát triển.

Trước Đại hội IX Việt Nam chưa chính thức sử dụng khái niệm ASXH (nhưng vẫn có các chính sách về ASXH). Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng ở ĐH IX và phát triển lên ở các kỳ đại hội X, XI. Đại hội XII đã cụ thể hóa những vấn đề trong Hiến pháp 2013 (Điều 34 và 59). Đặc biệt Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 01-6-2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2020 đã nêu rõ: Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng”. Trước những quan tâm của Đảng và nhà nước về vấn đề này, Việt Nam đã đạt được một số thành tựu nhất định về ASXH; hệ thống chính sách ASXH là một thể thống nhất và các chính sách ASXH ngày càng hoàn chỉnh  Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn tại và thách thức: Thiếu tính hệ thống, chưa đa dạng, đa tầng và hỗ trợ nhau; tỷ lệ thất nghiệp thành thị ở lao động trẻ (15-34 tuổi) rất cao gấp 3 lần tỷ lệ chung; rất nghiêm trọng. Trong nông thôn tình trạng thiếu việc làm; tỷ lệ hộ thoát nghèo thấp và chậm đần (khoảng 1,5%/năm), có 70-80% nằm sát chuẩn nghèo;  vùng dân tộc thiểu số có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%; nhất là ở xã đặc biệt khó khăn, có khi tới 70%. Hàng năm số người phải cứu tế đột xuất từ 1 đến 1,5 triệu người; tỷ lệ tái đói nghèo khoảng 7-10%; sự phân cực giàu nghèo ngày càng tăng. Năm 2014 - 2015 mức chênh lệch nhóm 5 so với nhóm 1 là 9,8 lần; Trợ cấp về ASXH từ NSNN rất thấp, không đủ sống; Hệ thống lưới an toàn xã hội chưa được hoàn chỉnh; độ bao phủ thấp, nhất là BHXH mới chiếm 20,25% lực lượng lao động. v.v..

Để hoàn thiện hệ thống ASXH theo diễn giả cần phải đặt ASXH trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế xã hội và phù hợp với khả năng của nền kinh tế; Xây dựng hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt và có thể hỗ trợ lẫn nhau, không loại trừ xã hội; các chính sách ASXH cần có trọng tâm, trọng điểm, đặc biệt chú ý nhóm trẻ em nghèo, người nghèo, người khuyết tật nặng, người cao tuổi không có thu nhập, đồng bào dân tộc thiểu số…Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và mọi công dân. và phải có tính hội nhập phù hợp với điều kiện đất nước và thế giới. Diễn giả cũng đưa ra mô hình hệ thống an sinh xã hội cơ bản nhất cho Việt Nam hiện nay. Mô hình này đảm bảo các tiêu chí về phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục được rủi ro; có sự tiếp thu các mô hình quốc tế và các yếu tố có sự gắn kết hỗ trợ nhau.

Những thông tin được TS. Nguyễn Hữu Dũng trình bày và chia sẻ đã cung cấp cho các nhà nghiên cứu  một bức tranh khá bao quát về tình hình an sinh xã hội ở Việt Nam và đặc biệt là định hướng phát triển trong thời gian tới. Những thông tin này đã nhận được sự quan tâm của các cán bộ tham dự, nhiều ý kiến trao đổi, nhấn mạnh cho thấy an sinh xã hội thực sự có mối quan hệ mật thiết với phát triển con người thể hiện không chỉ ở khía cạnh thu nhập, việc làm. Thực hiện các chính sách ASXH cũng chính là đảm bảo quyền con người. Hệ thống ASXH ở Việt Nam cần phải đáp ứng chuẩn quốc gia và một số chuẩn quốc tế tối thiểu; cần có lộ trình để tiếp cận ngày một nhiều hơn các chuẩn quốc tế.

Lê Thu Hà