Vai trò cña An sinh xã hội với phát triển con người

07/04/2020

Đảm bảo ASXH sẽ góp phần thúc đẩy phát triển con người

Nhà kinh tế học và xã hội học người Anh, H.Berverdidge cho rằng, ASXH là sự đảm bảo về việc làm khi người ta còn sức làm việc và đảm bảo một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa (xem: Nguyễn Văn Định, 2008). Mặt khác, việc làm là động lực căn bản thúc đẩy phát triển con người thông qua việc tạo thu nhập, an ninh, trao quyền, tham gia và tiếng nói, phẩm giá và sự thừa nhận (World Bank, 2012; UNDP 2015; UNDP và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2016). Những cải cách của chính sách thị trường lao động – một trong những trụ cột cơ bản của hệ thống ASXH ở Việt Nam đã dẫn tới số việc làm được tạo ra ngày càng nhiều. Trong giai đoạn 1991 - 2001 cả nước đã tạo việc làm mới cho khoảng 12 triệu người; giai đoạn 2001 - 2005 là 6,5 triệu người, giai đoạn 2006 – 2010 là khoảng 7,2 triệu người và giai đoạn 2011 – 2015 là 7,8 triệu người[1]. Việc làm không chỉ đem lại thu nhập cho người lao động mà còn giúp cho họ thực hiện nghĩa vụ công dân, đó là đóng góp phần thuế của mình vào ngân sách nhà nước. Đến lượt mình, ngân sách nhà nước phát triển ASXH thông qua việc tạo việc làm cho người dân. Quá trình này thể hiện mối quan hệ biện chứng, tạo thế xoáy chôn ốc cho sự phát triển con người (Phạm Hương Trà, Phạm Trần Thăng Long, 2016). Vì vậy, việc làm là bảo hiểm tốt nhất trước nghèo đói và tình trạng dễ bị tổn thương của con người. Ngược lại, ASXH sẽ bị đe dọa nếu con người thiếu việc làm, thất nghiệp hoặc lao động không được trả công. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh sinh kế của con người và làm giảm phát triển con người.

Nghèo đói được coi là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người của mỗi quốc gia hay mỗi cộng đồng (Nguyễn Đình Tuấn, 2014). Hay nói cách khác, giảm nghèo góp phần phát triển con người. Theo ADB, ASXH là các chính sách, chương trình giảm nghèo và giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với tình trạng suy giảm hoặc mất thu nhập (Xem: Phạm Hương Trà, Phạm Trần Thăng Long, 2016). Điều đó nói lên rằng, ASXH và phát triển con người có ý nghĩa và giá trị khi công tác giảm nghèo được thực hiện triệt để. Trong những năm qua, cùng với các chính sách tạo cơ hội tiếp cận các nguồn lực cho người nghèo[2] của Nhà nước kết hợp với sự vào cuộc của các cấp chính quyền địa phương, công tác giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng ghi nhận. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước đã giảm từ 14,2% năm 2010 xuống dưới 4,5% vào năm 2015, bình quân giảm 2%/năm (Bộ Ngoại giao, 2017:36). Chương trình hỗ trợ giảm nghèo bền vững của Nhà nước đối với hơn 60 huyện đặc biệt khó khăn (với trên 50% số hộ nghèo) thì đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện này giảm xuống còn 28%[3]. Thu nhập bình quân đầu người hộ nghèo năm 2020 dự kiến tăng 3,5 lần so với năm 2010. Tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,5-2%/năm, riêng các huyện, xã có tỷ lệ nghèo cao giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo của từng giai đoạn (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2013).

Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế là hai chính sách lớn và được xem là cốt lõi của hệ thống ASXH. Đồng thời, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng bao trùm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2016). Trên cơ sở đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội, là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động…(Luật bảo hiểm xã hội, 2014). Bảo hiểm y tế là tờ giấy thông hành của người dân giúp họ tiếp cận với các dịch vụ y tế cơ bản, điều này có nghĩa họ đang thực hiện quyền được chăm sóc sức khỏe của mình. Nói một cách cụ thể, chăm sóc y tế cho con người nhằm mục đích hướng tới một cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và trường thọ. Đó cũng chính là quan điểm phát triển con người của UNDP. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, số người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ 4,8 triệu người năm 2001 tăng lên 12 triệu người năm 2015; số người tham gia bảo hiểm y tế các loại từ 11,34 triệu người năm 2001 tăng lên 69 triệu người năm 2015, bằng khoảng 75% dân số cả nước[4]. Ngoài ra, các chính sách trợ giúp xã hội không chỉ góp phần nâng cao vị thế con người, mà còn giúp con người cải thiện được cuộc sống, từ đó góp phần thúc đẩy phát triển con người.

ASXH thể hiện quyền cơ bản của con người, đảm bảo cho không ai bị bỏ lại phía sau và giúp con người thụ hưởng đầy đủ hơn các thành quả của phát triển.

Phát triển hệ thống ASXH là đảm bảo cho việc thực hiện ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản của con người. Thật vậy, mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an sinh[5] gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả… gọi chung là những biến cố và những “rủi ro xã hội”[6]. Do đó, ASXH đảm bảo quyền sống tối thiểu của con người[7]. Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc đảm bảo sự đoàn kết, chia sẻ và tương trợ cộng đồng đối với các rủi ro trong đời sống, do đó có tác dụng thúc đẩy sự đồng thuận, bình đẳng và thực hiện công bằng xã hội. Bên cạnh đó, thông qua các tác động tích cực của công tác chăm sóc sức khỏe, an toàn thu nhập và các dịch vụ xã hội cơ bản khác giúp cho con người nâng cao được thể chất và năng lực của mình. Như vậy, chính sách ASXH là chính sách vì con người (Phạm Hương Trà, Phạm Trần Thăng Long, 2016). Thiếu ASXH làm con người dễ bị tổn thương bởi bệnh tật, nghèo đói, bất bình đẳng và bị tách rời khỏi xã hội[8].

Hệ thống ASXH thúc đẩy việc làm bền vững (Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2013). Ở chiều ngược lại, việc làm giúp người lao động có lưới an sinh tốt hơn và do đó góp phần đảm bảo tăng trưởng bao trùm (UNDP và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 2015). Việc làm là động lực căn bản thúc đẩy phát triển con người, đồng thời là điều kiện để con người thụ hưởng thành quả của phát triển (Lê Thị Đan Dung, Nguyễn Thị Huệ, 2017). Điều đó cho thấy, thông qua việc làm, ASXH và phát triển con người xích lại gần nhau hơn.  Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra được thu nhập hay nói cách khác là có việc làm bền vững. Trái lại, trong rất nhiều trường hợp khó khăn, rủi ro, tai nạn có thể xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống cần thiết khác. Để tránh những rủi ro đó, “sàn an sinh xã hội[9]” ra đời. Nó không chỉ giúp đảm bảo quyền con người mà còn giúp con người tồn tại. Do đó, với “sàn an sinh xã hội” thì ngay cả đối với những nhóm xã hội đặc thù như nhóm người dễ bị tổn thương, nhóm di dân, khuyết tật…đều có cơ hội được đảm bảo cuộc sống tối thiểu, hay nói cách khác, không ai bị bỏ lại phía sau.

Một hệ thống ASXH được thiết kế hiệu quả có thể tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được phát triển độc lập, chủ động và nhiều cơ hội đầu tư tốt hơn cho tương lai. Ngày nay, các chỉ số ASXH đều là những chỉ số rất quan trọng gắn với phát triển con người như: tình trạng sức khỏe, giáo dục, thu nhập, nhà ở, tuổi thọ, tầm vóc...(Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2013). Vì vậy, có thể nói, ASXH luôn hướng con người tới việc được thụ hưởng tốt nhất các thành quả của phát triển. Ngược lại, phát triển con người sẽ mở rộng cơ hội lựa chọn và nâng cao năng lực của con người trong việc thụ hưởng các thành quả đó.

Nguyễn Thị Huệ

 

Tài liệu tham khảo

Bộ Ngoại giao (2017), Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam, Hà Nội

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Luật bảo hiểm xã hội, ngày 20/11/2014

Lê Thị Đan Dung, Nguyễn Thị Huệ (2017), Một số vấn đề lý luận về quan hệ việc làm và phát triển con người cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 6(93)

Phạm Hương Trà, Phạm Trần Thăng Long (2016), ASXH một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội.

Nguyễn Đình Tuấn (2014), Nghiên cứu phát triển con người: Quan điểm, xu hướng và gợi mở, Tạp chí Nghiên cứu con người, số 1

UNDP (2015), Tổng quan báo cáo phát triển con người năm 2015: Việc làm vì phát triển con người.

UNDP, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (2016), Tăng trưởng vì mọi người: báo cáo phát triển con người Việt Nam năm 2015 về tăng trưởng bao trùm, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2013), Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020, Hà Nội

World Bank (2012) World Development Report: Job. Washington DC: The World Bank

 

 


[1] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2016/41201/An-sinh-xa-hoi-va-cong-bang-xa-hoi-trong-nen-kinh.aspx

[2] Chính sách giáo dục vì người nghèo, chính sách hỗ trợ đất đai cho người nghèo, chính sách hỗ trợ kỹ thuật sản suất, cách thức làm ăn cho người nghèo, chính sách trợ cấp cho người nghèo

[3] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2016/41201/An-sinh-xa-hoi-va-cong-bang-xa-hoi-trong-nen-kinh.aspx

[4] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2016/41201/An-sinh-xa-hoi-va-cong-bang-xa-hoi-trong-nen-kinh.aspx

[5] Lưới an sinh (an toàn) xã hội là tập hợp các dịch vụ do nhà nước hoặc tổ chức xã hội cung cấp cho người nghèo hoặc người dễ bị tổn thương trước các cú sốc nhằm giảm nguy cơ rơi vào nghèo đói và duy trì mức sống tối thiểu. Lưới an sinh xã hội bao gồm: trợ cấp xã hội (thường xuyên, đột xuất), chương trình việc làm công, nhà ở xã hội, và đôi khi là các dịch vụ được bao cấp như giao thông công cộng. (Giz, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2011, tr42).

[6] http://ilssa.org.vn/vi/news/linh-vuc-an-sinh-xa-hoi-113

[7] quyền sống tối thiểu của con người, bao gồm các quyền về ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe, học tập…đã được Liên Hiệp quốc quy định tại các điều 22, 25, và 26 của Hiến chương Liên hiệp Quốc năm 1948, điều 10, 11 tại Công ước về Quyền Kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), 1966.

[8]https://www.ilo.org/hanoi/Informationresources/Publicinformation/newsitems/WCMS_607477/lang--vi/index.htm

[9] Sàn an sinh xã hội là một tập hợp cơ bản các quyền, dịch vụ, và nguồn lực xã hội mà mọi người dân phải được hưởng. Theo đề xuất của Liên Hợp Quốc, sàn an sinh xã hội bao gồm hai cấu phần chính giúp thực hiện các quyền con người: (1) Dịch vụ: sự tiếp cận cả về mặt địa lý và tài chính đến các dịch vụ thiết yếu như nước sạch và vệ sinh môi trường, sức khỏe và giáo dục; (2) Trợ cấp: một tập hợp các trợ cấp xã hội cơ bản bằng tiền mặt hoặc hiện vật nhằm đảm bảo mức thu nhập tối thiểu và sự tiếp cận đến các dịch vụ thiết yếu, gồm cả dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Giz, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, 2011, tr59)