Thu hẹp khoảng cách giới trong quá trình sống

07/04/2020

 

          Những lựa chọn và cơ hội của con người, từ nhỏ đến lớn, được tính trong cả quá trình sống. Để phá bỏ các rào cản về bất bình đẳng đòi hỏi chúng ta phải xem xét toàn bộ chu trình sống. Trẻ em không được tiếp cận với giáo dục có thể học kém hiệu quả sau đó. Thanh niên có trình độ học vấn hạn chế phải chịu thất nghiệp hoặc chấp nhận những việc làm không chính thức, điều này dẫn đến hệ lụy về già thu nhập không đủ sống. Những người già có thể phải hứng chịu bệnh tật và mất khả năng lao động do lao động thể lực vất vả trong quá khứ hoặc thiếu điều kiện chăm sóc sức khỏe.

          Các báo cáo phát triển con người gần đây đã tập trung vào khoảng cách về năng lực và cơ hội giữa nam và nữ từ trẻ đến già. Điều này cung cấp một cái nhìn toàn diện hơn về khoảng cách giới được tính qua quá trình sống như thế nào, giúp xác định các vấn đề vướng mắc, và tập trung vào việc cần thiết phải có các chiến lược can thiệp toàn diện để đạt được bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái.

          Thứ nhất, các số liệu về giáo dục chỉ ra rằng một số khoảng cách về giới trong những năm đầu tính toán đang dần được thu hẹp. Kể từ những tiến bộ đáng ghi nhận những năm 1990 đã cho thấy cần thiết phải cân bằng số trẻ em trai và trẻ em gái được đi học trên toàn cầu và ở tất cả các khu vực. Đây là một phần trong Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG 3) tập trung vào việc cân bằng số lượng trẻ em trai và trẻ em gái được đến trường, đưa ra chính sách chú trọng đến vai trò của giáo dục trong việc trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái. Trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, tỷ lệ trẻ em trai học ở bậc trung học cao hơn trẻ em gái khoảng 15%. Hiện nay, tỷ lệ này chỉ chênh lệch khoảng 1%. Thực tế cho thấy tỷ lệ học sinh nữ ở bậc giáo dục đại học còn cao hơn học sinh nam 11%. Tiến bộ này quả thực đáng được ghi nhận nhưng không nên quá thỏa mãn vì vẫn còn những khoảng cách, ví dụ như về kết quả học tập. Cách biệt về số lượng nam và nữ trong Chương trình Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học (STEM), khoảng cách lớn với tỷ lệ nam tốt nghiệp đại học về toán, công nghệ, kỹ thuật và xây dựng gấp đôi nữ.

          Thứ hai, mặc dù khoảng cách về giáo dục đang dần thu hẹp nhưng bất bình đẳng giữa nam và nữ trong suốt giai đoạn trưởng thành vẫn còn khá lớn. Ví dụ, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nam cao hơn 54% so với nữ - một tỷ lệ không thay đổi từ năm 1990; cao gấp 2,7 lần trong hoạt động kinh doanh và tham gia hoạt động chính trị; và cao hơn 3,5 lần trong quốc hội. Hiện nay, một gánh nặng không cân xứng được đặt lên vai người phụ nữ với những công việc không được trả lương trong gia đình – phụ nữ phải thực hiện những công việc chăm sóc cao gấp 3,1 lần nam giới. Tỷ lệ trung bình toàn cầu thậm chí cao hơn ở một số khu vực. Chính sách quan tâm đến việc thay đổi các tiêu chuẩn xã hội, những tiêu chuẩn đã hướng phụ nữ vào công việc nhà và đàn ông hướng vào những công việc được trả lương, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa hai giới. Không khuyến khích tảo hôn, cung cấp các dịch vụ chăm sóc người già và trẻ nhỏ, khuyến khích vai trò của người chồng, người cha và nam giới trong những công việc không được trả lương trong gia đình, thay đổi sự phân biệt về công việc được trả lương đối với phụ nữ, là những khởi đầu quan trọng để tạo nên sân chơi bình đẳng ở giai đoạn trưởng thành. Thực vậy, Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) đã có cách tiếp cận rộng mở hơn Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) trong việc trao quyền cho phụ nữ, tập trung trước tiên vào sự bình đẳng trong giáo dục, và tạo thế cân bằng trong việc gia tăng sự quan tâm về mặt chính sách đối với nhiều rào cản còn tồn tại về bình đẳng giới.

          Thứ ba, phụ nữ cao tuổi phải đối mặt với nhiều khó khăn được ước tính ngày càng nhiều. Họ cần được quan tâm hơn nữa. Phụ nữ trên 60 tuổi được kỳ vọng sống thọ hơn nam giới trung bình là 3 năm. Nhưng sau nhiều năm phải thực hiện những công việc chăm sóc không được trả lương, hoặc làm những công việc bán thời gian hoặc công việc không chính thức, phụ nữ vẫn phải nhận lương thấp hơn nam giới. Tỷ lệ nam giới nhận lương hưu cao hơn 10% so với nữ mặc dù ở nhiều quốc gia cả nam và nữ đều được nhận lương hưu như nhau. Chỉ 6 trong số 41 quốc gia có trình độ phát triển con người thấp có báo cáo số liệu về lương hưu, trong số này trung bình chỉ 17% nam giới và 11% nữ giới có lương hưu. Trong số những phụ nữ có lương hưu, lương hưu của họ ít hơn nhiều so với nam giới vì có thể họ có số năm làm việc ít hơn, và/hoặc ở mức lương thấp hơn. Trường hợp này cũng giống như ở các nước phát triển và các nước đang phát triển. Các nhà kinh tế cho biết trong Liên minh châu Âu phụ nữ nghỉ hưu nhận mức lương hưu trung bình thấp hơn 39% mức lương của nam giới.

          Khoảng cách giới tồn tại ở tất cả các giai đoạn của quá trình sống và sự quan tâm về mặt chính sách ở tất cả các giai đoạn này đều rất quan trọng. Việc thu hẹp khoảng cách giới và trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái để đạt được Mục tiêu Phát triển Bền vững số 5 cần phải được đặc biệt chú trọng trong suốt quá trình trưởng thành. Dự báo đến năm 2050, tỷ lệ dân số trên 60 tuổi sẽ tăng gấp đôi. Khoảng cách giới về trợ giúp tài chính cho tuổi già sẽ làm trầm trọng thêm tỷ lệ nghèo đói ở phụ nữ cao tuổi. Vì vậy, cần có những chính sách quan tâm đặc biệt đến nhóm đối tượng này.

          Sự quan tâm về mặt chính sách trong suốt quá trình sống có thể bắt đầu với việc tập trung vào những vấn đề như: 1) đảm bảo chất lượng giáo dục cho trẻ em gái và khuyến khích sự tham gia vào chương trình STEM; 2) bình đẳng về cơ hội cho phụ nữ đi làm và cân bằng những công việc không được trả lương giữa nam và nữ; và 3) mở rộng quyền lựa chọn lương hưu cho phụ nữ để giảm tỷ lệ nghèo đói ở người cao tuổi.

Quỳnh Anh (lược thuật)

Tài liệu tham khảo:

Astra Bonini, Yu Chieh Hsu. Closing gender gaps throughout the life course. (http://www.hdr.undp.org/en/content/closing-gender-gaps-throughout-life-course)