Sinh hoạt khoa học: Tộc người và phát triển ở Việt Nam

02/12/2015

Sáng ngày 01 tháng 12 năm 2015, tại Hội trường Viện Nghiên cứu Con người đã diễn ra buổi báo cáo khoa học với chủ đề “Tộc người và phát triển ở Việt Nam” do PGS. TS. Vương Xuân Tình – Viện trưởng Viện Dân tộc học trình bày. Tham dự buổi sinh hoạt có lãnh đạo Viện Nghiên cứu Con người, cùng đông đảo các cán bộ nghiên cứu của Viện.

Có thể nói vấn đề tộc người và phát triển tộc người ở Việt Nam luôn mang tính thời sự. Vậy những đặc điểm tộc người/văn hóa tộc người có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển của cá nhân/gia đình/cộng đồng của tộc người đó trong điều kiện kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế? Nội dung trình bày của diễn giả tập trung vào các vấn đề: khác biệt giữa nhân học và nghiên cứu con người; dân tộc học/nhân học và nghiên cứu phát triển; đôi nét về các tộc người ở Việt Nam; văn hóa và phát triển của các tộc người ở Việt Nam.

Đầu tiên, diễn giả đi trình bày sự khác biệt giữa dân tộc học/nhân học với nghiên cứu con người. Theo diễn giả, sự khác biệt đó cần được giải trình bằng “trách nhiệm lịch sử”. Bài viết đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 1&2 năm 2015 đã giải quyết tận gốc vấn đề đó. Năm 1999, Viện Nghiên cứu con người được thành lập với tên gọi tiếng anh là Institute of Human Studies. Tiếp đó, năm 2001, cuốn sách: Nghiên cứu con người: Đối tượng và những hướng chủ yếu (Niên giám nghiên cứu số 1), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội do Phạm Minh Hạc, Hồ Sĩ Quý (Chủ biên) đã chuyển dịch thuật ngữ “Anthropology” [Nhân học/ Nhân loại học] là “Nghiên cứu con người” và khẳng định “Nhân học là nghiên cứu con người”. Đồng thời, trình bày tổng quan Nghiên cứu con người đồng nghĩa với việc tổng quan nghiên cứu về Anthropology. Cùng chung trong bối cảnh đó, từ năm 2000, ngành Dân tộc học Việt Nam bắt đầu thảo luận và xây dựng đề án để tách khỏi Sử học, phát triển theo hướng Nhân học (Anthropology). Đồng thời, Viện dân tộc học cũng thực hiện đổi tên tiếng anh, từ Institute of Ethnology = Institute of  Anthropology. Song song với đó là đổi tên tiếng Anh của Tạp chí Dân tộc học = Anthropology Review. Và Hội Dân tộc học Việt Nam đổi tên thành: Hội Dân tộc học và Nhân học Việt Nam. Các bộ môn Dân tộc học của Khoa Lịch sử ở hai trường Đại học KHXHNV (Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh) tách ra thành Khoa Nhân học.  

Nghiên cứu Con người và nghiên cứu dân tộc học/nhân học có sự khác biệt rõ rệt thể hiện ở tên gọi, đối tượng nghiên cứu, loại hình khoa học cũng như lý thuyết và phương pháp tiếp cận nghiên cứu. Song cả hai ngành khoa học này đều có những đóng góp nhất định trong nghiên cứu, đặc biệt là nghiên cứu phát triển. Trong 15 năm qua, cả nghiên cứu dân tộc học/nhân học và nghiên cứu con người đều đã đạt được những thành tựu nhất định.

Việt Nam là một quốc gia không chỉ đa dạng về thành phần dân tộc mà trong đó còn bao gồm nhiều nhóm địa phương. Tuy nhiên, dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 15% dân số so với dân tộc đa số là dân tộc Kinh. Trong nhóm dân tộc thiểu số lại có sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa, thậm chí có những nhóm địa phương còn không hiểu ngôn ngữ của nhau do quá trình di cư và nguồn gốc lịch sử tộc người để lại. Mỗi dân tộc lại có sự khác biệt về địa bàn cư trú và quy mô dân số. Trong thời đại ngày nay, quá trình xen cư ngày càng gia tăng đã làm tăng thêm tính đa dạng của nền văn hóa các dân tộc. Bên cạnh đó, các dân tộc còn có sự khác biệt trong thang bậc phát triển kinh tế xã hội được thể hiện thông qua thang đo trong phát triển kinh tế hàng hóa và giữa các dân tộc với nhau. Không những vậy, còn có sự khác biệt về cộng đồng dân tộc và tôn giáo.

Khi nhìn nhận về văn hóa và sự phát triển của các tộc người, có sự xung đột về mặt lý thuyết. Thuyết tiến hóa cho rằng, văn hóa và sự phát triển của các tộc người gắn với lý thuyết phát triển của các hình thái xã hội, gắn với vấn đề được xem là tiến bộ hay lạc hậu. Tuy nhiên, lý thuyết tương đối văn hóa lại có sự nhìn nhận khác, cho rằng, các nền văn hóa có giá trị như nhau, không có văn hóa cao và văn hóa thấp và khi đánh giá một nền văn hóa cần phải đặt trong một bối cảnh cụ thể. Diễn giả khẳng định rằng, không nên coi trọng hoặc xem nhẹ bất cứ lý thuyết nào mà nên gắn nó với một vấn đề nghiên cứu cụ thể để xem xét.

Ở Việt nam hiện nay, quan điểm về phát triển của các tộc người luôn gắn với phát triển kinh tế xã hội; các chủ trương thực hiện chính sách dân tộc, chương trình phát triển nông thôn mới cũng như gắn với xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam theo nghị quyết TW9, khóa XI. Bên cạnh đó, cần ưu tiên các vấn đề về xóa đói giảm nghèo, làm giàu của các dân tộc, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người và đại đoàn kết dân tộc. Mặc dầu vậy, bên cạnh sự phát triển nói chung, thì có dân tộc có ưu thế trội hơn trong quá trình phát triển thì ngược lại có dân tộc khó khăn trong quá trình phát triển. Điều đó xuất phát từ nguyên nhân do đặc điểm lịch sử, truyền thống phát triển cũng như điều kiện sinh sống của từng tộc người.

Mỗi dân tộc đều có những nét văn hóa riêng của mình trong quá trình phát triển. Lợi ích của văn hóa mang lại không những làm tăng nguồn thu nhập thông qua du lịch văn hóa, đồ thủ công…mà còn giúp bảo vệ môi trường và góp phần làm ổn định trật tự xã hội. Song bên cạnh đó, văn hóa tộc người cũng biểu hiện những mặt hạn chế trong quá trình phát triển, đó là tạo ra nếp sống tự cung tự cấp khó chuyển đổi. Nó tạo ra lực cản trong quá trình chuyển sang sản xuất kinh doanh, tâm lý thiếu tính toán cũng như dễ bị lừa lọc và bóc lột dẫn tới nợ nần triền miên và thân phận làm thuê suốt đời. Bên cạnh đó, tồn tại những tập tục không còn phù hợp với điều kiện phát triển mới như tập tục trái pháp luật và tập tục phi khoa học.

Sinh hoạt khoa học đã nhận được nhiều câu hỏi, ý kiến thảo luận có giá trị của các nhà nghiên cứu trong Viện bởi đây là chủ đề gần gũi và có ý nghĩa thiết thực. Sự phát triển của các tộc người, các nhóm cộng đồng và văn hóa của các dân tộc đều hướng tới việc phát triển con người nhằm góp phần phát triển kinh tế và giữ vững an ninh chính trị xã hội.

Nguyễn Thị Huệ